Đặc điểm ngôn ngữ văn bản hành chính sử dụng trong ngành giao thông (theo quan điểm phân tích diễn ngôn - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC


NGUYỄN THỊ HIỀN

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VĂN BẢN HÀNH CHÍNH
SỬ DỤNG TRONG NGÀNH GIAO THÔNG
(THEO QUAN ĐIỂM PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 01 Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐẠT
chính nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc thiết lập các mối quan hệ
giữa các cá nhân, các đơn vị với nhau. Có thể thấy một điều rằng, xã hội ngày
càng phát triển thì vai trò của các văn bản hành chính ngày càng lớn. Các giao
dịch giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với nhân
dân đều lấy văn bản hành chính làm sợi dây liên lạc. Mọi hoạt động của các
cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội từ lĩnh vực kinh tế đến lĩnh vực chính trị
đều được điều hành thông qua các loại văn bản này. Do đó, soạn thảo và xử lý
văn bản có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống nói chung và trong mỗi
ngành nghề nói riêng. Hiện nay, vai trò đó ngày càng được nâng cao hơn do
nhu cầu phát triển của công tác quản lý xã hội. Điều đó càng cho thấy rằng
việc rèn luyện kỹ năng soạn thảo và xử lý văn bản đối với người Việt nói
chung đòi hỏi cần được quan tâm.

2
Tuy nhiên, những nghiên cứu đó chỉ tập trung văn những văn bản
hành chính pháp quy còn việc nghiên cứu công văn hành chính (CVHC) -
một loại hình văn bản hành chính thuộc loại văn bản hành chính phi pháp
quy - với tư cách là đối tượng nghiên cứu của phân tích diễn ngôn vẫn chưa
được quan tâm. Là một loại hình văn bản, ngôn ngữ trong CVHC có những
đặc điểm của ngôn ngữ văn bản nói chung. Nhưng nó cũng có những đặc
điểm khác biệt. Và việc nghiên cứu các CVHC dưới góc độ phân tích diễn
ngôn còn chưa có vị trí thích đáng.
Khi chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm ngôn ngữ văn bản hành chính
ngành giao thông (theo quan điểm phân tích diễn ngôn) với đối tượng
nghiên cứu chính là các CVHC ngành giao thông, chúng tôi mong muốn góp
phần làm sáng tỏ lý thuyết về phân tích diễn ngôn đồng thời góp phần làm
phong phú thêm phần thực hành cho công tác soạn thảo văn bản hành chính.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn hướng vào việc khảo sát đặc trưng ngôn ngữ của các CVHC

- Miêu tả cấu trúc hình thức của các CVHC với tư cách là diễn ngôn
hành chính phi pháp quy.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Theo GS. Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Các phương pháp
nghiên cứu ngôn ngữ”, ngôn ngữ học có hai phương pháp nghiên cứu chính là
phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh. Trong luận văn này, phương
pháp nghiên cứu chính mà chúng tôi đã sử dụng là phương pháp miêu tả. Cụ
thể chúng tôi đã sử dụng những thủ pháp chính sau:
- Thủ pháp thống kê toán học: chúng tôi đã tiến hành thống kê các
CVHC nhằm phân loại chúng, thống kê các loại hành vi ngôn ngữ được
sử dụng trong các CVHC mà chúng tôi thu thập được trong ngành giao
thông dựa trên những tiêu chí nhận diện mà chúng tôi đã đưa ra trong
phần lý luận chung
- Thủ pháp phân tích ngôn cảnh: dựa trên những tư liệu thống kê, chúng
tôi tiến hành phân tích các CVHC đó dựa trên ngôn cảnh (một loại môi trường
phi ngôn ngữ, trong đó ngôn ngữ được sử dụng).
- Thủ pháp miêu tả chuẩn phong cách – một trong những thủ pháp xã
hội học: dựa trên những tư liệu mà chúng tôi đã phân loại được, chúng tôi tiến
hành miêu tả cụ thể những tư liệu đó xem chúng đã đúng với phong cách hành
chính – công vụ chưa.

4
5. Dự kiến đóng góp
Về mặt lý luận, kết quả của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ một số
vấn đề về lý luận phân tích diễn ngôn. Đó là nghiên cứu ngôn ngữ không chỉ
ở bình diện cấu trúc thuần tuý mà là trên bình diện giao tiếp. Hay nói cách
khác, việc nghiên cứu ngôn ngữ gắn liền với việc nghiên cứu giao tiếp. Ngôn
ngữ ở đây được sử dụng trong giao tiếp nói chung và trong giao tiếp hành
chính nói riêng. Nếu như trước đây, nhiều nhà nghiên cứu chỉ nghiên cứu các
văn bản hành chính dưới góc độ cấu trúc thì hiện nay một số nhà nghiên cứu

cấu trúc điển hình của diễn ngôn CVHC ngành giao thông. Trong Chương thứ
ba - Phân tích đặc điểm ngôn ngữ sử dung trong diễn ngôn CVHC ngành
giao thông, chúng tôi đi vào miêu tả những phương thức liên kết về nội dung,
những hành vi ngôn ngữ qua đó tìm hiểu lực ngôn trung trong các diễn ngôn
CVHC; đồng thời chúng tôi đi vào miêu tả mạch lạc trong CVHC và phương
thức lập luận sử dụng trong các loại công văn này với tư cách là một biểu hiện
của tính mạch lạc.
Phần kết luận: Phần này chúng tôi sẽ trình bày tóm tắt lại nội dung của
luận văn, những luận điểm chính và những đóng góp cơ bản của luận văn
trong việc nghiên cứu phân tích diễn ngôn, trong việc soạn thảo CVHC. 6
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn
1.1.1. Diễn ngôn (DN) và phân tích diễn ngôn (PTDN).
Có nhiều quan niệm khác nhau về DN và PTDN tuỳ theo các phương
diện nghiên cứu khác nhau của các nhà nghiên cứu.
Theo tác giả G. Cook, “DN là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là
trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” [dẫn theo 2; tr 20].

cứu những khái niệm này, mà chúng tôi chỉ muốn trình bày một số khái niệm
trên để có một cái nhìn tóm lược về những quan điểm về DN và PTDN. Tuy
nhiên theo chúng tôi, quan điểm của tác giả Nguyễn Hoà [20] cho rằng DN là
một sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ
thể là phù hợp với hướng nghiên cứu của chúng tôi về các diễn ngôn CVHC. Vì
thế, trong luận văn, chúng tôi chấp nhận quan điểm này và lấy quan điểm này
làm căn cứ để tiến hành phân tích các diễn ngôn CVHC ngành giao thông.
DN không chỉ đơn thuần là những cấu trúc ngôn ngữ mà nó là tổng thể
của ngôn ngữ (những đặc điểm của cấu trúc, phương tiện ngôn ngữ), người sử
dụng ngôn ngữ (trình độ, nghề nghiệp, vốn kiến thức văn hoá, sự chi phối của
quan hệ xã hội, hoàn cảnh, điều kiện sống ), hoàn cảnh giao tiếp xã hội (tình
huống, kiến thức nền, văn hoá, mục đích phát ngôn) Như vậy, PTDN là
nghiên cứu, phân tích tính mạch lạc, những hành động nói sử dụng kiến thức
nền trong quá trình tạo và hiểu diễn ngôn.
1.1.2. Những đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn.
1.1.2.1. Những đặc tính của diễn ngôn.
Đặc tính cơ bản của DN là tính mạch lạc, tính giao tiếp, ký hiệu và tính
quan yếu.
a. Tính mạch lạc
Mạch lạc được Nguyễn Thiện Giáp [16] coi là cái quyết định để một
tác phẩm ngôn ngữ trở thành một DN. Như vậy, cơ sở của mạch lạc là những

8
cái gì quen thuộc, kiến thức văn hoá chung, kiến thức nền. Có thể hiểu một
cách ngắn gọn rằng mạch lạc là mạch nối DN cho phép hiểu DN trong các
hoàn cảnh giao tiếp xã hội. Mạch lạc không phải là các phương tiện liên kết
hình thức của văn bản mà nó là một phần nội dung thực của văn bản. Nó được
thể hiện qua những phương tiện ngôn ngữ và phương tiện ngoài ngôn ngữ
(hình thức tổ chức văn bản, quan hệ nghĩa - lôgic giữa các từ ngữ trong văn
bản, quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản với cái được nói tới trong tình huống

hiện một sự thể bao gồm các tham thể, quá trình, mối quan hệ giữa các tham
thể cũng như ý nghĩa dụng học kèm theo. Các yếu tố quan yếu tham gia vào
DN với hình thức là những đơn vị từ ngữ. Những đơn vị từ ngữ lại bị quy
định bởi hoàn cảnh giao tiếp xã hội, mục đích phát ngôn và thể loại DN.
Với tư cách là một quá trình giao tiếp tương tác, nội dung của DN được
tổng hợp từ nhiều phương diện, trong đó mạch lạc là yếu tố quan trọng nhất.
Mạch lạc là sự hiện thực hoá của liên kết, cấu trúc, sự dung hợp giữa các hành
động nói và tính quan yếu.
Tính quan yếu của DN cũng chịu sự quy định của yếu tố văn hoá và
những thông tin ngữ cảnh.
1.1.2.2. Phân loại DN.
DN là sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh trong những hoàn cảnh xã hội cụ thể.
Như vậy, trong mỗi hoàn cảnh, chúng ta lại có một thể loại DN. Điều này cho thấy
việc phân loại DN không phải là việc làm dễ dàng, có tính thuyết phục. Có nhiều
quan điểm khác nhau về phân loại DN: dựa vào phương thức biểu đạt, chúng ta có
DN nói và DN viết. Sự phân biệt này đã được nêu lên từ lâu và có tầm quan trọng
nhất định đối với quan điểm sư phạm như dạy đọc, dạy viết, dạy nói. Một hướng
phân loại khái quát khác là phân biệt DN đối thoại với DN đơn thoại. Cách phân
loại này liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sinh hoạt hằng ngày và cả
ngôn ngữ trong văn học. Tuy nhiên theo tác giả Hausenblas [dẫn theo 2] thì muốn
có sự phân loại có hệ thống và thoả đáng thì phải cần đến sự hợp tác của cả hai bộ
phận cùng quan tâm đến việc miêu tả ngôn ngữ. Đó là ngữ pháp và phong cách
học. Từ đó, tác giả đưa ra các cách phân loại DN như sau:

10
a) Phân loại DN theo cấu trúc
* Về khuôn hình văn bản:
Do tính chất quá phức tạp của DN và tính quá đa dạng của các DN cụ
thể, cho nên để khái quát được người ta chỉ có thể chia tất cả các DN thành
hai nhóm lớn:

+ Khoa học
+ Công luận
+ Hội thoại văn học
+ Hội thoại đời thường
- Phong các học lời nói: có sự phân định các lớp văn bản từ chung đến
riêng theo trình tự sau:
+ Phong cách chính thức công vụ có các kiểu loại văn bản: chỉ đạo,
pháp lý, quân sự, ngoại giao, thương mại, kinh tế
+ Phong cách khoa học: khoa học xã hội, khoa học kĩ thuật
+ Phong cách công luận: chính trị, kinh tế, luật, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo
* Theo tác giả Hữu Đạt [13], tiếng Việt có 6 phong cách chức năng khác
nhau, đó là phong cách sinh hoạt hằng ngày, phong cách hành chính công vụ,
phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí và phong cách
văn học nghệ thuật. Mỗi loại phong cách có các thể loại DN khác nhau
* Tuy nhiên, cách phân loại dựa vào trường DN, tính chất DN và cách
thức DN được quan tâm hơn cả vì tính hợp lý của nó. Hay nói cách khác là
dựa vào chủ đề được đề cập, nội dung mệnh đề, mối quan hệ giữa các cá nhân
tham gia (bao gồm cả ý nghĩa dụng học) và phương tiện thể hiện ngôn ngữ
(nói hoặc viết), người ta phân chia thành các ngữ vực, tiếp đó trong các ngữ
vực, có những thể loại DN cụ thể. Chẳng hạn, trong ngữ vực báo chí, có các
thể loại DN như: tin, bình luận, tin vắn, phóng sự, ký Trong ngữ vực văn
chương, có các thể loại DN như: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ lục bát, thơ văn
xuôi, cổ tích, truyền thuyết Trong hội thoại hàng ngày, có các thể loại DN
như: hội thoại, phiếm đàm, tâm sự, chào hỏi, phóng vấn

12
1.2. Khái quát về lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ
Việc nghiên cứu về giao tiếp đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm
từ khoảng giữa thể kỷ XX. Một số nhà nghiên cứu như Shannon khi nghiên
cứu về mô hình truyền thông nói chung cũng đã đưa ra mô hình về hoạt động

Nhân tố thứ hai là thực tế được nói tới hay nội dung giao tiếp. Về bản
chất, đây là những nhận thức chủ quan của người phát về hiện thực được đưa
vào nội dung thông điệp để truyền đạt cho người nhận nhằm đạt một mục đích
giao tiếp nào đó. Do đó, người nhận có quyền nhận hay từ chối tiếp nhận
những nội dung của thông điệp đó. Vì vậy, trước khi phát đi thông điệp của
mình, người phát không thể không tính đến khả năng này ở người nhận để
quyết định lựa chọn nội dung và hình thức của thông điệp định truyền đi.
Nhân tố thứ ba là hoàn cảnh giao tiếp. Hiểu theo nghĩa rộng, hoàn cảnh
giao tiếp bao gồm hoàn cảnh tự nhiên xã hội, lịch sử văn hoá của cộng đồng
quốc gia mà các nhân vật giao tiếp đang có mặt. Hoàn cảnh này chi phối cả
nội dung và hình thức của thông điệp. Tuy nhiên, chúng không trực tiếp tham
gia vào giao tiếp mà chỉ tham gia gián tiếp dưới dạng những hiểu biết, những
kinh nghiệm tiềm ẩn trong tư duy người phát và người nhận trước khi cuộc
giao tiếp diễn ra. Chúng được gọi là các tiền giả định giao tiếp. Nếu hiểu theo
nghĩa hẹp, hoàn cảnh giao tiếp chỉ nơi chốn cụ thể diễn ra hoạt động giao tiếp.
Nó được gọi là môi trường giao tiếp, ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung và
hình thức của thông điệp và hiệu quả của cuộc giao tiếp.
Tập hợp ba yếu tố trên được gọi là ngữ cảnh. Đây chính là ngữ cảnh mà
Nunan [32] gọi là ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ. Khái niệm ngữ cảnh được hiểu là
một tập hợp của nhiều yếu tố và khá phức tạp, được tính từ khi cuộc giao tiếp
diễn ra. Vì vậy, có thể thấy, trong một cuộc giao tiếp, ngữ cảnh không phải là
bất biến mà trái lại nó luôn vận động. Sự vận động của ngữ cảnh và sự tương
ứng của nó trong từng thời điểm giao tiếp được gọi là tình huống giao tiếp.
Nhân tố thứ tư là hệ thống tín hiệu được sử dụng trong giao tiếp. Đó có
thể là ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết, các yếu tố kèm ngôn ngữ như: ánh mắt,
giọng điệu hoặc các tín hiệu phi ngôn ngữ. Đối với các nhân vật tham gia giao

14
tiếp, mỗi loại tín hiệu sẽ có hiệu quả và chất lượng giao tiếp khác nhau.
Nhân tố cuối cùng là đích của hoạt động giao tiếp. Khi phát ra một thông

dung. Một bộ phận của hành vi tạo lời đã là đối tượng nghiên cứu của ngôn
ngữ tiền dụng học
Hành vi tại lời: là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói
năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, nghĩa là chúng
gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Ví dụ về
hành vi tại lời: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, mời, hứa hẹn, khuyên bảo Khi chúng ta
hỏi một ai về điều gì đó thì người được hỏi có nhiệm vụ phải trả lời chúng ta
dù trả lời là không biết. Không trả lời, không đáp lại người nghe vị xem là
không lịch sự. Hành vi tại lời có ý định quy ước và có thể chế dù rằng quy
ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà quy tắc vận hành chúng được
mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác. Có
thể nói, nắm được ngôn ngữ, không chỉ có nghĩa là nắm được ngữ âm, từ ngữ,
câu của ngôn ngữ đó mà còn là nắm được những quy tắc để điều khiển các
hành vi tại lời ở ngôn ngữ đó, nghĩa là biết các quy tắc để “hỏi”, “hứa hẹn”,
“mời” sao cho đúng lúc, đúng chỗ, thích hợp với ngữ cảnh và với người
được hỏi.
Hành vi mượn lời: là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ, nói
đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào
đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính nguời nói. Chức năng hành động
của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời của phát ngôn. Có
những hiệu quả mượn lời là đích ở lời của một hành vi ở lời nhưng có những
hiệu quả không thuộc đích của hành vi ở lời. Những hiệu quả mượn lời
thường rất phân tán và không thể tính toán được.
Trong dụng học, người ta thiên về tập trung nghiên cứu hành vi thứ hai,
tức là hành vi tại lời.Do vậy, khi nói đến hành vi ngôn ngữ là hành vi tại lời:
Một hành vi ngôn ngữ được tạo ra khi người nói trao một phát ngôn cho
người nghe trong một ngữ cảnh nhất định. Mỗi hành vi ngôn ngữ đều chuyển
tải một lực tại lời gọi là lực ngôn trung.

16

17
Mặc dù trong bảng phân loại của Austin còn nhiều điều không thoả
đáng: có chỗ còn chồng chéo, có chỗ mơ hồ, nhưng cho đến nay, những quan
niệm của Austin cũng như lý thuyết hành vi ngôn ngữ và bảng phân loại của
ông vẫn được các nhà nghiên cứu coi trọng và xem là kim chỉ nam cho các
nghiên cứu về ngữ dụng học.
1.4. Khái lƣợc về lý thuyết lập luận
1.4.1. Lập luận là gì?
Trước đây, lập luận (arguementation) được nghiên cứu trong tu từ học
và trong lôgic học. Theo các hiểu của lôgic học, “lập luận là là một hoạt động
ngôn từ. Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt
người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó: rút ra một (/một số) kết luận hay
chấp nhận một (/một số) kết luận nào đó.” [10; tr 165]
Như vậy, một lập luận bao giờ cũng gồm 3 thành tố lôgic: tiền đề (luận
cứ), kết đề và lí lẽ. Tiền đề là một hoặc nhiều dữ kiện xuất hiện làm căn cứ
cho lập luận, từ đó suy ra kết đề. Kết đề là một khẳng định đích hay là một
khẳng định mục tiêu. Lí lẽ (còn gọi là luật suy diễn hay luận chứng) là những
yếu tố mà nhờ đó từ tiền đề chúng ta suy ra kết đề. Những yếu tố này có thể là
những nguyên lí, quy luật tự nhiên, những định lí, định luật, quy tắc trong các
ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, và cũng có thể là những lí lẽ trong lôgic
đời thường. Ví dụ
“ - Đã 7 giờ tối rồi. Họ không lên nữa đâu
- Căn cứ vào đâu mà cậu nói như vậy?
- Chiều mai họ bay ra Hà Nội rồi. Không ai từ Sài Gòn lên Đà Lạt thăm
bạn bè vài tiếng để rồi vội vã quay về thành phố cả”
Trong đoạn trên, tiền đề là “Đã 7 giờ tối rồi”, kết đề là “Họ không lên
nữa đâu”. Lí lẽ là “Không ai từ Sài Gòn lên Đà Lạt thăm bạn bè vài tiếng để
rồi vội vã quay về thành phố cả”. Đây là lí lẽ trong lôgic đời thường.
Quan điểm về lập luận nêu trên là quan điểm về lập luận trong lôgic


19
1.4.2. Một số khái niệm trong lập luận
a) Kết tử lập luận:
Kết tử lập luận là những yếu tố phối hợp hai hay một phát ngôn riêng rẽ
thành một lập luận duy nhất. Nói cách khác, chính kết tử lập luận đã biến các
phát ngôn thành luận cứ hoặc kết luận trong một lập luận nào đó.
Ví dụ: từ các phát ngôn riêng lẻ:
- Trời đẹp
- Tôi bận học
- Tôi không thể đi chơi được
Từ những phát ngôn đó, nếu chúng ta thêm những kết tử lập luận thì
chúng ta sẽ có được một lập luận hoàn chỉnh.
Trời đẹp nhưng tôi bận học nên tôi không thể đi chơi được.
ở phát ngôn này, kết luận là: Tôi không thể đi chơi được
Hai luận cứ là: Trời đẹp
Tôi bận học
Các kết tử lập luận là: nhưng, nên
b) Tác tử lập luận:
Tác tử lập luận là những yếu tố mà khi đưa vào phát ngôn nào đó sẽ làm thay
đổi tiềm năng lập luận mà không làm thay đổi thông tin miêu tả của phát ngôn.
Ví dụ :
(1) Cái áo này mới (miêu tả)
(2) Cái áo này mà mới (đã xuất hiện thái độ của người nói)
Trong ví dụ (2) ta thấy sự đánh giá của người nói: cái áo đấy không
mới và hướng về kết luận: chê áo đấy cũ. Trong tiếng Việt, những tác tử lập
luận thường là những phụ từ: đã, rồi, mà, cứ, thôi
Có những loại tác tử lập luận sau:
- Tác tử về thời gian
Ví dụ: Mới hai giờ thôi (hãy còn sớm)
Đã hai giờ rồi à? (muộn quá rồi)

cứu về mạch lạc, có thể kể đến công trình của các tác giả G. Cook, D. Crystal,

21
G. Brown, G. Yule, David Nunan Tuy nhiờn cỏc cỏch hiu v mch lc cho
n nay vn cha cú s thng nht. Di õy, chỳng tụi xin trớch dn mt s
nh ngha tiờu biu:
Cỏc tỏc gi M.A.K. Halliday & R. Hasan cho rng: mch lc c coi
nh phn cũn li (sau khi tr liờn kt) thuc v ng cnh ca tỡnh hung
(context of situation) vi nhng du hiu ngha tim n (registers). Mch lc
c coi l phn b sung cn thit cho liờn kt, l mt trong nhng iu kin
to thnh cht vn bn [dn theo 18; tr 11].
Theo tỏc gi D.Togeby, mch lc (coherence), hiu mt cỏch chung
nht, l c tớnh ca s tớch hp vn bn, tc l cỏi c tớnh bo m cho cỏc
yu t khỏc nhau trong mt vn bn khp c vi nhau trong mt tng th
gn kt [dn theo 18; tr 11].
Tỏc gi Nunan thỡ cho rng mch lc l tm rng m ú DN c
tip nhn nh l cú mc vo nhau ch khụng phi l mt tp hp cõu hoc
mt phỏt ngụn khụng cú liờn quan nhau [dn theo 8; tr 71].
Vit Nam, cú nhiu nh nghiờn cu quan tâm nhiều đến vic nghiờn
cu cỏc vn v mch lc nhng cng mi ch dng li vic gii thiu
nhng khỏi nim ban u ch cha i sõu vo nghiờn cu tng hin tng c
th. Chng hn nh cỏc tỏc gi: Nguyn Thin Giỏp vi Dng hc Vit ng,
Đỗ Hữu Châu vi Ng phỏp vn bn, Dip Quang Ban vi Vn bn v liờn
kt trong ting Vit, Bờn cnh y, mt s tỏc gi nh inh Trng Lc,
Nguyn Th Vit Thanh, Trn Ngc Thờmcũng đã ít nhiều đề cập đến mạch
lạc trong cỏc công trình nghiên cứu của mình.
Tuy nhiờn, trong cụng trỡnh nghiờn cu ca mỡnh, Vn bn v liờn kt
trong ting Vit (1998), tỏc gi Dip Quang Ban ln u tiờn ó cp n
mch lc mt cỏch tng th v chi tit. T gúc dng hc, Diệp Quang Ban
[2] ó phỏt biu rng: mch lc chớnh l s ỏp dng cỏc qui tc to hnh ng

kết văn bản thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ. Hướng thứ hai coi liên
kết không thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ.

23
Trong hướng thứ nhất, ở giai đoạn đầu, liên kết chủ yếu giới hạn trong
phạm vi các dấu hiệu hình thức. Sang giai đoạn hai, người ta bắt đầu chú ý nhiều
hơn đến liên kết về mặt ngữ nghĩa. Bởi theo nhiều nhà nghiên cứu, các đơn vị
ngôn ngữ vốn có hai mặt nội dung và hình thức với quan hệ mật thiết “như hai
mặt của một tờ giấy” nên tính liên kết cũng có hai mặt: liên kết nội dung và liên
kết hình thức. Hai mặt này cũng có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau,
liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương thức liên kết hình
thức và liên kết hình thức chủ yếu để diễn đạt liên kết nội dung.
Hướng thứ hai thịnh hành vào giữa những năm 70 và ngày càng được
phổ biến rộng rãi. Theo quan niệm này, liên kết với tư cách là một khái niệm
chuyên môn, không thuộc về cấu trúc ngôn ngữ, mặc dù bản thân các yếu tố
cấu trúc ngôn ngữ có thuộc tính liên kết. Liên kết không thuộc về cấu trúc mà
thuộc về ý nghĩa và chỉ các phương tiện hình thức của ngôn ngữ thực hiện
chức năng đó mới thuộc liên kết. Với cách hiểu này, liên kết không giữ vai trò
yếu tố quyết định một sản phẩm ngôn ngữ là văn bản. Cái quyết định đó là
“mạch lạc” (như chúng tôi đã nói ở trên)
Từ các quan điểm khác nhau đó mà có cách giải thuyết liên kết khác
nhau, cách phân loại liên kết khác nhau. Hai hướng này chỉ gặp nhau khi xem
xét các phương tiện liên kết cụ thể.
1.6. Văn bản hành chính và phân loại văn bản hành chính
1.6.1. Khái niệm văn bản hành chính
Văn bản hành chính là một thể loại văn bản được sử dụng để trao đổi
những công việc hành chính sự vụ hằng ngày giữa các cơ quan hành chính
đoàn thể các cấp từ Trung ương xuống địa phương với các thành viên và bộ
phận xã hội có liên quan. Theo tác giả Hữu Đạt [13], văn bản hành chính
thuộc phong cách hành chính công vụ.

thành các nhóm khác nhau:
* Phân chia theo khu vực quản lý hành chính và ngành nghề:
- Văn bản hành chính
Đơn đề nghị, giấy mời, quyết định, giấy triệu tập, công văn, điện báo,

Trích đoạn Hành vi bỏo cỏo Mạch lạc trong diễn ngụn CVHC ngành giao thụng Mạch lạctheo hệ thời gian Mạch lạctheo nội dung quan yếu Liờn kết nội dung trong CVHC ngành giao thụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status