ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******
BÙI LÊ NHẬT
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA VĂN BẢN HÀNH
CHÍNH TRONG CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN
(CHIẾU, CHỈ, DỤ, TẤU, BIỂU, TƯ) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Hán Nôm
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Hán Nôm
Mã số: 602240
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Kim Sơn
Hà Nội-2013
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử vấn đề
2
3. Mục tiêu nghiên cứu
17
4. Phạm vi nghiên cứu
36
1.3.1. Đặc điểm nội dung
36
1.3.2. Bố cục hình thức
39
1.3. 3. Cách thức soạn thảo, ban hành, trung chuyển
43
1.3.4. Tình hình văn bản
47
1.4. Kết luận chương 1
48
Chương 2. Đặc điểm ngôn ngữ
50
2.1. Bối cảnh hình thành
50
2.1.1. Bối cảnh chính trị xã hội
50
2.1.2. Bối cảnh văn hóa
52
2.2. Đặc điểm
54
2.2.1. Nguồn gốc, cấu trúc
54
2.2.1.1. Từ vựng
56
2.2.1.2. Ngữ pháp
63
2.2.2. Tính chất
65
2.2.2.1. Tính quan phương
triển ngôn ngữ của một dân tộc thể hiện diễn biến văn hóa của dân tộc ấy, bởi ngôn
ngữ là văn hóa được mã hóa. Theo quy luật chung, lịch sử phát triển của ngôn ngữ
Việt là quá trình vận động liên tục và không ngừng giao lưu, tiếp nhận ngôn ngữ
của những nền văn minh, văn hóa khác, cụ thể ở đây là Trung Quốc, Ấn Độ thời cổ-
trung đại và Pháp-Châu Âu thời cận-hiện đại. Trong lịch sử phát triển của mình,
giai đoạn từ đầu thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX là thời kỳ diễn ra nhiều biến động
lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến sự chuyển mình từ ngôn ngữ văn tự trung đại lên
hiện đại của dân tộc Việt. Vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và
chứng minh, tuy nhiên một trong những tài liệu thể hiện dấu ấn đậm nét của thời kỳ
quá độ ngôn ngữ này là văn bản hành chính trong châu bản triều Nguyễn lại chưa
được phân tích. Hiện nay phần lớn bản gốc châu bản được lưu trữ tại Trung tâm lưu
trữ quốc gia I. Với giá trị về nhiều mặt: sử học, văn hóa học, văn bản học, thư tịch
học, ngôn ngữ học… đây xứng đáng là một trong những di sản văn hóa quí giá của
dân tộc Việt nói riêng và nhân loại nói chung.
Giá trị nhiều mặt của châu bản triều Nguyễn đặt ra nhiều hướng đi cho các
nhà nghiên cứu và hầu hết đều lựa chọn khai thác ở góc độ sử liệu, ít hoặc không đề
cập tới vấn đề ngôn ngữ. Một công trình đã đi sâu vào thực tại văn bản là Cấu trúc
nội tại của loại hình châu bản trên cứ liệu châu bản triều Minh Mạng của Thạc sỹ
Nguyễn Thu Hoài, nhưng mới dừng ở đặc điểm hình thức.
Thực tế tuy sử dụng ngôn ngữ Hán văn – vấn đề đã được nghiên cứu sâu và
kỹ - nhưng khía cạnh ngôn ngữ của văn bản hành chính trong châu bản vẫn là một
mặt quan trọng, tưởng cũ mà lại mới, nếu đặt cố định trong khung thời gian triều
Nguyễn và trong thế đối sánh theo từng triều vua. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi
triều Nguyễn là giai đoạn ra đời nhiều hình thức văn bản mới và có những đổi mới
ngay trong nội hàm những hình thức văn bản cũ, cũng là thời kỳ chuyển mình từ
trung cận đại lên hiện đại của ngôn ngữ viết nói riêng và tiếng Việt nói chung trong
2
bối cảnh giao thoa, va chạm với tiếng Pháp đồng thời vẫn chịu ảnh hưởng trực tiếp
từ các thể loại văn bản quản lý của nhà nước phong kiến trung đại Trung Hoa.
nghiên cứu chú thích về ngữ nghĩa, thanh vận, hình dạng văn tự của từ đơn lẻ và có
trích dẫn một số văn đoạn mà từ ngữ được sử dụng, không quan tâm đến nghệ thuật,
nội dung nghĩa lý và chức năng thực thi của chỉnh thể văn bản mà những từ đó tạo
nên, thành tựu cao nhất là các tác phẩm dạng thuyết văn, tự điển, từ điển, xét trên
bình diện ngôn ngữ nói chung phải kể thêm vận thư; 2) hướng thứ hai trọng tâm tìm
hiểu nghệ thuật dụng văn, chức năng và nghĩa lý của chỉnh thể văn bản – kết tinh ý
nghĩa của hệ thống từ, thành tựu cao nhất là các nghiên cứu, bình luận mang tính
học thuật dạng chú sớ, luận (biện luận, thuyết luận).
Tên gọi “tiểu học” có liên quan đến nội dung chương trình học của thời trung
đại, trong đó tiểu học cung cấp các kiến thức và phương pháp cơ bản để nhận biết
chữ Hán – phân biệt với “đại học” trong quan niệm đương thời là “cái học của bậc
đại nhân”, chú trọng những kiến thức ứng dụng phục vụ con đường hoạn lộ, quan
trường trên cơ sở đã thông hiểu tiểu học. Trong chế độ khoa cử cũ, từ 14 tuổi trở
xuống học tiểu học, sau đó sẽ chuyển qua bậc đại học, nhưng có thể du di tùy theo
người học. Giáo sư Vương Lực trong mục Lời nói đầu sách Lịch sử ngôn ngữ học
Trung Quốc cho biết: “Ngữ văn học vào thời cổ trung đại được gọi là “tiểu học”.
Tên gọi “tiểu học” này khởi đầu có liên quan tới bậc học tiểu học. Căn cứ theo mục
Nghệ văn chí sách Hán thư, chúng ta biết người xưa 8 tuổi vào tiểu học, thầy dạy họ
“lục thư”. Nhận mặt chữ vốn là việc của bậc tiểu học, nhân đó gọi học vấn về nhận
chữ là tiểu học. Trong Nghệ văn chí sách Hán thư, “tiểu học” tự mình đứng riêng
thành 1 loại, tổng cộng có 10 phái, 15 thiên. Nếu lấy cổ làm chuẩn, trong đó bao
gồm cả cổ văn ký tự (chữ Hán giai đoạn tiền Hán được gọi là cổ văn), thì nhận chữ
trở thành một học vấn chuyên môn. Đây là nguyên nhân “tiểu học” trở thành một
danh xưng học thuật chuyên môn” [106, tr.2].
Bản thân các học giả trung đại tới đời Thanh chia các nghiên cứu về ngôn
ngữ văn tự của mình thành ba (03) loại: huấn hỗ, tự thư và vận thư “về sau, phạm vi
của tiểu học mở rộng. Tổng mục đề yếu trong Tứ khố toàn thư đời Thanh chia tiểu
học thành huấn hỗ, tự thư và vận thư. Đại thể, huấn hỗ nghiên cứu về nghĩa chữ, tự
4
5
chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư, cũng đã xuất hiện những luận đề về ngôn ngữ trong văn
bản hành chính, tiêu biểu như Thỉnh trừ bách gia thi thư nghị của Lý Tư. Tuy nhiên
những văn kiện, sách vở trên đây chưa thể coi là các nghiên cứu thực thụ, những
nghiên cứu sâu hơn về ngôn ngữ hoặc giả đã có nhưng trong thư tịch hiện nay
không còn. Các học giả ngôn ngữ hiện nay hầu như đều công nhận nghiên cứu ngôn
ngữ của học giả Trung Quốc cổ trung đại bắt đầu có từ đời Hán.
Các tác phẩm mang tính từ điển về ngôn ngữ-văn tự cổ đại trong thư tịch
Hán xuất hiện từ khá sớm, tiêu biểu như Phương ngôn của Dương Hùng (53 TCN –
18), Thuyết văn giải tự của Hứa Thận (58 – 157) hay Thích danh của Lưu Hi
(khoảng thế kỷ II), tất nhiên trong đó không đề cập tới ngôn từ trong từng văn thể
cụ thể mà phiên âm, thích nghĩa những từ đơn cơ bản trong tiếng Hán giai đoạn này
đúng như tên gọi của sách. Liên quan nhiều hơn đến nội dung văn bản cụ thể là Nhĩ
nhã (khuyết danh, hình thành trong giai đoạn cuối Tần – đầu Hán), một bộ sách
mang tính từ điển xuất phát từ mục tiêu chú giải kinh điển. Tuy vậy, trên bình diện
chuyên luận, Độc đoạn của Sái Ung (133 – 192) đời Đông Hán mới được xem là tác
phẩm mở đầu cho nghiên cứu ngôn ngữ văn thể hành chính. Trong quyển hai của
sách, tác giả đã luận bàn một cách hệ thống những điểm cơ bản nhất về cách sử
dụng ngôn từ, đặc biệt là đại từ nhân xưng trong các thể thức văn hành chính:
chương, tấu, biểu và bác nghị. Tiếp nối Sái Ung, Tào Phi (187 – 226) trong thiên
Luận văn sách Điển luận cũng lược bình về đặc điểm bốn nhóm văn thể thông dụng
thời kỳ này (tấu nghị, thư luận, minh lụy, thi phú), trong đó có tấu.
Sang đời Tấn có Văn Phú của Lục Cơ (261 – 303) giới thuyết về đặc trưng
mười văn thể thông dụng bao gồm: thi, phú, bi, lụy, minh, châm, tụng, luận, tấu,
thuyết; Hàn lâm luận của Lý Sung (khoảng 349 - 365) luận về tấu, biểu cùng các
thể loại khác như: thư, nghị, văn, tán, bác, luận, nạn, minh, hịch, hình, cáo, thi; Văn
chương lưu biệt luận của Chí Ngu (? - 311) đề cập tới mười một loại văn thể (đối
thi, phú, châm, minh, ai từ, ai sách, lụy, tụng, thất, đối vấn, bi minh) nhưng không
có chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư. Triều Tấn cũng là giai đoạn hợp nhất ba bộ sách
thuộc bậc tiểu học về âm vận, giải nghĩa từ và cú pháp cơ bản của cụm từ được soạn
nhất giai đoạn này là các tác phẩm thuộc Thập tam kinh chú sớ như: Văn tuyển chú
7
của Lý Thiện, dịch chú các văn thể của Văn tuyển nhưng không bình về đặc điểm
văn phong, ngôn ngữ; Tứ thư tập chú của Khổng Dĩnh Đạt (574 - 648), trong đó có
dịch chú về thượng thư – văn tịch cổ đầu tiên ghi lại văn thể hành chính, tất nhiên
chưa đề cập tới chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư. Ngoài ra có thể kể đến bản chiếu Hình
biểu sớ bất thực chiếu của Đường Cao Tổ Lý Uyên (566 - 635), bình về tệ rườm rà,
hoa lá viển vông, không đi thẳng vào vấn đề của văn bản hành chính đương thời.
Các công trình đáng chú ý của triều Tống về ngôn ngữ trong văn bản hành
chính: Văn chương chính tông của Chân Đức Tú (1178 - 1235), trên phương diện
thể, dụng bình luận về bốn nhóm văn thể từ đời Hán trở về trước, bao gồm: từ mệnh,
nghị luận, tự sự và thi ca, trong đó chiếu, dụ được xếp vào nhóm từ mệnh; tấu, biểu
thuộc nhóm nghị luận; chưa được đề cập chỉ và tư; Trực Trai thư lục giải đề của
Trần Chấn Tôn, tuyển chọn và bình phẩm về bốn (04) thư lục: kinh, sử, tử, tập,
trong đó có chiếu (thuộc sử lục), tấu (thuộc tập lục). Đây cũng là thời kỳ xuất hiện
những manh nha của ngôn ngữ văn tự học hiện đại với các thuật ngữ “động tự”,
“tĩnh tự” tương đương với động từ (verb) và danh từ (noun) trong ngôn ngữ học
phương Tây.
Bước sang triều Minh có hai tác phẩm tiêu biểu về ngôn ngữ văn thể cổ trung
đại đề cập tới chiếu, biểu, tấu, dụ là Văn chương biện thể của Ngô Nạp và Văn thể
minh biện của Từ Sư Tăng.
Đời Thanh có hai (02) công trình ảnh hưởng lớn đến việc nghiên cứu thể loại
cũng như ngôn ngữ trong văn bản quản lý nhà nước cổ trung đại nói chung là Cổ
văn từ loại toản của Diệu Nãi và Kinh sử bách gia tạp sao của Tăng Quốc Phiên.
Trên tiêu chí văn phong, nội dung kinh điển và chức năng, Diệu Nãi xếp chiếu vào
nhóm chiếu lệnh cùng các thể loại: sắc, lệnh, cáo, chế, phù, còn Tăng Quốc Phiên
gộp chiếu và tấu nghị vào cùng nhóm cáo ngữ với lệnh, thư độc. Đây cũng là thời
kỳ phục hưng và phát triển mạnh của “tiểu học” - ngôn ngữ văn tự học trung đại cả
trên phương diện quan thư và cá nhân với các bộ sách nổi tiếng như: Khang Hi từ
ngôn ngữ văn thể hành chính, tiêu biểu như: Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy
Bích (1744 - 1818), tuyển chọn ghi chép và lược bình văn phong các tác phẩm văn
9
bản hai (02) đời Lê, Trần, trong đó có các thể công văn: chiếu, tấu, biểu, chế, sách,
tạ, khải, công văn; Văn loại (chép các bài chiếu, biểu, chế, lục, cáo, bi kí), Quân
trung từ mệnh tập (ghi chép thư, lệnh, tấu, biểu đấu tranh ngoại giao của Nguyễn
Trãi) của Dương Bá Cung (1794 - 1868)… Ngoài ra, phải kể tới Cổ kim khoa thí
thông khảo do Chuyết Hiên tàng bản ấn hành, khi lược khảo về khoa cử các triều
đại có nhắc tới các thể văn hành chính được sử dụng và có nhiều bình phẩm về văn
phong, ngôn từ nói chung của văn chương thời kỳ này trong mục Phó thuyết; các
mục ghi chép về văn thể trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và Khâm định
Đại Nam hội điển sự lệ tục biên (Quốc sử quán triều Nguyễn soạn); mục Khoa mục
chí, Văn tịch chí trong Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú (1782 -
1840); mục Thiên chương trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (1726 - 1784)
Tuy nhiên văn thể trong các công trình này mới chỉ được đề cập trên phương diện
chức năng thể loại và cơ quan ban hành hoặc ở dạng liệt kê tên gọi, không phải
những nghiên cứu đích thực.
Về cơ bản, ngôn ngữ văn tự học hay tiểu học của giai đoạn trung đại tại Việt
Nam và Trung Quốc mang tính chất ngữ văn học, coi trọng hướng lý luận, biện chú
phụ theo kinh điển hơn là các nghiên cứu tách bạch đơn lẻ dạng từ điển. Cả hai
hướng này đều ứng dụng tổng hợp phương pháp xác định nghĩa, hình và âm của chữ,
trong đó hướng thứ nhất lấy đối tượng là từ cơ bản trong tiếng Hán và Hán văn để
chú thích, giảng nghĩa, hướng thứ hai xuất phát từ bản thân văn bản kinh điển để
bình luận, huấn giảng, gần giống với đối tượng của chuyên ngành ngữ dụng học
trong ngữ dụng học hiện đại.
Về phương pháp viết, những nghiên cứu về ngôn ngữ trong văn bản hành
chính thời kỳ trung đại tại Trung Quốc và Việt Nam đều tinh tuyển khảo cứu các tác
phẩm hành chính mang tính văn chương thể hiện phương pháp luận và nghệ thuật
hùng biện mẫu mực, đồng thời xếp chung nhóm loại này vào cùng văn tập với các
văn tập, Cổ đại Hán ngữ…), Lữ Thức Tương, Cao Danh Khải, trong đó Lữ Thức
Tương và Cao Danh Khải chuyên về ngữ pháp ngôn ngữ hiện đại. Tuy nhiên các
học giả trên đặt trọng tâm nghiên cứu về hán ngữ cổ đại nói chung, ít đề cập tới văn
thể cụ thể.
11
Trên phương diện này phải nhắc tới hai nhà nghiên cứu tiên phong mở đầu
cho ngành văn thư học là: Từ Vọng Chi với Công độc thông luận (1931) lược thuật
về hợp nghĩa, phân loại, thể lệ, phương pháp soạn thảo, kết cấu, thủ pháp và dụng
ngữ của công văn trên cơ sở khảo chứng các văn bản chính trị nổi tiếng trong lịch
sử; Hứa Đồng Tân với hai tác phẩm giá trị về văn thể trung đại rải đều trong cả hai
thời kỳ theo cách phân chia của giáo sư Vương Lực, bao gồm: Công độc toàn nghĩa
(1934) giới thiệu nguyên lưu công độc (văn bản chính trị) và dịch chú các văn bản
nổi tiếng, Công độc học sử (1949) giới thiệu về nguyên lưu, đặc điểm của công độc
cũng như công độc học nói chung, trích tuyển các văn bản nổi tiếng trong lịch sử
Trung Quốc. Tuy nhiên các tác phẩm trên đều được viết bằng văn ngôn trung đại,
nếu không trang bị những kiến thức về ngữ pháp cơ bản của Hán ngữ trung đại khó
có thể hiểu được.
Kể từ những năm tám mươi của thế kỉ trước trở lại đây, khi các dân tộc trong
khối phong kiến Đông Á cũ (Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn
Quốc) ý thức hơn trong việc phục hưng lại văn hóa truyền thống nhằm tìm lại vị trí,
hình ảnh của mình trong văn hóa, văn hiến thế giới, các công trình về ngôn ngữ
trong văn thể cổ trung đại bùng phát với số lượng lên tới hàng nghìn và theo nhiều
khuynh hướng khác nhau: văn sử học, văn nghệ học, ngôn ngữ văn tự học, công văn
học, hồ sơ học…
Trong giai đoạn từ thập kỉ tám mươi đến đến thập kỉ chín mươi của thế kỉ
XX, nghiên cứu của giới văn nghệ học tập trung nghiên cứu mặt nội dung, kinh điển
và thủ pháp nghệ thuật trong các tác phẩm mang đậm tính văn chương, hoặc hùng
biện mẫu mực; các nghiên cứu về những thể loại mang đậm chất thông tin, hành
chính sự vụ như tư báo, tư trình, tư văn của thời cổ đại thì chú trọng đến nguồn gốc
Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ viết Hán văn trong các văn bản cổ trung
đại tại Việt Nam giai đoạn hiện đại có nhiều nét giống với Trung Quốc, không chỉ
bởi đây ngôn ngữ ngoại nhập từ Trung Hoa, mà còn bởi khoảng cách gần về địa văn
hóa, chính trị tạo điều kiện tiếp xúc thuận lợi cho học phong giữa hai quốc gia cũng
như sự tương đồng về bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội. Theo đó, có thể chia theo
hai hướng: hướng ngôn ngữ học hiện đại kết hợp các thao tác kỹ thuật và lý luận
13
ngôn ngữ học từ phương Tây, chú trọng phân tích những đặc điểm chung của từ
vựng, ngữ pháp, ngữ âm Hán Việt cũng như tiếng Việt nói chung; hướng văn hóa
học, văn sử học, tâm lý học, triết học đặt trọng tâm là phân tích bình phẩm về nghệ
thuật dụng ngôn và ý nghĩa liên từ trong chỉnh thể văn bản, tác phẩm cụ thể.
Giai đoạn từ những năm đầu thế kỷ XX cho đến trước Cách mạng tháng Tám
năm 1945 do hoàn cảnh lịch sử chúng ta không có nhiều chuyên luận về ngôn ngữ
trong các thể văn bản hành chính trung đại cụ thể. Những công trình tiêu biểu của
giai đoạn này phần nhiều thuộc về tầng lớp trí thức Nho học cũ, và đề cập tới ngôn
ngữ Hán văn ở mặt tổng quan, như: Xét về cách dùng chữ đặt câu trong sự học chữ
Hán, Nam học Hán tự, Nguồn gốc và phương pháp học chữ Hán, Hán văn sơ học
tiệp giải…
Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho tới đầu thập kỷ tám
mươi, do hoàn cảnh chiến tranh và chú trọng nhiệm vụ tái thiết đất nước, tập trung
vào những vấn đề giáo dục cơ bản, hoàn thiện chữ quốc ngữ nên phần lớn nghiên
cứu trong nước về ngôn ngữ Hán văn trong văn bản hành chính trung đại chỉ ở dạng
bài giảng, bài soạn lưu hành nội bộ, không được công bố rộng rãi.
Các nghiên cứu về ngôn ngữ Hán văn chỉ nở rộ kể từ giữa thập kỷ tám mươi
trở lại đây. Trước tiên phải kể tới các công trình, giáo trình, bài giảng, bài soạn
thuộc ngành ngữ văn học, bao gồm văn học, ngôn ngữ và Hán nôm – ngạch học
trực tiếp nhất tại Việt Nam về Hán văn cổ đại cả về phương diện nghĩa lý, nội dung
và ngôn ngữ học.
Từ góc độ Hán Nôm, Hán ngữ cổ đại nói chung và ngôn ngữ trong văn bản
các giáo trình về văn học trung đại tại các trường đại học cũng như sách giáo khoa
phổ thông đều có đề cập tới những văn bản và văn thể hành chính tiêu biểu nhưng
không đặt trong hệ thống văn bản pháp quy, hệ thống chức năng hành chính của văn
bản pháp quy mà đi từ góc độ nghệ thuật của văn bản và đặt vào hệ thống thể loại
của văn học nghệ thuật, về cơ bản gần giống với hướng “ngữ nghĩa – huấn hỗ” của
thời trung đại. Tuy nhiên do ít dựa trên thực tế văn bản Hán Nôm, chủ yếu phân tích
trên bản dịch nên các công trình ngạch văn học không cung cấp nhiều dữ liệu về
ngữ pháp, từ vựng. Những thể loại thường được khảo cứu, bình phẩm nhất là Chiếu
15
(Thiên đô chiếu, Tức vị chiếu, Cần Vương chiếu, Lâm chung di chiếu…), biểu (Tạ
ân biểu, Trần tình biểu), hịch (Hịch tướng sĩ), cáo (Bình ngô đại cáo), sớ (Thất trảm
sớ)
Từ góc độ của ngành ngôn ngữ học, nghiên cứu về Hán văn chủ yếu tập
trung vào lĩnh vực ngữ âm và từ vựng Hán Việt ở mặt tổng quan cũng như ảnh
hưởng của chúng tới tiếng Việt, không đi sâu vào các văn bản hành chính cụ thể của
thời trung đại.
Trong các chuyên ngành liên quan trực tiếp đến văn bản hành chính nói
chung như: lưu trữ-quản trị văn phòng hay hành chính, mặc dù có khảo xét văn bản
hành chính cổ trung đại nhưng đều ở góc độ kỹ thuật soạn thảo, phương thức ban
hành, và sơ lược về văn phong, còn vấn đề ngôn ngữ cụ thể trong văn bản chưa
được tìm hiểu kỹ, tiêu biểu như Văn bản quản lý nhà nước thời Nguyễn: Giai đoạn
1802 - 1884 của Vũ Thị Phụng.
Mặc dù các học giả tại Việt Nam hiện đại có quan tâm tới chiếu, chỉ, dụ, tấu,
biểu, tư cũng như các thể loại văn bản hành chính trung đại, tuy nhiên đa phần tập
trung vào bình diện văn chương nghệ thuật hoặc cơ quan ban hành, cách soạn thảo,
phát bố, lưu hành và mới chỉ đề cập tới hệ thống ngôn ngữ trong các văn bản nhóm
hành chính nghi thức, chưa phân tích nhóm văn bản xuất phát từ sự vụ hành chính
thường nhật của chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư.
2.2. Nghiên cứu ngôn ngữ chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư trong châu bản triều
Nguyễn, nhà xuất bản Văn hoá thông tin ấn hành năm 2002.
- Ngự chế văn (Dụ văn) triều Minh Mạng do Trần Văn Quyền tuyển dịch và
giới thiệu, NXB Hà Nội năm 2000.
Công trình đầu tiên chuyên sâu vào vấn đề bố cục hình thức, thể cách của
văn bản châu bản triều Nguyễn là luận văn thạc sỹ Cấu trúc nội tại của loại hình
châu bản trên cứ liệu châu bản triều Minh Mạng, bảo vệ năm 2011 của thạc sỹ
Nguyễn Thu Hoài, tuy vậy trong luận văn của mình tác giả chưa nhắc đến khía cạnh
ngôn ngữ.
17
Nhìn chung các nghiên cứu về châu bản mới chỉ dừng lại ở việc trích dịch,
giới thiệu, tìm hiểu đặc điểm hình thức hoặc khai thác giá trị về sử liệu, chưa đi sâu
và hệ thống hóa đặc điểm ngôn ngữ.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Phân loại nhóm ngôn ngữ và phân tích đặc điểm các nhóm ngôn ngữ của văn
bản quản lý nhà nước Việt Nam giai đoạn 1902 - 1945 trong châu bản hành chính
triều Nguyễn ở sáu thể loại: chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi tư liệu
Luận văn sử dụng tư liệu văn bản hành chính trong châu bản hiện lưu tại
Trung tâm Lưu trữ quốc gia I trên cơ sở tuyển chọn những văn bản tiêu biểu của 6
thể loại chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư. Điều này không ảnh hưởng lớn tới công việc
định hình hệ thống ngôn ngữ, bởi đặc điểm của văn bản hành chính là chuẩn mực
theo khuôn mẫu định sẵn. Ngoài ra, do là một luận văn thuộc chuyên ngành Hán
Nôm, chúng tôi chỉ đề cập tới các văn bản châu bản hành chính bằng chữ Hán, bỏ
qua các dạng châu bản hành chính bằng chữ quốc ngữ và tiếng Pháp trong hệ thống
châu bản.
4.2. Phạm vi nội dung
Mỗi ngôn ngữ là một chỉnh thể hoàn chỉnh cấu thành từ 3 phương diện: ngữ
âm, từ vựng và ngữ pháp, trong đó ngữ âm là biểu nghĩa bằng âm của từ vựng trong
Từ thực tế trên, chúng tôi quyết định sử dụng phương pháp luận biện chứng
của chủ nghĩa duy vật lịch sử theo chủ nghĩa Mác - Lênin, đặt ngôn ngữ trong châu
bản trong mối quan hệ đa chiều để tìm hiểu khởi nguyên, phân biệt loại hình và
đánh giá một cách toàn diện các đặc điểm chung; kết hợp sử dụng các phương pháp
phân tích, loại hình, so sánh liên văn bản và liên ngôn ngữ khi đi sâu vào đặc điểm
ngữ pháp, cấu trúc ngôn từ từng thể loại nhằm làm rõ khác biệt chi tiết của các loại
văn bản.
6. Đóng góp của luận văn
- Cung cấp cái nhìn tổng quát về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản quản
lý nhà nước trong châu bản giai đoạn 1802 – 1945, khía cạnh từ vựng và ngữ pháp.
19
- Là tư liệu tham khảo quan trọng cho các nhà ngôn ngữ học, văn bản
học, hành chính học và người nghiên cứu châu bản.
7. Cơ cấu luận văn
Phần mở đầu
1. Lý do chon đề tài.
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục tiêu nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Đóng góp của luận văn
Phần nội dung
Chương 1: Chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu tư và châu bản triều Nguyễn
1.1. Chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư
1.1.1. Khái niệm chung
1.1.2. Lịch sử hình thành
1.1.2.1. Tại Trung Quốc
1.1.2.2. Tại Việt Nam
1.2. Châu bản triều Nguyễn
Phụ lục