0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
*******
PHẠM HỮU ĐỨC
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
CỦA VĂN BẢN TIN TIẾNG VIỆT
(SO SÁNH VỚI VĂN BẢN
TIN TIẾNG ANH)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh
Mã số: 5.04.27
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Đặng Ngọc Lệ
TP. HỒ CHÍ MINH – 2008
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Người thực hiện
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM TẠ
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH SÁCH ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT-ANH
MỞ ĐẦU
Trang
1. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………..........1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề …………………………………………………2
2.1. Tình hình nghiên cứu văn bản tin của giới báo chí ……………………...2
2.1.1. Các loại hình báo chí …………………………………………………..5
2.1.2. Hành ngôn của báo chí...……………………………………………….5
2.2. Tình hình nghiên cứu văn bản tin của giới ngôn ngữ học ……………….7
2.2.1.Ngôn ngữ học hệ thống. ……………………………………………......7
2.2.2. Ngôn ngữ học hệ thống trong văn bản tin……………………………...8
3. Mục đích và ý nghĩa………………………………………………………10
3.1. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………...10
3.2. Ý nghĩa của luận án ………………………………………………….....10
3.2.1. Về phương diện lý luận.………………………………………………10
3.2.2. Về phương diện thực tiễn …………………………………………….11
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……………………………………......12
4.1. Đối tượng nghiên cứu ………………………………………………......12
4.2. Phạm vi nghiên cứu ………………………………………………….....12
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ………………………………………………….....13
4
1.8.4. Hệ thống tư tưởng ….………………………………………................44
1.9. Ngữ pháp-từ vựng, ngữ nghĩa diễn ngôn và ngữ vực…………………...45
1.10. Tiểu kết ………………………………………………………………..50
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍNH VĂN BẢN TRONG
VĂN BẢN TIN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
2.1. Tính liên kết (Cohesive harmony) ……………………………………...51
2.1.2. Các phương thức liên kết trong văn bản tin tiếng Việt và tiếng Anh... 58
2.1.2. Các phương tiện duy trì Đề ngữ …………………………………………..59
2.1.2.1. Phép lặp từ vựng …………………………………………………...59.
2.1.2.2. Phép thế đồng nghĩa……………………………………………….. 60
2.1.2.3. Phép thế đại từ…………………………………………………… ...61
2.1.2.4. Phép tỉnh lược……………………………………………………….62
2.1.3. Các phương tiện phát triển Đề ngữ …………………………………..63
2.1.3.1. Phép đối…………………………………………………………. …63
2.1.3.2. Phép liên tưởng…………………………………………………... ...64
2.1.3. Các phương tiện liên kết logic…………………………………… …..65
2.1.3.1. Phép tuyến tính…………………………………………………….. 65
2.1.3.2. Phép liên hợp (qua liên từ) ………………………………………….66
2.2. Đề ngữ và cách thức phát triển………………………………………….68
2.2.1. Các hình thức Đề ngữ trong tổ chức văn bản tin……………………...69
2.2.2. Sự lựa chọn Đề: Đề đánh dấu và Đề không đánh dấu………………...72
2.2.3. Sự phân bố Đề trong văn bản tin tiếng Việt và tiếng Anh………... ...73
2.2.3.1. Đề ngữ đơn trong văn bản tin tiếng Việt và tiếng Anh……………..73
2.2.3.2. Đề ngữ đa trong văn bản tin tiếng Việt và tiếng Anh. ……………...74
2.2.4. Các mẫu phát triển Đề phát triển trong văn bản tin tiếng Việt
và tiếng Anh………………………………………………………………....75
2.2.4.1. Mẫu Đề liên tục (Constant Theme Pattern)…………………………75
7
2.5.3.2. Các điểm dị biệt……………………………………………………105
2.5.4. Sự tương đồng và dị biệt của chủ ngữ và Tình thái trách nhiệm trong
văn bản tin tiếng Việt và tiếng Anh………………………………………...106
2.5.4.1. Các điểm tương đồng………………………………………….......106
2.5.4.2. Các điểm dị biệt……………………………………………………107
2.6. Tiểu Kết………………………………………………………………..108
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC CHỨC NĂNG HÌNH THÀNH TÍNH
VĂN BẢN TRONG VĂN BẢN TIN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
3.1. Các chức năng hình thành tính văn bản trong văn bản tin tiếng Việt
và tiếng Anh………………………………………………………………..111
3.2. Ẩn dụ tư tưởng ……………………………………………………….121
3.2.1. Danh hóa trong tiếng Việt…………………………………………...121
3.2.2. Danh hóa trong tiếng Anh…………………………………………...123
3.2.3. Các hình thức danh hóa trong văn bản tin tiếng Việt
và tiếng Anh………………………………………………………………..126
3.3. Ẩn dụ liên nhân (Tình thái trách nhiệm)……………………………....130
3.3.1. Tình thái trong tiếng Việt……………………………………………133
3.3.2. Tình thái trong tiếng Anh……………………………………………134
3.3.3. Siêu chức năng liên nhân trong cú khi cú là một sự trao đổi………..135
3.3.4. Thức, nghĩa liên nhân và không khí diễn ngôn trong văn bản tin
tiếng Việt và tiếng Anh ……………………………………………………137
3.3.5.Các trường hợp dùng tình thái khác …………………………………142
3.4. Ẩn dụ văn bản………………………………………………………….144
3.4.1.Ẩn dụ văn bản là quan hệ liên kết nội bộ.……………………………144
3.4.2.Các kết tố (liên từ) trong văn bản tin tiếng Việt và tiếng Anh……….144
3.5. Nhận xét vế các điểm tương đồng và dị biệt của các hình thức
ẩn dụ văn bản trong văn bản tin tiếng Việt và tiếng Anh…………………..146
CÁC PHỤ LỤC…………………………………………………………...215
9
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.1. Kết cấu của văn bản tin…………………………………………...18
Hình 1.2. Mô hình giao tiếp của Jakobson…………………………………..21
Hình 1.3. Quá trình thông tin giao tiếp……………………………………....21
Hình 1.4. Các nguồn tạo tính văn bản…………………………………….....41
Hình 1.5. Văn cảnh là hình thức nội dung của ngôn ngữ …………………...46
Hình 1.6. Hệ thống tương tác giữa ngữ cảnh, ngữ pháp-từ vựng, và ngữ nghĩa
diễn ngôn…………………………………………………….........................48
Hình 2.1. Sự phát triển của Vĩ đề, Đề, Thông tin Mới………………………87
Hình 2.2. Sự tương tác phát triển của Siêu Đề, Thông tin Mới……………...87
Hình 2.3. Tỉ lệ xuất hiện các đại từ trong văn bản tin tiếng Việt và văn bản
tin tiếng Anh ………………………………………………………………...98
Hình 2.4. Tỉ lệ xuất hiện các hình thức Đề trong văn bản tin tiếng Việt
và văn bản tin tiếng Việt và tiếng Anh …………………………………….103
Hình 3.1. Tỉ lệ Danh hóa trong văn bản tin tiếng Việt và tiếng Anh............148
Hình 4.1.Giản đồ văn bản tin………………………………………………152
10
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Các siêu năng và khúc xạ của chúng trong ngữ pháp………….....22
Bảng 1.2. Mối tương quan mô hình tương tác, các siêu chức năng và ngữ
Bảng 3.4. Sự hiện thực hóa ẩn dụ và phù hợp với nghĩa liên nhân………...132
Bảng 3.5. So sánh việc sử dụng siêu chức liên nhân và kinh nghiệm…….. 137
Bảng 3.6. Siêu chức năng kinh nghiệm và liên nhân trong ngôn ngữ
của đơn từ, quảng cáo và thông báo……………………………………......137
Bảng 3.7. So sánh danh hóa trong tiếng Việt và tiếng Anh………………...147
Bảng 3.8. Danh hóa trong văn bản tin tiếng Việt…………………………. 148
Bảng 3.9. Danh hóa trong văn bản tin tiếng Anh…………………………. 148
Bảng 4.1. Cách đưa tin một văn bản tin tiếng Việt………………………...155
Bảng 4.2. Cách đưa tin một văn bản tin tiếng Anh………………………...156
Bảng 4.3. Cách đưa tin một văn bản tin phát thanh truyền hình tiếng Việt..172
Bảng 4.4. Cách đưa tin một văn bản tin phát thanh truyền hình tiếng Anh..172
12
DANH SÁCH ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT-ANH
DÙNG TRONG LUẬN ÁN
Biến thái
modulation
Cá thể ngoại vi
peripheral token
Cá thể quan yếu
relevant token
Cách thức phát triển
Cú pháp
syntax
Đề (ngữ)
theme
Đề đa
mutiple-theme
Đề đơn
single-theme
Đề hóa
thematization
Đích thể
goal
Dịch vụ
service
Điểm
Hệ thống liên từ
conjunction & continuity
Hệ thống nhận dạng
identification
Hệ thống thương thuyết
negotiation
Hệ thống tư tưởng
ideation
Hồi chỉ
anaphora
Không khí diễn ngôn
tenor
Khứ chỉ
cataphora
Khuyến nghị
Ngữ nghĩa diễn ngôn
discourse semantics
Ngữ pháp từ vựng
lexico-grammar
Ngữ vực
register
Nội chỉ
endophora
Phân danh
meronym
Phi cấu trúc
non-structural
Phóng chiếu
projecting
Phương thức cú pháp
Sự mạch lạc
coherence
Sự tương tác
interaction
Tham tố
participant
Thông tin Mới tổng quát
macro-new
Thông tin mới
new
Thượng danh
superordinate
Tính cấu trúc
structural
Tính không tiết kiệm
Văn bản
textual
Vĩ đề
macro-theme
15
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những năm vừa qua chúng ta đã chứng kiến sự bùng nổ thông tin trong
mọi hình thức báo chí ở Việt Nam. Một trong những điều đặc biệt có thể thấy
rõ là lượng thông tin báo chí từ nước ngoài đổ vào Việt nam là khá lớn, đặc
biệt là các tin bằng tiếng Anh. Cùng với sự lớn mạnh của báo chí trong nước,
ảnh hưởng của báo chí nước ngoài đối với công tác truyền thông ở Việt Nam
là một điều hầu như không còn phải bàn cãi. Tuy nhiên có những tương đồng
lẫn dị biệt về nội dung và hình thức của cả hai luồng báo chí này, trong đó có
khía cạnh về mặt ngôn ngữ.
Về mặt lý thuyết, cách truyền đạt thông tin nói chung và báo chí nói
riêng chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Về mặt thực tế, người Việt
Nam ngày càng có nhu cầu quan tâm nhiều hơn đến thời sự thông qua báo chí
tiếng Việt và tiếng Anh. Để đáp ứng nhu cầu này, các báo chí tiếng Việt cũng
càng ngày càng cập nhật tin tức để có thể theo kịp với đà phát triển của báo
chí nước ngoài nói chung và báo chí nước ngoài viết bằng tiếng Anh nói
riêng.
Trong bối cảnh như vừa nêu trên, chúng tôi chọn văn bản tin (VBT) của
cả tiếng Việt và tiếng Anh làm đối tượng nghiên cứu của mình vì những lý do
ngữ học thì vấn đề không đơn giản như vậy. Các nhà nghiên cứu báo chí nói
chung và ngôn ngữ báo chí nói riêng chưa tiếp cận báo chí một cách hiệu quả
vì họ không xác định rõ đối tượng nghiên cứu. Cho đến bây giờ đã có một số
định nghĩa về ngôn ngữ báo chí. Nhưng những định nghĩa này chỉ là tập hợp
các khái niệm không đồng nhất và không khái quát được các đặc trưng của
đối tượng nghiên cứu. Và như thế, VBT có thể là một mẩu tin, một bài tường
thuật trên báo nói (đài phát thanh), báo hình (truyền hình) hoặc trên báo in,
cung cấp các thông tin mới về các sự việc đã xảy ra.
17
2.1.1.Các loại hình báo chí
Báo chí thường được chia ra các loại hình: báo in, báo nói (phát thanh),
báo hình (truyền hình), báo điện tử trên mạng Internet, hoặc mạng Intranet
(mạng nội bộ); đây đều là các loại hình hoạt động thông tin chính trị - xã hội.
Trong quá trình hình thành và phát triển báo chí, các thể loại cũng được hình
thành và xác lập, phù hợp với nội dung, mục đích và tôn chỉ hoạt động. Mỗi
thể loại có những đặc thù riêng, chỉ rõ tính chất ổn định của thể loại báo chí.
Việc phân chia nhóm và thể loại báo chí hiện nay trên thế giới còn nhiều
ý kiến khác nhau. Vào những năm 70 của thế kỷ XX, các nhóm thể loại báo
chí được chia như sau:
1. Nhóm thể loại Tin – thông tấn: nhóm này tái tạo lại những khía cạnh
của thực tế đã được quan sát trực tiếp, bao gồm các tin ngắn, phóng sự, tường
thuật, ghi nhanh.
2. Nhóm thể loại Chính luận – khoa học: nhóm này là thể loại phản ánh
bản chất của hiện thực khách quan, sử dụng các phương pháp nhận thức logic
để có thể đưa ra bức tranh chung cho cuộc sống. Nhóm này gồm các bài thông
tấn, bài báo, bài tổng thuật, điểm báo, bình luận.
3. Nhóm thể loại Chính luận – nghệ thuật: nhóm này có đặc trưng là sự
tượng, quá trình để phân tích, bình luận đánh giá, nhận xét một vấn đề nào đó,
đưa ra một kết luận có tình khái quát giúp công chúng nhận thức vừa bằng lý
trí vừa bằng tình cảm. Nội dung của nhóm chính luận là sự thật được coi là
những luận cứ từ đó phát triển thành luận chứng (lý lẽ). luận chứng phải phát
xuất từ luận cứ và gắn bó với luận cứ. Do các tác phẩm thuộc nhóm này là
hình thức cung cấp cho công chúng lý lẽ để hiểu sự thật, cho nên thông tin lý
lẽ là tính vượt trội của nhóm chính luận.
3. Nhóm chính luận nghệ thuật gồm có ký (phóng sự, bút ký, ký sự, ký
chân dung, ký chính luận, tiểu phẩm, câu chuyện báo chí. Đặc điểm của nhóm
này là sự kết hợp uyển chuyển, tự do giữa các yếu tố chính luận (tư liệu, sự
19
kiện lý lẽ - luận cứ, luận chứng, luận điểm) với yếu tố văn nghệ (hình ảnh,
cảm xúc, thái độ, khái quát...) nhằm phản ánh và giải quyết vấn đề. Tình trội ở
nhóm chính luận nghệ thuật là thông tin thẩm mỹ. Tuy nhiên, do đặc điểm
bao trùm của báo chí là thông tin sự kiện, cho nên nhóm này ít nhiều cũng
mang đặc điểm của nhóm thông tấn và nhóm chính luận.
Việc phân chia ba nhóm thể loại báo chí như trên chỉ mang tính tương
đối, vì trong mỗi nhóm đều mang đặc điểm của cả hệ thống thể loại, đều có sự
kết hợp giữa thông tin sự kiện, thông tin lý lẽ và thông tin thẩm mỹ. Các thể
loại được hình thành trong các nhóm khác nhau đều có chung một đặc điểm
nào đó làm nên đặc điểm chung của nhóm. Việc phân chia thành nhóm lớn và
các thể loại báo chí đều dựa theo nguyên tác tính trội trong khả năng thông tin
của từng thể loại và nhóm.
Trong các thể loại báo chí, không có một thể nào tồn tại bất biến. Các thể
loại đang thay đổi theo chiều hướng chung của thời đại. Cùng với sự vận
động và phát triển ấy sẽ luôn xuất hiện các thể loại mới và sẽ có những thể
loại bị đào thải hoặc ít sử dụng, vì không còn đáp ứng được nhu cầu chung
độc lập và công bằng [96, tr.112].
Cần chú ý rằng khi đọc báo để lấy thông tin, độc giả cốt tìm chi tiết
thông tin mà họ cần. Cách viết chỉ chiếm vị trí thứ hai và không quan trọng
đối với người xem. Do vậy hiếm khi người ta đọc một bài báo từ đầu đến
cuối, họ chỉ đọc một số hàng hoặc đoạn nào đó mà vẫn có ấn tượng là đã xem
hết cả tờ báo. Nói cách khác, độc giả chỉ đọc những gì mà họ quan tâm trong
một bài báo, và khi đọc xong những gì đáng quan tâm, họ cho là đã đọc trọn
bài báo.
Bên cạnh đó, chuẩn mực ngôn ngữ luôn là vấn đề lớn trong ngôn ngữ
học. Nó được nhắc đến rất nhiều trong các tài liệu ngôn ngữ học ở nước ngoài
cũng như ở Việt Nam. Thế nhưng chuẩn mực ngôn ngữ báo chí nói riêng và
ngôn ngữ báo chí nói chung thì lại là một địa hạt rất mới mẻ ở Việt Nam.
21
Ngoài ra, vấn đề định lượng và định tính cũng hết sức quan trọng trong
ngôn ngữ báo chí. Ngôn ngữ của phong cách thông tấn báo chí chủ yếu là
ngôn ngữ thông tin sự kiện. Cho nên ngôn ngữ thông tin phải là “ngôn ngữ
định lượng” chứ không phải định tính [51, tr.67-68]. Mọi diễn đạt của VBT
đều phải bằng một hình thức cô đúc ngắn gọn nhất, truyền tải được một lượng
thông tin tối đa.
2.2. Tình hình nghiên cứu văn bản tin của giới ngôn ngữ học
Phân tích cấu trúc của VBT là phân tích các khía cạnh diễn ngôn của
VBT. Phân tích diễn ngôn là một lĩnh vực nghiên cứu mới, liên ngành có liên
quan đến nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác, trong đó có ngôn ngữ học. Sự
phát triển của ngành diễn ngôn hiện đại bắt đầu từ cuối những năm 1960, mặc
dù trước đó hơn 2000 năm, Aristotle đã đề cập đến cấu trúc diễn ngôn và chỉ
ra sức thuyết phục của nó khi dùng trong các bài viết cho công chúng.
Trong các ngành phân tích diễn ngôn xuất hiện vào những năm 1960, có
Có nhiều hướng của ngôn ngữ học hiện nay tập trung vào câu, nhưng về
mặt lý thuyết ngôn ngữ, người ta ngày càng chấp nhận một cách mô tả ngôn
ngữ có hệ thống kết hợp với các hình thức diễn ngôn. Và như vậy, trong
những năm gần đây, ngữ pháp văn bản, một nhánh của ngôn ngữ học văn bản
đã cùng hòa quyện với ngành phân tích diễn ngôn, góp phần vào phân tích
diễn ngôn truyền thông và làm rõ cấu trúc văn bản của VBT.
2.2.2. Ngôn ngữ học hệ thống trong văn bản tin
Thể loại tin tức là thể loại tiêu biểu nhất cho phong cách báo chí, xét trên
nhiều bình diện. Tuy nhiên việc nghiên cứu những đặc điểm của ngôn ngữ
báo chí nói chung, đặc điểm của VBT nói riêng, dựa trên lý thuyết ngữ pháp
chức năng, vận dụng cấu trúc Đề-Thuyết, vẫn đang là một đề tài mở mà thành
tựu về chúng chưa nhiều. Do vậy việc tiếp tục làm rõ thêm một số đặc điểm
ngôn ngữ, đặc biệt là việc vận dụng các tri thức của ngành diễn ngôn để tiếp
cận cũng là một việc cần làm và rất có ích. Nội dung của thể loại VBT bao
23
trùm hầu hết các phương diện của đời sống, với lối viết ngắn gọn độc đáo, bút
pháp linh hoạt dễ cuốn hút người đọc.
Ở cấp độ ngôn ngữ học, báo chí không thể chỉ sử dụng lý thuyết ngôn
ngữ học về câu, vì những lý thuyết này không cho người ta vượt khỏi giới hạn
câu để nghiên cứu lĩnh vực hành ngôn trong đó câu không còn là giới hạn
cuối cùng mà ngược lại nó trở thành đơn vị nhỏ nhất [47, tr.60].
Điều rõ ràng là trong phân tích hoạt động ngôn ngữ nói chung và ngôn
ngữ báo chí nói riêng, ngữ dụng luôn gắn bó với cú pháp và ngữ nghĩa. Cho
nên cần tính đến những hiện tượng ngôn ngữ liên quan đến các hoạt động
giao tiếp như trực chỉ (deixis), đề hóa (thematization), tự quy chiếu
(autoreference), tình thái (modalities). Chính những hiện tượng ngôn ngữ này
cho phép xác định được đâu là nguồn thông tin; biết được ai nói với ai; bài
một VBT dựa trên lý thuyết ngữ pháp chức năng, trong đó luận án chú trọng
đến đặc điểm ngôn ngữ là tính văn bản (texture). Trên cơ sở các kết quả
nghiên cứu, luận án sẽ thẩm định lại sự ứng dụng của việc mô hình hóa trong
phương pháp viết một VBT, nhận dạng một VBT, cách rút gọn cũng như đơn
giản hóa một VBT. Luận án cũng đề cập đến phương pháp chuyển dịch từ
tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại.
3.2. Ý nghĩa của luận án
3.2.1. Về phương diện lý luận
Luận án dựa trên lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống liên quan đến
cấu trúc văn bản, chú trọng vào chính văn bản hơn là cú. Nếu Halliday (1985)
dựa trên sự đối lập giữa ngữ pháp và phương thức liên kết, thì Martin [126,
tr.1] dựa chính vào sự đối lập giữa ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Luận án là một cố gắng đi theo hướng nghiên cứu này của Martin, sẽ
ứng dụng ngữ pháp chức năng để phân tích các VBT tiếng Anh – một ngôn
ngữ biến hình và tiếng Việt – một ngôn ngữ đơn lập. Thông qua phân tích