đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN THANH NGUYỆN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
CỦA CÁC VĂN BẢN BÁO CHÍ
(TRÊN CỨ LIỆU BÁO BÌNH DƯƠNG)
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 5.04.08
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Trònh Sâm


rất nghiêm ngặt, được xem như là một ngôn ngữ chuẩn mực (để người thụ ngôn hiểu và
hiểu đúng thông tin).
Tuy nhiên, trên hầu hết các báo hiện nay, người ta có thể tìm thấy khá nhiều
những lỗi dùng từ, những lỗi viết câu, những cách diễn đạt có tính chất mơ hồ về nghóa,
v.v… Thậm chí có những bài mà cách tổ chức văn bản không phù hợp với đặc điểm phong
cách chức năng. Điều này làm ảnh hưởng không ít đến chất lượng thông tin và tất nhiên
là ảnh hưởng đến nhận thức, thẫm mỹ và cả khả năng ngôn ngữ của người đọc.
Khảo sát thực tế sử dụng ngôn ngữ trên các văn bản báo chí hiện nay, tìm ra
nguyên nhân và hướng khắc phục những lỗi sai sót thường gặp là mục tiêu ban đầu để
chúng tôi đi đến lựa chọn đề tài “ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÁC VĂN BẢN BÁO
CHÍ” (trên cứ liệu báo viết Bình Dương). Qua đó, trong một chừng mực nhất đònh, luận
văn sẽ trình bày những đặc điểm của phong cách ngôn ngữ báo chí, góp thêm những ý
kiến về việc chuẩn hóa ngôn ngữ trên các phương tiện thông tin đại chúng nói chung và
báo chí nói riêng.
0.2. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
0.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Ngôn ngữ được dùng trong phong cách báo chí tồn tại ở cả dạng nói và dạng viết
trên các phương tiện in ấn (báo viết), phát thanh (báo nói) và truyền hình (báo hình).
Nhưng như giới hạn đã nêu ở đề tài, đối tượng nghiên cứu của luận văn là cứ liệu ngôn
ngữ trên báo viết và chỉ với báo viết ở Bình Dương từ năm 1997 (thời điểm tái lập tỉnh)
đến nay. Trong quá trình xem xét, luận văn cũng sử dụng một số cứ liệu ngôn ngữ trên
các báo viết tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích đối chiếu so sánh để làm rõ hơn
những vấn đề nêu ra có liên quan.
0.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Có nhiều vấn đề cần nói về việc sử dụng ngôn ngữ trên báo hiện nay. Tuy nhiên,
trong phạm vi có thể, luận văn chủ yếu nghiên cứu đặc điểm chung của phong cách ngôn
ngữ báo chí, cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (ngữ âm và chữ viết, từ vựng,
ngữ pháp), và cách thức tổ chức ngôn ngữ trên văn bản một số thể loại tin tức, bình luận,
ký, tiểu phẩm,v.v. Đối với thể loại quảng cáo, dù chiếm một số trang đáng kể trên các
báo hiện nay nhưng vì nó có những đặc thù riêng (về đối tượng, về mục đích) nên người

tương đồng và khác biệt; từ đó các kết luận có được vừa mang tính cụ thể, vừa có thể
khái quát.
-Phương pháp cú pháp - ngữ nghóa: là phương pháp đặc trưng để nghiên cứu ngữ
nghóa, chức năng, cấu trúc của các đối tượng đã thống kê (các yếu tố được đặt trong hệ
thống và xem xét trên nhiều bình diện).
-Phương pháp mô hình hóa: để trình bày một cách hệ thống, mô hình các thể loại
văn bản, cách tổ chức ngôn ngữ của từng thể loại và miêu tả quan hệ của các đối tượng
khảo sát (dưới dạng các bảng biểu, sơ đồ).
Trong quá trình nghiên cứu, các thủ pháp, phương pháp được vận dụng kết hợp; có
khi tùy vào từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối tượng cụ thể mà sử dụng chủ yếu
một phương pháp thích hợp.
0.4. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Phong cách học là bộ môn đã có từ rất lâu trên thế giới với tên gọi ban đầu là
Thuật tu từ ( rhetoric). Nhưng chỉ đến đầu thế kỷ XX, với công trình “Khảo luận về phong
cách học tiếng Pháp”(1909) của Charles Bally, nó mới thật sự được khẳng đònh là một
ngành học độc lập. Ở Việt Nam, phong cách học tiếng Việt được chính thức biết đến từ
thập niên 80 trở lại đây (mà tiền thân là bộ môn Tu từ học trong các giáo trình đại học).
Những thành tựu bước đầu của phong cách học tiếng Việt đã được ứng dụng trên nhiều
lãnh vực như giải mã ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, miêu tả các phong cách chức
năng, lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ thích hợp trong từng phạm vi giao tiếp, v.v. Tuy
nhiên cũng còn khá nhiều vấn đề chưa được thống nhất trong giới ngữ học.
Trong bối cảnh chung này, vò trí của phong cách ngôn ngữ báo chí cũng chưa được
quan tâm thích đáng. Có tác giả cho là “các tin tức đưa trên báo chí, dưới các hình thức
lược thuật, điều tra, phóng sự, v.v. ít nhiều có tính chất bình giá” là thuộc phong cách
chính luận
[Cù Đình Tú,1983, tr.151].
Cũng có tác giả không đưa “phong cách ngôn ngữ báo
chí-tin tức” vào hệ thống các phong cách chức năng “vì phong cách này cũng bao gồm
nhiều phong cách phức tạp”
[Nguyễn Nguyên Trứ,1988,tr.19].

số vấn đề như thuật ngữ báo chí, ngôn ngữ bản tin, ngôn ngữ quảng cáo,v.v… Thật ra, đây
chỉ là những mảng đề tài riêng lẻ và thiên về kỹ thuật viết lách, biên tập hơn là khảo sát
đặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí. Năm 2001, Vũ Quang Hào khi công bố công
trình Ngôn ngữ báo chí (Nxb ĐHQG Hà Nội) đã khẳng đònh là chưa có một công trình
nào như vậy trước đó. Tác phẩm này, như tác giả đã nói, là tập bài giảng dành cho sinh
viên khoa báo chí nên dù đã có nhiều ý kiến rất giá trò về các vấn đề ngôn ngữ chuẩn
mực, tên riêng, thuật ngữ, tít báo nhưng phần khảo sát về đặc điểm tổ chức ngôn ngữ của
các văn bản thì lại quá sơ lược, có lẽ do tác giả này chỉ xem xét vấn đề dưới quan điểm
của báo chí học. Cũng nhìn từ góc độ này, tác giả Nguyễn Tri Niên trong tác phẩm Ngôn
ngữ báo chí (2003, Nxb Tổng hợp Đồâng Nai) đã chỉ ra ba đặc điểm loại hình của ngôn
ngữ báo chí: ngôn ngữ sự kiện, ngôn ngữ đònh lượng, ngôn ngữ của độ không xác đònh và
xem xét ngôn ngữ báo chí trong nhiều mối quan hệ: quan hệ phản ánh, quan hệ đối xứng,
quan hệ liên tưởng. Đây là một cách nhìn mới mẻ, xuất phát từ bản chất của thông tin
báo chí. Tuy nhiên, các vấn đề chỉ mới được nhìn nhận như những nguyên tắc trong việc
sử dụng ngôn ngữ đối với nhà báo. Cách tiếp cận này có lẽ xuất phát từ sự phân biệt khá
cực đoan của chính tác giả: “Ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ là hai lónh vực khác
nhau”
[tr.13]
.
Một số quan điểm rất đáng chú ý khi xem xét đặc điểm ngôn ngữ báo chí theo
hướng “động”, “hai chiều” - nghóa là những biến đổi của ngôn ngữ trên báo hiện nay
không chỉ vì thực hiện chức năng đa dạng của nó đối với xã hội mà còn vì chòu sự tác
động nhiều mặt của thời đại đối với chính nó.
Hoàng Tuệ, trong bài viết Người giáo viên trước các vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt
(1983), khi bàn về hoạt động ngôn ngữ cũng đã xác đònh báo chí hiện nay thuộc phạm vi
thông tin đại chúng và theo hướng phát triển tương lai, nó sẽ thuộc phạm vi giao tiếp
khoa học - kỹ thuật.
Trònh Sâm, trong bài viết Đặc trưng ngôn ngữ của phong cách báo chí trong thời
đại thông tin (2001, Đi tìm bản sắc tiếng Việt, Nxb Trẻ) đã đặt ra một hướng tiếp cận
mới: tiếp cận trên bình diện ngoại tại của ngôn ngữ. Theo tác giả này, mối tương quan

1.2.1. Vấn đề chính âm
1.2.2. Vấn đề viết tắt
1.2.3. Vấn đề trình bày kiểu chữ
1.3. Đặc điểm về từ vựng
1.3.1. Từ vựng xét về mặt phạm vi sử dụng
1.3.2. Từ vựng xét về mặt nguồn gốc
1.3.3. Từ vựng xét về mặt phong cách
1.4. Đặc điểm về ngữ pháp
1.4.1. Vấn đề lựa chọn các kiểu loại câu
1.4.2. Vấn đề phân đoạn và liên kết câu
1.4.3. Vấn đề tổ chức câu theo khuôn mẫu
1.5. Đặc điểm về tổ chức văn bản
1.5.1. Về thể loại văn bản
1.5.2. Về kết cấu văn bản
1.5.3. Về cấu trúc nội dung văn bản
1.6. Tiểu kết
Chương hai: Một số vấn đề về ngôn ngữ trên báo Bình Dương
2.1. Giới thuyết chung
2.1.1. Vài nét về Bình Dương
2.1.2.
Về lòch sử báo Bình Dương
2.1.3. Về ngôn ngữ báo Bình Dương
2.2. Những vấn đề về ngữ âm và chữ viết
2.2.1. Về chính tả
2.2.2. Về viết tắt và viết hoa tên riêng
2.2.3. Việc sử dụng từ ngữ tiếng nước ngoài
2.3. Những vấn đề về từ vựng
2.3.1. Lỗi về từ vựng - ngữ nghóa
2.3.2. Lỗi về từ vựng - cú pháp
2.3.3. Lỗi về phong cách

3.5.2. Những yêu cầu về chuẩn văn bản báo chí
3.5.3. Mấy ý kiến bàn luận thêm
3.6. Tiểu kết
CHƯƠNG MỘT
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA PHONG CÁCH BÁO CHÍ 1.1. GIỚI THUYẾT CHUNG
1.1.1 Khái niệm
Phong cách ngôn ngữ báo chí (phong cách báo chí) là phong cách ngôn ngữ được
dùng trên các văn bản báo chí dưới hình thức báo viết, báo nói và báo hình. Báo viết là
các loại báo in như nhật báo, tuần báo, nguyệt san, tạp chí, v.v… Báo nói là các văn bản
được phát ngôn trên sóng phát thanh. Báo hình là những thông tin bằng hình ảnh (có kèm
lời thuyết minh) trên kênh truyền hình. Cả ba có chung một đặc điểm là đều sử dụng
ngôn ngữ làm phương tiện để chuyển tải thông tin đến với công chúng, tuy mức độ nhiều
ít và những đặc trưng riêng có khác.
Ngôn ngữ báo chí là kiểu ngôn ngữ phi nghệ thuật tồn tại dưới cả dạng nói và dạng
viết trong các thể loại như tin, bình luận, phỏng vấn, ký, phóng sự, v.v. Để đáp ứng nhu
cầu thông tin nhanh nhạy, kòp thời về mọi lónh vực, ngôn ngữ báo chí sử dụng hầu hết các
lớp từ toàn dân với cách thức diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và tuân theo chuẩn mực
chung của xã hội. Trong mối quan hệ với hiện thực, ngôn ngữ báo chí chính là tin tức, sự
kiện được thể hiện qua ngôn từ. Nhìn từ góc độ giao tiếp, sự kiện tin chính là sự kiện giao
tiếp đã được mã hoá trong các thông điệp mà người viết muốn gửi đến người đọc (là
đông đảo công chúng). Vì thế ngôn ngữ báo chí có nhiều đặc trưng rất riêng và chòu khá
nhiều yếu tố chi phối.
1.1.2. Những yếu tố quy đònh đặc điểm của ngôn ngữ báo chí
1.1.2.1. Yếu tố chức năng
Báo chí có hai chức năng chính là thông tin và tác động.
Ngay từ buổi đầu hình thành, báo chí đã tồn tại với chức năng thông tin. Người ta
xem một tờ báo, trước hết là xem những thông tin cần biết về một công việc, về một món

những vấn đề thời đại. Tính chất thời đại của báo chí gắn liền với sự kiện tin - sự kiện
mới, tiêu biểu, nằm trong xu thế vận động và phát triển của thời đại. Một tờ báo mang
tầm thời đại không có chỗ cho những sự kiện giật gân, rẽ tiền, chạy theo những thò hiếu
tầm thường. Vì thế, cũng có thể nói, thông tin báo chí là thông tin thời đại. Điều này dẫn
đến một yêu cầu có tính bắt buộc là ngôn ngữ báo chí phải chuẩn mực, tiến bộ, hòa nhập
phát triển nhưng không được lai căng, lố bòch mà phải đảm bảo được bản sắc riêng của
ngôn ngữ dân tộc (tính thời đại không phủ nhận tính kế thừa).
Ngoài ra, hàng loạt những vấn đề khác như: sự phát triển không ngừng của các
phương tiện kỹ thuật, sự giao lưu hội nhập toàn cầu trên nhiều lónh vực, khả năng cạnh
tranh thông tin, v.v. cũng đang đem đến cho báo chí nhiều năng lực mới, những yêu cầu
mới.
Chính những đặc điểm về chức năng, về thể loại và các yếu tố thời đại đã buộc
thông tin báo chí trở thành thông tin nén. Đó là thông tin của sự kiện diễn ra trong một
không gian có thể rất rộng nhưng lại được chuyển tải trong một thời gian rất ngắn. Đó
cũng có thể là thông tin mà bằng một hình thức biểu hiện tối thiểu phải chuyển tải được
một nội dung thông tin tối đa.
1.1.3. Đặc điểm chung của ngôn ngữ báo chí
1.1.3.1. Trong ý nghóa đó, thông tin báo chí phải là thông tin mới. Xu hướng khám
phá, tìm tòi những gì mới mẻ là xu hướng thuộc về bản chất của con người. Ở góc độ
này, nhà báo - người phát tin - phải có năng lực “đặc biệt mẫn cảm, nhanh nhạy, kòp thời
phát hiện đúng và trúng những hiện tượng mới, những vấn đề mới muôn mặt của xã hội”
[Nghề báo-14/2003,tr.16]
; còn độc giả - người nhận tin - chỉ thật sự quan tâm đến những gì
mới lạ, hấp dẫn “tin tức là những gì thời sự, trung thực và hấp dẫn công chúng”
[Leonard
Rayteel-Ron Taylor;1993,tr.214]
. Từ đó, thông tin báo chí cũng phải là thông tin chính xác.
Thông tin được quy chiếu trong một không gian cụ thể, trong một thời gian xác đònh.
Thông tin có giá trò biểu vật. Hiện thực được quy chiếu trong tác phẩm báo chí phải đồng
nhất với thực tại. Thông tin chính xác không chỉ thỏa mãn nhu cầu nhận thức mà còn có

những quy đònh rất nghiêm ngặt đối với thứ chất liệu này.
1.2.1. Vấn đề chính âm
Phong cách ngôn ngữ báo chí là kiểu phong cách dùng trong giao tiếp mang tính
chính thức xã hội, cho nên nhu cầu chuẩn mực, hướng đến chuẩn mực là đặc điểm cơ bản
nhất trong việc sử dụng các phương tiện ngữ âm và chữ viết. Hơn nữa, chức năng tác
động của báo chí lại rất đặc thù: tác động tức thời đến đông đảo công chúng về nhận
thức, về thẫm mỹ và cả khả năng sử dụng ngôn ngữ. Do vậy, viết đúng chính tả, nghóa là
đúng theo các quy tắc hệ thống chữ viết của một ngôn ngữ là yêu cầu hàng đầu của chữ
viết trên các văn bản báo chí.
Mặt khác, bản thân ngữ âm là một hệ thống bền vững, khép kín, ít thay đổi. Chữ
viết tiếng Việt với hệ thống 22 âm đầu, 16 âm chính, 2 âm đệm, 8 âm cuối và 6 thanh
điệu có khả năng biểu thò rõ âm thanh lời nói và tạo ra đủ các đơn vò giao tiếp. Tiếng
Việt là một ngôn ngữ âm tiết tính, âm tiết tiếng Việt có giá trò phân giới hình thái học rất
rõ ràng - sự tri giác ngôn ngữ của người Việt vốn dựa trên cơ sở này. Hiện nay, do tác
động của thời đại, tiếng Việt đã vay mượn nhiều từ ngữ tiếng nước ngoài. Điều này là
một nhu cầu tất yếu, vấn đề là phải tuân theo những quy ước đã được thống nhất về cách
đọc, cách viết, cách phân giới âm tiết những từ ngữ vay mượn này.
Cũng theo hướng chuẩn mực mà phương ngữ ít được dùng trên các văn bản báo
chí. Hiện nay, báo trung ương và đặc biệt là báo đòa phương luôn có những tin, bài viết
về tình hình kinh tế xã hội ở đòa phương. Việc viết và nói theo tiếng đòa phương có tác
động trực tiếp đến sự tiếp nhận và hiểu đúng thông tin; có tác dụng bảo tồn những đặc
trưng văn hóa riêng của vùng miền mà trong nhiều trường hợp khó thay thế bằng từ ngữ
toàn dân. Nhưng do yêu cầu thông tin rộng rãi, hướng đến chuẩn mực xã hội nên chữ viết
trên báo không thể ghi theo cách phát âm đòa phương. Thực tế hiện nay, người Việt ở
nhiều vùng khác nhau nói nhiều phương ngữ khác nhau nhưng đều thống nhất chung về
mặt chữ viết.
1.2.2. Vấn đề viết tắt
Viết tắt là một đặc điểm khá nổi trội của chữ viết thuộc phong cách báo chí. Một
thống kê cho thấy, cứ trung bình một trang báo (khổ 42x58) có từ 2 đến 38 đơn vò viết tắt
[

(1)
“Một phụ nữ mang trả cho thư viện tại bang Connecticut, Hoa Kỳ một quyển sách đã mượn
cách nay 94 năm. Đó là quyển mang tựa đề Tuyển chọn 100 tác phẩm văn học. Bà Kelly
Woodward mang trả cho thư viện công cộng Vemon, lẽ ra phải là vào ngày 3-5-1903, do ông nội
của mình ký tên thuê mướn. Với tiền thuê sách lúc đó là 2 cent/ngày, cho đến nay bà phải trả là
685 USD! Tuy nhiên, ban giám đốc thư viện quá mừng rỡ với nghóa cử cao đẹp này,chẳng những
tha cho tiền thuê sách mà còn tặng cho bà một tấm bằng khen nữa!”
(CA -16/8/2003)
Văn bản trên dùng nhiều từ ngữ thuần Việt: mượn, trả, sách, mừng rỡ, cho, tặng,
dùng cả nhiều từ Hán Việt: phụ nữ, thư viện, giám đốc, tác phẩm văn học là những từ ngữ
rất quen thuộc với người Việt.
1.3.1.2. Đôi khi ta cũng thấy xuất hiện những từ ngữ chuyên ngành, những thuật
ngữ khoa học trên các bài báo. Chẳng hạn, bản tin ngắn sau:
(2)

“Bộ Y Tế vừa hoàn tất dự thảo phát đồ chẩn đoán và điều trò bệnh viêm não cấp ở trẻ.
Theo đó khi trẻ có các biểu hiện: sốt cao 39 - 40
0
C, kém linh hoạt, nhức đầu, co giật, rối loạn tiêu
hóa… phải tiến hành chống co giật, chống suy hô hấp, truyền dòch kèm điện giải…”
(TT- 31/5/2003)

dùng hàng loạt những từ ngữ chuyên môn y học: chẩn đoán, điều trò, viêm não cấp, truyền
dòch, điện giải, v.v. nhưng người đọc vẫn hiểu được nội dung. Đã có một sự chuyển hóa,
xâm nhập lẫn nhau giữa lớp từ vựng toàn dân và thuật ngữ. Không ít thuật ngữ đã được
hình thành trên cơ sở của những từ ngữ thông dụng hàng ngày.
1.3.1.3. Khác với lớp từ toàn dân, tiếng lóng và từ đòa phương được dùng rất hạn
chế trên các văn bản báo chí. Tiếng lóng vốn chỉ gắn liền với một tầng lớp nào đó, trong
một điều kiện hoàn cảnh nào đó nên chỉ có giá trò nhất thời (thường chỉ dùng trong phong
cách khẩu ngữ). Một số tiếng lóng không thô tục đôi khi được dùng trong phong cách văn

biên tập viên, thư ký tòa soạn, cộng tác viên, ký giả, nhà báo, phóng viên, đặc phái viên,
phát thanh viên,v.v. và người thụ ngôn: độc giả, khán giả, thính giả, công chúng,v.v. Đây
chính là lớp từ chuyên dùng của phong cách ngôn ngữ báo chí.
1.3.2. Đặc điểm từ vựng xét về mặt nguồn gốc
1.3.2.1. Xét về mặt nguồn gốc, trong các văn bản tiếng Việt nói chung, văn bản
báo chí tiếng Việt nói riêng đều có mặt của các đơn vò từ ngữ thuần Việt, từ ngữ gốc Hán
và từ vay mượn tiếng nước ngoài. Khả năng sử dụng của mỗi loại không như nhau tùy
vào từng giai đoạn phát triển xã hội - ngôn ngữ, tùy vào từng thể loại phản ánh. Khảo sát
lòch sử từ vựng tiếng Việt, tác giả Lê Quang Thiêm đã cho thấy thời kỳ trước 1858 là thời
kỳ song ngữ bất bình đẳng Hán-Việt, tiếng Hán là ngôn ngữ chính thức. Nhưng thời kỳ
sau 1858 đến 1945, tiếng Hán đã mất đi đòa vò độc tôn, nhường chỗ cho sự tiếp xúc và
ảnh hưởng Pháp. Chỉ đến thời kỳ sau 1945, tiếng Việt mới trở thành ngôn ngữ quốc gia
[Lê Quang Thiêm;2003,tr.209]
.
Trong quá trình tiếp xúc, tiếng Việt đã chủ động tiếp nhận khá nhiều từ ngữ tiếng
Hán. Lớp từ ngữ này hầu hết đã nhập hệ, chòu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ
nghóa và ngữ pháp tiếng Việt nên được dùng khá rộng rãi trong các văn bản tiếng Việt.
Ngôn ngữ báo chí sử dụng nhiều từ ngữ Hán Việt ở những nội dung mang tính chất
nghiêm túc, trang trọng (thông tin chính trò xã hội) hoặc những nội dung cần đảm bảo tính
ngắn gọn, chính xác (thông tin chuyên ngành). Chính báo chí là phương tiện phổ biến và
làm thuần hóa lớp từ ngữ vay mượn này. Tuy nhiên, việc lạm dụng từ Hán Việt trên các
phương tiện thông tin trong nhiều trường hợp sẽ khiến cho nội dung diễn đạt thiếu trong
sáng, khó hiểu đối với công chúng độc giả (trong khi có thể dùng từ thuần Việt tương
đương).
1.3.2.2. Trong thời đại thông tin hiện nay, nhiều thuật ngữ vay mượn từ tiếng nước
ngoài (chủ yếu từ các ngôn ngữ châu Âu) xuất hiện khá phổ biến trên các phương tiện
thông tin đại chúng. Đây là xu thế tất yếu, tích cực, tiết kiệm của một xã hội tiến bộ để
đáp ứng nhu cầu tư duy và giao tiếp. Tuy nhiên, đây là những từ ngữ khó đọc, khó nhớ,
khó tiếp thu đối với người Việt. Phiên chuyển hay giữ nguyên dạng những từ ngữ này
đang là vấn đề chưa được thống nhất và đã gây không ít khó khăn cho người đọc, đòi hỏi

-Phiên chuyển từ ngữ vay mượn: ma ket ting, shốp, shốc, xtrét, xì căng đan, v.v.
Nhiều từ ngữ này còn đang trong thời kỳ sàng lọc và báo chí đóng vai trò là
phương tiện thử nghiệm, truyền bá nhanh chóng, rộng rãi.
1.3.3. Đặc điểm từ vựng xét về mặt phong cách
Xét về mặt phong cách, ngôn ngữ báo chí có khả năng rất đa dạng trong việc lựa
chọn và sử dụng các lớp từ ngữ với nhiều màu sắc phong cách khác nhau để đạt được
hiệu quả giao tiếp.
1.3.3.1. Về đại thể, lớp từ ngữ báo chí mang màu sắc trung tính. Có hai lý do sau:
Thứ nhất, ngôn ngữ báo chí sử dụng rộng rãi lớp từ ngữ đa phong cách. Đây là lớp
từ ngữ thông dụng, dễ tiếp thu đối với đông đảo công chúng: “Người Việt Nam nào cũng
có vốn từ ngữ này và dùng nó để nói viết trong mọi phong cách tiếng Việt. Trong ngôn
ngữ, cái gì luôn được dùng, cái gì được mọi người đều dùng thì cái đó trở nên quen thuộc
và dễ hiểu”
[Cù Đình Tú;1983,tr.202]
.
Thứ hai, để đảm bảo được tính khách quan của thông tin, tính chân thật của sự
kiện, ngôn ngữ báo chí phải dùng những từ ngữ có sắc thái trung hoà. Trong nhiều trường
hợp, sắc thái biểu cảm (âm tính hoặc dương tính) dễ làm sai lệch nội dung, làm mất đi
tính chính xác của sự kiện.
1.3.3.2. Ngôn ngữ báo chí cũng nổi bật với khả năng sử dụng lớp từ ngữ có màu sắc
biểu cảm. Để thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng bạn đọc, báo chí lựa chọn và
sáng tạo những từ ngữ có màu sắc cảm xúc rõ rệt. Đây thường là những từ ngữ chính trò
xã hội có tính thời sự cao: thảm họa hạt nhân, khủng hoảng con tin, tấn công khủng bố,
biến động chính trường, trừng phạt kinh tế, leo thang chiến tranh, chuyển giao quyền lực,
căn bệnh thế kỷ, v.v. Mức độ biểu cảm thể hiện không đồng đều ở các thể loại. Lớp từ
ngữ biểu cảm này thường xuất hiện nhiều ở thể loại có tính chiến đấu và thuyết phục
cao, thể hiện chính kiến của người viết như bình luận, phóng sự điều tra, v.v. Tuy nhiên,
trong một thể loại vốn rất khô khan như bản tin thì cách diễn đạt cụ thể, sinh động, gợi
cảm sẽ làm “mềm hoá” thông tin, tạo ấn tượng thích thú, dễ tiếp nhận, dễ nhớ đối với
người đọc. Chẳng hạn trong bản tin sau:

“Lúc 15 giờ hôm qua (giờ đòa phương), hội nghò liên Triều cấp bộ trưởng về vấn đề hạt
nhân đã khai mạc tại Bình Nhưỡng, với sự tham dự của hai phái đoàn do bộ trưởng Bộ Thống
nhất của Hàn Quốc Jeong Se Hyun và bộ trưởng của CHDCND Triều Tiên Kim Ryung Sung dẫn
đầu…”
(TT- 28/4/2003).
Sắc thái trang trọng này được toát lên từ những từ ngữ thuần Việt cũng như từ ngữ
Hán Việt có trong bản tin.
1.4. ĐẶC ĐIỂM VỀ NGỮ PHÁP
Đặc điểm ngữ pháp ở đây được hiểu theo nghóa hẹp là đặc điểm về câu. Trong
giao tiếp nói chung, mỗi một câu khi được phát ngôn, bên cạnh việc thông báo một sự
tình còn nhằm có một tác động nào đó đối với người nghe (về mặt nhận thức hoặc hành
vi). Trong giao tiếp báo chí, điều này càng quá rõ ràng. Việc lựa chọn và tổ chức các
kiểu loại câu trong văn bản báo chí luôn nhằm đến mục đích thông tin, tác động sao cho
gây được sự hấp dẫn, thuyết phục đối với người đọc.

1.4.1. Vấn đề lựa chọn các kiểu loại câu trong văn bản báo chí
1.4.1.1. Câu xét theo cấu tạo
Trên thực tế cái cốt lõi của câu khi được nói ra, viết ra chính là nội dung cơ bản cần thông báo
mà người nói, người viết đã tổ chức ngôn từ thành một cấu trúc cú pháp nhất đònh. Như đã nói, thông tin
báo chí thường là những thông tin ngắn gọn, mới lạ, hấp dẫn, cho nên xu hướng tổ chức của câu báo chí
là ngắn gọn, súc tích. Theo đó, loại câu đơn hai thành phần là kiểu câu được dùng rộng rãi nhất. Thống
kê trong một công trình nghiên cứu của nhóm sinh viên đại học sư phạm cho thấy cứ 1000 câu được đưa
ra sử dụng trong văn bản báo chí thì có khoảng 833 câu đơn (chiếm 83,3%) và 167 câu ghép (chiếm
16,7%) [TL80;tr.17]
Kiểm chứng của chúng tôi trên 540 văn bản tin ở 40 số của báo Lao động, Sài Gòn giải phóng,
Tuổi trẻ, Bình Dương cho thấy trong số 1655 câu thì câu đơn chiếm tỷ lệ là 90,45%:
T.số

T.số


nguyên mẫu của nó. Ví dụ:
(6)
“Mỹ công bố xoá bỏ cấm vận chống Nam Tư”
(SGGP-20/01/2001)
Trong trường hợp cần mở rộng thì cốt lõi của cấu trúc câu vẫn phải được bảo đảm. Những thành
phần mở rộng thường là: thêm phần trạng ngữ chỉ thời gian, đòa điểm, cách thức,v.v. diễn ra sự kiện, ví
dụ:
(7)
“Từ ngày 16-1, những tờ giấy bạc in gương mặt Saddam Hussen sẽ không còn lưu hành tại
Iraq”
(BD-17/01/2004)
thêm phần chêm xen để chú thích rõ thành phần nào đó trong câu, ví dụ:
(8)
“Cá rạn san hô ở Việt Nam (chủ yếu vùng biển miền Trung) cần được bảo toàn và khai
thác hợp lý”
(SGGP-29/3/2001)
(9)
“Theo ông Trần Quang Phượng, phó giám đốc sở GTCC TPHCM, quy hoạch này nhằm
hoàn chỉnh mạng lưới giao thông”
(Tuổi trẻ-11/3/2003)
thông thường là mở rộng vò ngữ để tăng thêm lượng thông tin mới, ví dụ:
(10)

Chiều 27-3, tại tổng lãnh sự quán Anh đã kết thúc khoá học tiếng Anh dành cho cán bộ
lãnh đạo cao cấp.
C
ác học viên học mỗi tuần 2 buổi trong 9 tháng, do giáo viên người Anh đứng
lớp, với hai phần học gồm Anh ngữ tổng quát và Anh văn thương mại, để phát triển kỹ năng giao
tiếp bằng tiếng Anh trong các buổi họp, hội nghò và các tình huống giao tiếp xã hội”
(SGGP-

vào nội dung phản ảnh. Nhưng viết ngắn thể hiện tài năng của nhà báo và làm cho người đọc dễ tiếp
thu hơn: “Những công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng trung bình người ta nhớ được mười hai từ trong
mỗi câu” [Jean-Luc Martin-Lagardette,2003,tr.46]. Vấn đề là cần tránh tình trạng rút ngắn làm mất đi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status