VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÁC VĂN BẢN THUYẾT
MINH BẢO TÀNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG
ANH TỪ QUAN ĐIỂM NGÔN NGỮ HỌC CHỨC NĂNG
HỆ THỐNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 9 22 20 24
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. HOÀNG VĂN VÂN
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu, dẫn chứng nêu trong luận án là chính xác, trung thực và hoàn toàn
không trùng khớp với bất kì công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả Luận án
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
MỤC LỤC
2.3.2.Kết quả đối chiếu sự thể hiện của tình thái trong văn bản thuyết minh bảo tàng
tiếng Việt và tiếng Anh ............................................................................................... 87
2.3.3. Đối chiếu sự thể hiện của hệ thống ngôi trong văn bản thuyết minh bảo tàng
tiếng Việt và tiếng Anh................... ........................................................................... .95
2.3.4.Thảo luận ............................................................................................................ 96
2.4. Tiểu kết............ ................................................................................................... .99
CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU HỆ THỐNG CHUYỂN TÁC TRONG VĂN BẢN
THUYẾT MINH BẢO TÀNG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH ....................... 102
3.1. Dẫn nhập ........................................................................................................... 102
3.2. Phân tích và miêu tả hệ thống chuyển tác trong văn bản thuyết minh bảo
tàng tiếng Việt và tiếng Anh ................................................................................... 102
3.2.1. Phân tích và miêu tả hệ thống chuyển tác trong văn bản thuyết minh bảo tàng
tiếng Việt và tiếng Anh................................ ............................................................ .102
3.2.2. Phân tích và miêu tả hệ thống chuyển tác trong văn bản thuyết minh bảo tàng
tiếng Việt và tiếng Anh ............................................................................................. 107
3.3. Đối chiếu quá trình, chu cảnh, mật độ thực từ và cấu trúc chủ động/bị
động trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh ................... 113
3.4. Tiểu kết .............................................................................................................. 118
CHƯƠNG 4: ĐỐI CHIẾU SỰ THỂ HIỆN CỦA HỆ THỐNG QUY CHIẾU
VÀ THỂ LOẠI TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH BẢO TÀNG TIẾNG
VIỆT VÀ TIẾNG ANH .......................................................................................... 120
4.1. Dẫn nhập ........................................................................................................... 120
4.2. Đối chiếu sự thể hiện của quy chiếu trong văn bản thuyết minh bảo tàng
tiếng Việt và tiếng Anh ........................................................................................... 120
4.2.1.Sự thể hiện của quy chiếu ngoại chỉ, hồi chỉ, khứ chỉ trong văn bản thuyết
minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh ..................................................................... 120
4.2.2. Sự thể hiện của quy chiếu ngôi, chỉ định và so sánh trong văn bản thuyết
minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh ..................................................................... 121
Bảo tàng phụ nữ Việt Nam
BTMTVN
Bảo tàng mỹ thuậtViệt Nam
VB 1
Văn bản thuyết minh hiện vật: Tượng đá
VB 2
Văn bản thuyết minh hiện vật: Chuông đồng
VB 3
Văn bản thuyết minh hiện vật: Bình gốm
VB 4
Văn bản thuyết minh hiện vật: Cây đèn đồng
VB 5
Văn bản thuyết minh hiện vật: Lưỡi rìu đồng
VB 6
VB 7
VB 8
Thị Bình
Văn bản thuyết minh nhân vật: Phụ nữ trong cuộc sống gia đình
Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực kinh doanh: Kim
Chi
Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực giáo dục: Nữ tiến sĩ
đầu tiên của Việt Nam: Nguyễn Thị Duệ
Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội:
Lê Thị Xuyến (1909 – 1996) Hội trưởng đầu tiên của Hội LHPN
Việt Nam
VB 18
VB 19
VB 20
VB 21
Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội:
Nữ nghệ nhân gốm sứ mỹ nghệ thời Lê Mạc
Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực y học:Giáo sư –
Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng
Văn bản thuyết minh nhân vật lịch sử: Ngọc Hân công chúa
(1770 – 1799)
Văn bản thuyết minh nhân vật: Tác giả Trần Văn Cẩn và tác
phẩm
VB 22
VB 30
Văn bản thuyết minh hiện vật: Khóa thắt lưng đồng
Tiếng Anh
VB I
VB II
VB III
VB IV
VB V
Quartzite statue of Peraha (Văn bản thuyết minh hiện vật
tượng đá Quartzite của Peraha)
St Cuileáin’s bell shrine (Văn bản thuyết minh hiện vật
chuông đền bằng đồng của thánh Cuileáin)
Tripod-footed painted ceramic vessel (Văn bản thuyết minh
hiện vật bình gốm ba chân)
Bronze oil lamp with a leaping ibex (Văn bản thuyết minh
hiện vật cây đèn dầu bằng đồng với hình dê rừng đang nhảy)
Bronze axe-head (Văn bản thuyết minh hiện vật lưỡi rìu
đồng)
Wall- painting with the three Hebrews in the fiery furnace
VB VI
and the martyrs Cosmas (Văn bản thuyết minh hiện vật tranh
treo tường trong đó có ba người Hebrews trong lò lửa và các
vị tử đạo Cosma)
Mercy Otis Warren (Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc
lĩnh vực văn học: Mercy Otis Warren)
Madeleine Korbel Albright (Văn bản thuyết minh nhân vật
thuộc lĩnh vực ngoại giao: Madeleine Korbel Albright)
The women of Jamestown Settlement. Native Inhabitants
(Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực phụ nữ trong
cuộc sống gia đình: Phụ nữ của khu dân cư Jamestown)
VB XV
Her Story (Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực kinh
doanh: Câu chuyện của cô ta)
Tribute to Margaret Floy Washburn (Văn bản thuyết minh
VB XVI
nhân vật thuộc lĩnh vực giáo dục: Nữ Tiến sĩ đầu tiên có tên
là Margaret Floy Washburn)
Sophonisba Breckinridge (1866-1948) (Văn bản thuyết minh
VB XVII
nhân vật thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội: Sophonisba
Breckinridge
VB XVIII
VB XIX
VB XX
Metjetji)
Calm Morning (Văn bản thuyết minh hiện vật bức tranh buổi
sáng bình yên
Dayak Figure (Văn bản thuyết minh hiện vật về chạm khắc:
Tượng Dayak)
Bowl of a Royal Pipe (Văn bản thuyết minh hiện vật bằng
VB XXVIII
đồng: Tẩu hút thuốc lá hình loa đầu voi được sử dụng trong
Hoàng gia)
VB XXIX
VB XXX
Aphrodite (Văn bản thuyết minh hiện vật: Tượng Aphrodite)
Scraper (strigil) (Văn bản thuyết minh hiện vật bằng đồng:
Vật dụng để nạo hoặc cạo)
Quy ước chung cho cả tiếng Việt và tiếng Anh
TT
Tình thái
QT: VC
Quá trình vật chất
QT: TT
Quá trình tinh thần
Đồng nhất thể
BĐNT
Bị đồng nhất thể
QCĐ (R : D) Quy chiếu chỉ định
QCN (R : P) Quy chiếu ngôi
QCS (R : C) Quy chiếu so sánh
BTQGA
Bảo tàng quốc gia Anh
BTLSPNM Bảo tàng lịch sử Phụ nữ Mỹ
BTMTM
Bảo tàng Mỹ thuật Mỹ
Quy chiếu hồi chỉ
Quy chiếu khứ chỉ
Quy chiếu ngoại chỉ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1. Ngữ vực được ngôn cảnh hóa bởi thể loại .................................................... 26
Sơ đồ 1.1. Hệ thống thức............................................................................................... 33
Bảng 1.1. Chức năng lời nói và hàng hóa được trao đổi .............................................. 35
Bảng 1.2. Ba giá trị của tình thái .................................................................................. 37
Bảng 1.3. Tác tử tình thái ............................................................................................. 38
Bảng 1.4. Các kiểu chu cảnh ......................................................................................... 47
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo tàng là nơi “cất giữ những tài liệu, hiện vật có ý nghĩa lịch sử.” (Hoàng
Phê, 2010, tr. 64). Để khách tham quan Bảo tàng hiểu được ngọn ngành những tài
liệu, hiện vật có ý nghĩa lịch sử được sưu tầm, cất giữ, trưng bày nơi đây, rất cần
có những văn bản thuyết minh. Nếu văn bản thuyết minh được viết bằng tiếng mẹ
đẻ của khách tham quan/độc giả thì việc tiếp thu thông tin về hiện vật được trưng
bày hay nhân vật được tôn vinhtrong bảo tàng hầu như không có gì khó khăn, cản
trở. Song nếu khách tham quan/độc giả là người nước ngoài, chẳng hạn trong
trường hợp luận án của chúng tôi quan tâm nghiên cứu là những cộng đồng người
nói tiếng Anh, thì việc lĩnh hội thông tin về hiện vật được trưng bày hay nhân vật
được tôn vinh chắc chắn phụ thuộc vào chất lượng của bản dịch văn bản thuyết
minh bảo tàng (VBTMBT). Trong trường hợp này rất dễ có thể xảy ra sự xung
đột về ngôn ngữ và văn hóa giữa hai cộng đồng dân tộc khác nhau: giữa người
Việt – đại diện là những cán bộ làm công tác bảo tàng và người bản ngữ nói tiếng
Anh- khách tham quan bảo tàng/độc giả. Bởi vì như chúng ta biết, mỗi dân tộc có
một ngôn ngữ và một nền văn hóa riêng mang đặc trưng dân tộc. Trong quá trình
giao tiếp ngôn ngữ, đã có không hiếm trường hợp xảy ra hiện tượng được các
chuyên gia gọi là “sốc văn hóa” do những người tham gia giao tiếp đã không hiểu,
thậm chí hiểu lầm lẫn nhau do có sự bất đồng về văn hóa. Chính những người viết
VBTMBT có thể được coi là những sứ giả có nhiệm vụ quan trọng giúp cho du
khách/độc giả nước ngoài hiểu biết sâu sắc những thông tin có ý nghĩa về văn hóa lịch sử của đất nước và con người Việt Nam qua các tài liệu thuyết giải về hiện
vật/nhân vật. Điều này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hội nhập, toàn cầu hóa
hiện nay của đất nước - Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các quốc gia và các dân
tộc trên thế giới. Để làm tốt công tác chuyển dịch VBTMBT từ ngôn ngữ này sang
ngôn ngữ khác nói chung, từ tiếng Việt sang tiếng Anh nói riêng, dịch giả phải nắm
chắc và am hiểu sâu sắc cả hai thứ tiếng và hai nền văn hóa- cả ngôn ngữ và văn
hóa nguồn lẫn ngôn ngữ và văn hóa đích.
Ngôn ngữ học chức năng hệ thống để phân tích, miêu tả và đối chiếu đặc điểm
ngôn ngữ của VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh.
Tất cả những điều đã trình bày ở trên chính là lí do chủ yếu để chúng tôi lựa
chọn đề tài nghiên cứu: Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản thuyết minh bảo tàng
trong tiếng Việt và tiếng Anh từ quan điểm Ngôn ngữ học chức năng hệ thống.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận án đặt ra mục đích nghiên cứu chính sau đây: (i) Phân tích để tìm ra
những đặc điểm ngôn ngữ điển hình của VBTMBT trong tiếng Việt và tiếng Anh
đã hình thành nên kiểu văn bản này; (ii) Đối chiếu để tìm ra những điểm tương
đồng và khác biệt về ngôn ngữ giữa hai loại VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh trên
các bình diện: thức, tình thái, hệ thống ngôi, hệ thống chuyển tác, quy chiếu và thể
loại. Qua đó giúp những người làm công tác thuyết giải hiện vật/nhân vật trong bảo
tàng nắmđược những đặc điểm ngôn ngữ điển hình của loại văn bản này, từ đó có
thể kiến tạo và chuyển dịch những văn bản thuyết minh bảo tàng có chất lượng cao.
Để đạt được mục đích trên, luận án cần phải trả lời hai câu hỏi nghiên cứu sau:
2
(i) Văn bản thuyết minh bảo tàng có những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội nào
để khu biệt chúng với các kiểu văn bản khác?
(ii) Văn bản thuyết minh bảo tàng bằng tiếng Việt và tiếng Anh có những
điểm tương đồng và khác biệt gì về sự thể hiện của thức, tình thái, hệ thống ngôi,
hệ thống chuyển tác, quy chiếu và thể loại?
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã nêu, luận án sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lí thuyết của ngôn ngữ học chức năng hệ
thống về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, nghĩa liên nhân, hệ thống chuyển tác, hệ
thống quy chiếu, thể loại để làm cơ sở triển khai đề tài luận án;
- Phân tích và miêu tả các đặc điểm trong VBTMBT từ cách nhìn của Ngôn
ngữ học chức năng hệ thống về các phương diện: thức, tình thái, hệ thống ngôi, hệ
- Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam – Bảo tàng Lịch sử Phụ nữ Mỹ.
- Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam – Bảo tàng Mỹ thuật Boston của Mỹ.
Cụ thể là, chúng tôi đã lựa chọn 30 VBTMBT tiếng Việt và 30 VBTMBT
tiếng Anh (ở cả Anh và Mỹ) về các loại hình hiện vật (cùng chất liệu) hoặc nhân
vật (cùng lĩnh vực) để phân tích. Theo chúng tôi,số lượng 30 VBTMBT trong mỗi
ngôn ngữ là ngữ liệu đủ đại diện để nghiên cứu vì đã bao gồm tất cả các vấn đề
chính trong lĩnh vực bảo tàng.VBTMBT bằng tiếng Anh được lựa chọn ở cả nước
Anh và nước Mỹ để bổ sung cho nhau, bởi vì khi thu thập tài liệu nghiên cứu, bảo
tàng nước Anh thiếu một số VBTMBT có chủ đề tương ứng hoặc gần tương ứng
với những chủ đề trong VBTMBT tiếng Việt. Các VBTMBT này lại có ở các bảo
tàng tại Mỹ.
VBTMBT trong mỗi ngôn ngữ Anh/Việt được sử dụng để nghiên cứu phải
đáp ứng một số tiêu chí sau:
(i) Là VBTMBT của cơ quan bảo tàng tiêu biểu ở cấp trung ương;
(ii) Đảm bảo tính cập nhật, thời sự;
(iii) Có độ dài và số lượng cú trong mỗi văn bản tương đương nhau;
(i) Có nội dung viết về cùng một loại chủ đề - cùng loại hình hiện vật (tức có
cùng chất liệu) hoặc nhân vật thuộc cùng lĩnh vực.
Sở dĩ chúng tôi chọn Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam và Bảo tàng Quốc
gia Anh vì đây là nơi đại diện bộ mặt lịch sử, văn hóa của một quốc gia. Bên cạnh
đó, Bảo tàng Quốc gia là kho báu vô giá, là bản sắc, là trí tuệ của một dân tộc. Tiếp
đến, chúng tôi chọn Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam và Bảo tàng lịch sử Phụ nữ Mỹ vì
những lí do sau: Đây là nơi trưng bày và giới thiệu những di sản vật thể và phi vật thể
về lịch sử, văn hóa của phụ nữ Việt Nam và Mỹ. Bên cạnh đó, những bảo tàng này
còn nghiên cứu và thuyết giải những cống hiến và thành tựu của người phụ nữ trong
đời sống văn hóa, xã hội, kinh tế và chính trị của mỗi quốc gia. Cuối cùng, chúng tôi
chọn Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Bảo tàng Mỹ thuật Boston của Mỹ. Có thể thấy,
Bảo tàng Mỹ thuật là nơi lưu giữ các vẻ đẹp trong hội họa và tạo hình điêu khắc. Vì
đây là Bảo tàng Mỹ thuật nên các bài thuyết minh luôn đem đến cho mọi người cái
nhìn đa chiều và phong phú về nghệ thuật. Mọi người có thể hiểu một cách sâu sắc và
5.3. Thủ pháp thống kê
Thủ pháp thống kê được sử dụng để chỉ ra mức độ phổ biến hoặc tần số
xuất hiện của từng loại đặc điểm ngôn ngữ trong VBTMBT làm cơ sở cho việc
nhận xét, kết luận khi phân tích diễn ngôn, miêu tả và đối chiếu.
5.4. Phương pháp đối chiếu
Phương pháp đối chiếu được sử dụng để tìm ra sự tương đồng và khác biệt
về đặc điểm ngôn ngữ của hai loại VBTMBTbằng tiếng Việt và tiếng Anh trên các
bình diện: thức, tình thái, hệ thống ngôi, chuyển tác, quy chiếu và thể loại. Khung
lí thuyết dùng để đối chiếu dựa trên các nghiên cứu của James (1980), Lê Quang
Thiêm (2008), và Richards (1992).
5
6. Đóng góp của luận án
Luận án là công trình tiếp thu và ứng dụng mô hình nghiên cứu ngôn ngữ
học hiện đại trên thế giới vào phân tích VBTMBT bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên
sâu về diễn ngôn bảo tàng bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
6.1. Ý nghĩa khoa học
Luận án hi vọng sẽ có những đóng góp cho lí luận ngôn ngữ học một số cứ
liệu về đặc điểm ngôn ngữ của VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh, những nét tương
đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ giữa hai loại văn bản này. Do vậy luận án
đã góp phần làm phong phú thêm phương pháp phân tích diễn ngôn về một thể loại
văn bản cụ thể trong tiếng Việt và tiếng Anh.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp người kiến tạo VBTMBT tiếng Việt
và tiếng Anh hiểu rõ hơn về việc sử dụng ngôn ngữ trong từng ngữ cảnh cụ thể để
từ đó có thể soạn thảo ra những VBTMBT có chất lượng cao và hấp dẫn. Ngoài ra,
việc hiểu biết được quy ước diễn ngôn, cấu trúc ngôn ngữ bề mặt và xa hơn nữa là
các giá trị văn hóa được thể hiện trong VBTMBT ở hai ngôn ngữ, sẽ giúp việc
trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh. Trong chương này, luận án thực hiện
việc phân tích và miêu tả sự thể hiện của hệ thống quy chiếu và thể loại trong
VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh; đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và
khác biệt về hệ thống quy chiếu và thể loại giữa hai loại văn bản.
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tổng quan nghiên cứu về diễn ngôn và Ngôn ngữ học chức năng
hệ thống trên thế giới
1.1.1.1. Tổng quan nghiên cứu về diễn ngôn trên thế giới
Diễn ngôn đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Châu Âu chú ý từ những
năm 50 của thế kỉ XX. Công trình nghiên cứu diễn ngôn đầu tiên là của Harris
(1952), sau đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu diễn ngôn và phân tích diễn
ngôn như Discourse Structure and Human Knowledge (Cấu trúc diễn ngôn và tri
thức loài người) của Chafe (1970), Theme in English Expository Discourse (Chủ đề
trong diễn ngôn giải thích tiếng Anh) của Jones (1977), Pragmatics and the
Description of Discourse (Ngữ dụng và việc miêu tả diễn ngôn) của Fillmore
(1981), Language, Context, and Text (Ngôn ngữ, ngữ cảnh và văn bản) của
Halliday & Hasan (1989), Discourse and the Translator (Diễn ngôn và dịch thuật)
của Hatim & Mason (1990), Discourse Analysis and Second Language Acquisition
(Phân tích diễn ngôn và thụ đắc ngôn ngữ thứ hai) của Hatch (1992), Discourse
Analysis (Phân tích diễn ngôn) của Brown and Yule (1983), Discourse Analysis
(Dẫn luận phân tích diễn ngôn) của Nunan (1993), Processes of Discourse (Quá
trình của diễn ngôn) của Candlin & Saedi (1993), Cultural Values in Discourse
(Các giá trị văn hóa trong diễn ngôn) của Clyne (1994), The Discourse of History
(Diễn ngôn Lịch sử) của Eggins & et al., (1993). Gần đây, các nghiên cứu diễn
(i) Nó được thiết kế để giải thích cho việc ngôn ngữ được sử dụng như thế
nào. Bên cạnh đó, ngữ pháp chức năng còn được cho là ngữ pháp ‘tự nhiên’, với ý
nghĩa là mọi hiện tượng ngôn ngữ đều có thể được giải thích và cuối cùng, bằng
cách quy chiếu với việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào;
(ii) Các thành phần cơ bản của nghĩa trong ngôn ngữ là thành phần chức
năng. Ngữ pháp chức năng hệ thống gồm ba thành tố mang chức năng ngữ nghĩa:
(a) Siêu chức năng tư tưởng diễn đạt ‘nội dung’: đó là trải nghiệm của người nói về
thế giới thực, bao gồm cả nhận thức bên trong của người nói. Chức năng tư tưởng
gồm hai tiểu loại: chức năng kinh nghiệm và chức năng logic (b) Siêu chức năng
liên nhân liên quan tới việc thiết lập và duy trì mối quan hệ xã hội: để diễn tả các
vai xã hội được tạo nên bởi ngôn ngữ (c) Siêu chức năng ngôn bản liên quan tới
việc cung cấp các đường dẫn tới ngôn ngữ và các đặc điểm tình huống mà ở đó nó
được sử dụng;
(iii) Mỗi thành phần trong ngôn ngữ được giải thích bằng cách quy chiếu tới
chức năng của nó trong toàn bộ hệ thống ngôn ngữ. Ngữ pháp chức năng hệ thống
giải thích tất cả các đơn vị của ngôn ngữ - cú, tiểu cú, v.v... như là những hình thể
hữu cơ của các chức năng.
Như trên đã đề cập, lí thuyết chức năng hệ thống đã được Halliday sáng lập
và được phát triển bởi nhiều nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống hàng đầu thế
giới như Eggins, Matthiessen, Bloors & Bloors, Thompson, Martin và White, ….
Tác giả Matthiessen (1995) cho rằng, ngôn ngữ là một nguồn tài nguyên
được tổ chức thành ba tầng bậc khác biệt theo trật tự trừu tượng, đó là: Tầng ngữ
9
nghĩa học được nhận diện bởi tầng ngữ pháp từ vựng và tầng ngữ pháp từ vựng thì
được nhận diện bởi tầng âm vị học. Ngoài ra, tác giả còn cho rằng, trừ mối quan hệ
giữa tầng âm vị học với tầng ngữ pháp từ vựng, thì mối quan hệ giữa ba tầng trên
của ngôn ngữ là mối quan hệ hiện thức hóa. Thompson (1996) chỉ ra, trong ngữ
pháp chức năng, chúng ta chủ yếu dựa vào những nhãn chức năng, nhưng những
đã tạo ra khung lí thuyết về ngôn ngữ đánh giá và ứng dụng vào việc phân tích
10
ngôn bản. Martin & Rose (2008) đã đề suất các tiểu thể loại phổ biến thường được
sử dụng trong các văn bản và chúng được tóm lược dưới đây:
(i) Thể loại trình bày thường gồm luận điểm, tiếp theo là các tranh luận và
cuối cùng là việc thiếp lập lại luận điểm.
(ii) Thể loại thông báo được phân thành ba tiểu loại:
(a) Thể loại thông báo miêu tả được dùng để phân loại và miêu tả một hiện
tượng và vì vậy các giai đoạn của nó hầu hết là việc phân loại, tiếp theo là miêu tả.
(b) Thể loại thông báo phân loại sẽ tiểu phân loại các thành viên của một
lớp nói chung. Điển hình của thể loại này là các tiêu chí để phân loại.
(c) Thể loại thông báo thành phần liên quan đến việc tổ chức – các thành
phần của tổng thể.
(iii) Thể loại thuật lại được phân làm bốn loại: thuật lại cá nhân, thuật lại tự
truyện, thuật lại tiểu sử, thuật lại lịch sử.
(a) Thuật lại cá nhân liên quan tới thể loại truyện. Đặc điểm ngôn ngữ chủ
yếu là chuỗi thời gian, ngôi thứ nhất (và ngôi thứ ba), các tham thể cụ thể.
(b) Thuật lại tự truyện liên quan đến câu chuyện về cuộc đời của tôi. Đặc điểm
ngôn ngữ chủ yếu là quãng thời gian, ngôi thứ nhất (và ngôi thứ ba) được dùng.
(c) Thuật lại tiểu sử là thuật lại câu chuyện về cuộc đời của ai đó. Đặc điểm
ngôn ngữ là quãng thời gian: ngôi thứ ba và các tham thể cụ thể khác.
(d) Thuật lại lịch sử là sự thiết lập dòng thời gian của việc tường thuật. Đặc
điểm ngôn ngữ là quãng thời gian, ngôi thứ ba, các tham thể.
(iv) Thể loại giải thích liên quan đến việc giải thích các quá trình diễn ra như
thế nào. Chúng gợi ra các chuỗi nguyên nhân và kết quả: quá trình x diễn ra, vì vậy
quá trình y đưa ra kết quả. Kết quả này lần lượt gây ra quá trình z và v.v... Các chuỗi
của thể loại giải thích được cấu trúc điển hình bằng một chuỗi các sự kiện, mà ở đó
một mối quan hệ nguyên nhân bắt buộc được đưa ra giữa một sự kiện. Thể loại giải
Lê Hùng Tiến (1999) trong luận án tiến sĩ Một số đặc điểm của ngôn ngữ Luật
pháp tiếng Việt - Có so sánh đối chiếu với tiếng Anh và ứng dụng trong dịch Việt –
Anh đã lý giải một số nét đặc trưng về từ vựng, ngữ pháp, cấu trúc đề thuyết và sự
đề hóa trong văn bản luật pháp tiếng Việt. Nghiên cứu cũng nêu ra sự tương đồng
và khác biệt giữa ngôn ngữ Luật pháp tiếng Việt và tiếng Anh, giúp cho việc nâng
cao kỹ năng viết các văn bản luật pháp tiếng Việt và dịch hai chiều những văn bản
này một cách khoa học và hiệu quả. Tác giả Nguyễn Hòa (1999) trong luận án tiến
sĩ Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị - xã hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng
Việt hiện đại đã xác lập được khái niệm diễn ngôn có căn cứ khoa học và cấu trúc
của diễn ngôn tin chính trị-xã hội tiếng Anh và tiếng Việt. Hơn nữa, tác giả cũng
nhận định rằng: có sự tác động lớn lao của văn hóa tới ngôn ngữ được sử dụng
trong diễn ngôn. Kết quả của nghiên cứu có thể giúp cho việc giảng dạy ngôn ngữ,
viết báo và dịch thuật một cách hiệu quả. Đặc biệt, cuốn Introducing Discourse
Analysis (Dẫn luận phân tích diễn ngôn) của Hoàng Văn Vân (2006) kế thừa khung
phân tích diễn ngôn của Halliday, đã đi sâu nghiên cứu vai trò của phân tích ngữ
cảnh, ngữ pháp, liên kết và tiếp cận ngữ dụng trong phân tích diễn ngôn. Theo ông,
để hiểu được ngôn ngữ không chỉ xem xét đến bản chất của ngôn bản mà còn phải
xem xét đến các quá trình, mà ở đó ngôn bản được tạo ra và diễn giải. Và loại ngữ
pháp phù hợp với phân tích diễn ngôn là ngữ pháp chức năng hệ thống, vì nó không chỉ
12
liên kết ngữ pháp với ngữ nghĩa mà ngữ pháp và ngữ nghĩa với ngôn cảnh xã hội. Nghiên
cứu cũng chỉ ra liên kết không chỉ là đặc điểm duy nhất làm nên ngôn bản mà còn nhiều
đặc điểm khác cần được nghiên cứu tìm hiểu khi phân tích diễn ngôn”. Về cách tiếp cận
ngữ dụng, ông đã giới thiệu hai cách tiếp cận chính để phân tích diễn ngôn là lí thuyết
hành động lời nói gồm hành động tạo lời, hành động ngôn trung và hành động mượn lời
và nguyên lí cộng tác gồm về lượng, chất, quan yếu và cách thức.
Như vậy, những nghiên cứu về diễn ngôn ở Việt Nam đã góp phần làm sáng
rõ lí thuyết về diễn ngôn và đặc điểm của diễn ngôn trong một số lĩnh vực cụ thể.
Trong khi miêu tả các kiểu quá trình trong hệ thống chuyển tác tiếng Việt,
Hoàng Văn Vân (Ibid.) khảo sát và thảo luận (i) các vai diễn tham thể tham gia vào
quá trình như Hành thể và các vai diễn Đích thể, Lợi thể, Khách thể (tham gia vào
quá trình vật chất), Ứng thể và Hiện tượng (tham gia vào quá trình hành vi), Cảm
thể và Hiện tượng (tham gia vào quá trình tinh thần, Phát ngôn thể và một số vai
diễn khác như Ngôn thể, Đích ngôn thể, Tiếp ngôn thể (tham gia vào quá trình phát
ngôn), Đương thể và Thuộc tính (tham gia vào quá trình quan hệ quy gán/định
tính) và Bị đồng nhất thể và Đồng nhất thể (tham gia vào quá trình quan hệ đồng
nhất), và Hiện hữu thể (tham gia vào quá trình Hiện hữu); và (ii) các kiểu Chu cảnh
đồng hành với quá trình như Chu cảnh phạm vi, Chu cảnh định vị, Chu cảnh phong
cách, Chu cảnh nguyên nhân, Chu cảnh đồng hành, Chu cảnh chỉ vấn đề, Chu cảnh
chỉ vai diễn, và Chu cảnh chỉ quan điểm (chi tiết, xin xem Hoàng Văn Vân 2005,
2012). Một nghiên cứu khác của Thái Minh Đức (1998) có nhan đề A Systemic
Functional Interpretation of Vietnamese Grammar (Thuyết giải ngữ pháp tiếng
Việt theo quan điểm chức năng hệ thống) đã thuyết giải hệ thống ngữ pháp của
ngôn ngữ tiếng Việt.
Học giả tiếp theo nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt dựa một phần vào khung
lí thuyết chức năng hệ thống phải kể đến là Diệp Quang Ban. Trong công trình
nghiên cứu có nhan đề Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban (2005) đề cập tới
nhiều khía cạnh của ngữ pháp tiếng Việt, trong đó ông dành một phần đáng kể để
miêu tả ngữ pháp tiếng Việt lấy cảm hứng từ lí thuyết chức năng hệ thống của
Halliday; đó là, Cú pháp và nghĩa biểu hiện của câu (trang 52-191), Câu với tư
cách lời trao đổi (tr. 209-255), Câu với tư cách thông điệp (tr. 259-276). Mặc dù về
cơ bản công trình của Diệp Quang Ban vẫn mang nặng cách tiếp cận của ngữ pháp
truyền thống, nhưng phần miêu tả của ông lấy cảm hứng từ lí thuyết chức năng hệ
thống là những điểm đáng lưu ý, góp phần làm sáng tỏ khả năng ứng dụng của lí
thuyết chức năng hệ thống vào việc miêu tả một ngôn ngữ khác với tiếng Anh.
Trong luận án tiến sĩ ngữ văn của Lê Thị Lan Anh (2006) về Sự tình quan
hệ và câu quan hệ tiếng Việt, tác giả đã tập trung nghiên cứu câu quan hệ tiếng
Việt trên ba bình diện, đó là ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, dựa vào khung lí