ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HỒNG CHUYÊN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ
THỜI KỲ CHỐNG PHÁP, TỪ GÓC ĐỘ VAI GIAO TIẾP
(Trên cứ liệu một số tác phẩm văn xuôi hiện đại)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã ngành: 62 22 01 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2017
2
2
Công trình được hoàn thành
tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Văn Khang
Phản biện 1:………………………………………………
Phản biện 2:………………………………………………
Phản biện 3:……………………………………………….
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong rất nhiều nội dung nghiên cứu ngôn ngữ theo chức
năng giao tiếp thì vai giao tiếp trở thành một nội dung quan trọng khi
xem xét các quan hệ giao tiếp.
1.2. Cuối năm 1946 trước những biến động xã hội, người lính Cụ
Hồ mang trên mình trách nhiệm mới/ vị thế mới - chiến đấu giành
độc lập tự do cho dân tộc. Người lính Cụ Hồ đã trở thành một hình
tượng đẹp trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Việc xem xét đặc
điểm ngôn ngữ của nhóm đối tượng người lính từ góc độ vai giao tiếp
trong phạm vi tương tác nhóm nói riêng và tương tác với ngôn ngữ
xã hội nói chung sẽ góp phần làm rõ vẻ đẹp hình tượng người lính và
người lính thời đại Cụ Hồ.
1.3. Nâng cao tinh thần dân tộc, ý chí sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ
quốc là trách nhiệm, nhiệm vụ không chỉ của người lính mà còn của
toàn dân tộc. Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của người lính Cụ Hồ
thời kỳ chống Pháp, từ góc độ vai giao tiếp sẽ góp phần bồi dưỡng
lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và ý chí chiến đấu bảo vệ tổ quốc
của người dân Việt Nam.
Từ góc độ nghiên cứu ngôn ngữ học hiện chưa có công trình nào
nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của người lính Cụ Hồ thời kỳ
chống Pháp, từ góc độ vai giao tiếp (trên cứ liệu một số tác phẩm văn
xuôi hiện đại).
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm ngôn ngữ
của người lính cụ Hồ thời kỳ chống Pháp, từ góc độ vai giao tiếp
(trên cứ liệu một số tác phẩm văn xuôi hiện đại)”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận án là tìm hiểu đặc
điểm ngôn ngữ của người lính Cụ Hồ thời kỳ chống Pháp từ góc độ
vai giao tiếp trên cứ liệu một số tác phẩm văn xuôi hiện đại. Từ đó,
luận án góp phần nghiên cứu giao tiếp ngôn ngữ nói chung, giao tiếp
luận án không cho phép. Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Phạm vi tư
liệu được giới hạn ở: 3 tiểu thuyết (“Xung kích” của Nguyễn Đình
Thi; “Sống mãi với thủ đô”mcủa Nguyễn Huy Tưởng và “Đất nước
đứng lên” của Nguyên Ngọc); 8 truyện ngắn và truyện vừa (khảo sát
6 truyện ngắn của tác giả Nguyễn Đình Thi, 1 truyện ngắn của Trần
Đăng, 1 truyện vừa của Vũ Tú Nam), 5 ký sự (“Ký sự Cao Lạng” của
Nguyển Huy Tưởng, “Đánh lấn-Tập hồi ký Điện Biên phủ” của
nhiều tác giả, “Đường tới Điện Biên Phủ” của Võ Nguyên Giáp kể Hữu Mai thể hiện, “Điện Biên Phủ - Điển hẹn lịch sử” của Võ
Nguyên Giáp kể - Hữu Mai thể hiện và “Điện Biên Phủ - Tuyển tập
hồi ký trong nước” của nhiều tác giả.
4. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu:
Chúng tôi sử dụng các phương pháp như: phân tích, miêu tả; phân
tích diễn ngôn; liên ngành. Các thủ pháp nghiên cứu như: thống kê toán
học, phân loại và hệ thống hóa, mô hình hóa; so so sánh, đối chiếu.
5. Đóng góp của đề tài
5.1. Về mặt lý luận: Luận án góp phần giải quyết những vấn đề về
giao tiếp tiếng Việt nói chung và giao tiếp của một người lính Cụ Hồ
nói riêng dưới tác động của các nhân tố ngôn ngữ - xã hội. Tách nhân
tố vai giao tiếp ra thành một biến xã hội để nghiên cứu về đặc điểm
ngôn ngữ (chủ đề, hành động ngôn ngữ và xưng hô trong giao tiếp)
của người lính Cụ Hồ, luận án góp phần vào nghiên cứu mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và nhóm đối tượng, một hướng nghiên cứu liên ngành
hay đa ngành của ngôn ngữ học hiện đại.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần vào việc nghiên cứu giao tiếp
tiếng Việt dưới tác động của quan hệ giao tiếp. Thông qua việc tìm
hiểu vai giao tiếp trong giao tiếp trên các phương diện chủ đề, hành
động ngôn ngữ, xưng hô để thấy được sự biến đổi trong lối ứng xử
văn hóa - ngôn ngữ và làm nên đặc điểm ngôn ngữ của người lính Cụ
Hồ; Góp phần phục vụ công tác học tập, giảng dạy những tác phẩm
về người lính Cụ Hồ thời kỳ chống Pháp trong các nhà trường và đặt
Văn Khang (1996)(1999), Vũ Tiến Dũng (2003), Lê Thanh Kim
(2002), Bùi Minh Yến (1996) (2001), Lương Thị Hiền (2009), Phạm
Thị Hà (2013)…; 2/ Nghiên cứu hành động ngôn ngữ của các vai
giao tiếp như: Chu Thị Thanh Tâm (1995), Đào Thanh Lan (2004)
(2011), Phạm Thị Hà (2013),… Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy việc
xem xét các đặc điểm xưng hô, hành động ngôn ngữ của người lính
Cụ Hồ chưa được quan tâm tìm hiểu.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ của người lính Cụ Hồ
Nghiên cứu ngôn ngữ của người lính Cụ Hồ dưới góc độ ngôn ngữ
học như: Vũ Quang Hào (1994), Bộ Quốc Phòng (1996), Nguyễn Văn
Khánh (2013); Sơn Hà (2010), Nguyễn Thị Dung (2011),…; Nghiên
cứu ngôn ngữ của người lính Cụ Hồ dưới góc độ văn học có: Mã Giang
Lân (1997), Nguyễn Xuân Nam (2003),…; Nghiên cứu ngôn ngữ của
người lính Cụ Hồ dưới góc độ tâm lí học như: Nhữ Văn Thao (2012),
Hoàng Đình Châu (1998), Nguyễn Thị Thanh Hà (1999),…
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1. Một số vấn đề về lý thuyết giao tiếp và vai giao tiếp
77
1.2.1.1. Một số vấn đề chung về giao tiếp ngôn ngữ: “Hoạt động
giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tiếp xúc giữa con người với con người
nhằm truyền đạt hay thông báo một số nội dung trong tư duy”[46,
tr.12]. Trong một cuộc giao tiếp có rất nhiều nhân tố khác nhau như:
nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp… Mỗi
nhân tố có vị trí và vai trò khác nhau trong hoạt động giao tiếp. Tùy
theo mục đích, chiến lược giao tiếp, các đối tượng tham gia lựa chọn
một phong cách ngôn ngữ phù hợp.
1.2.1.2. Sự kiện giao tiếp: “Sự kiện giao tiếp (Specch event) là
đơn vị miêu tả cơ bản trong nghiên cứu giao tiếp ngôn ngữ” [56,
Các đặc điểm về giai tầng xã hội có tác động trực tiếp và tạo nên các
đặc điểm về ngôn ngữ trong sử dụng” [Nguyễn Văn Khang]. Phương
ngữ nhóm xã hội là ngôn ngữ riêng của một nhóm đối tượng trong xã
hội sử dụng ngôn ngữ tự nhiên có sự chọn lọc và làm biến đổi nhằm
tạo ra khác biệt ngôn ngữ với các nhóm đối tượng khác.
8
2/ Vai giao tiếp: “là cương vị xã hội của một cá nhân nào đó
giữa trong một hệ thống các quan hệ xã hội. Vai được hình thành
trong quá trình xã hội hóa cá nhân”[Lê Thanh Kim]. Trong quan hệ
vai mỗi thành viên của nhóm xác định cho mình một bộ vai thích
hợp. “
Khi xem xét các quan hệ hợp thành quan hệ liên nhân. Thông qua
tìm hiểu các quan niệm của các tác giả, chúng tôi nhận thấy: 1. Các
tác giả đồng nhất quan điểm khi nói về quan hệ thân hữu (quan hệ
ngang/ quan hệ kết liên); 2. Các tác giả chưa đồng nhất quan điểm
khi nói về quan hệ quyền thế (quan hệ dọc/ quan hệ vị thế).
Trong xã hội, có rất nhiều các mối quan hệ quyền lực khác nhau.
Trong phạm vi luận án, chúng tôi xác định vai giao tiếp gồm: vai trên,
vai dưới và ngang vai. Mức độ thân cận và không thân cận được biểu
hiện trong từng vai giao tiếp nhất định. Khả năng thay đổi quan hệ vị thế
liên quan đến ứng xử vai giao tiếp. Ứng xử vai giao tiếp xuất hiện trong
tình huống giao tiếp mà ở đó chủ thể và đối tượng giao tiếp muốn thay
đổi mục đích, nội dung giao tiếp dẫn đến sự chuyển vai.
“Vị thế xã hội là địa vị xã hội của các cá nhân được xác lập trong
quan hệ với các thành viên khác trong một nhóm, một cộng đồng và
một xã hội”[Phạm Ngọc Thưởng]. Vị thế giao tiếp có một số đặc
điểm như: 1. Cá nhân dựa trên quan hệ với các thành viên khác mà
xác lập và tạo lập vị thế; 2. Vị thế giao tiếp cũng có mạnh, yếu; 3.
1.3. Tiểu kết: Trong chương này, chúng tôi trình bày hai vấn đề
lớn: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận liên quan đến
đề tài. Chúng tôi tập trung giới thiệu những vấn đề lí thuyết cơ bản
của đề tài, đó là: Những lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ được nhìn nhận
từ góc độ ngôn ngữ học xã hội và ngữ dụng học; Lý thuyết về vai
giao tiếp và đôi nét về tác phẩm văn xuối viết về thời kỳ chống Pháp;
Người lính Cụ Hồ và nhân vật người lính Cụ Hồ trong tác phẩm văn
xuôi viết về thời kỳ chống Pháp là những cơ sở để chúng tôi nhận
định, thống kê, phân loại các cặp giao tiếp trong các tác phẩm văn
xuôi hiện đại.
10
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM CHỦ ĐỀ VÀ HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ
CỦA NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ THỜI KỲ CHỐNG PHÁP
TRONG GIAO TIẾP
2.1. Đặc điểm chủ đề và hành động ngôn ngữ của người lính Cụ
Hồ trong giao tiếp chính thức
2.1.1. Giới hạn vấn đề
1/ Trong chương này chúng tôi chọn: chủ đề giao tiếp, hành động
ngôn ngữ và xưng hô của các vai giao tiếp của người lính Cụ Hồ
trong giao tiếp chính thức làm đối tượng nghiên cứu; 2/ Khu biệt
trong giao tiếp chính thức, chúng tôi lần lượt khảo sát, phân tích đối
tượng; 3/ Khảo sát 8 tập truyện và kí, chúng tôi xác định 328/ 720
cuộc thoại thuộc giao tiếp chính thức; 4/ Một số đặc điểm chung về
giao tiếp chính thức của người lính Cụ Hồ: Giao tiếp chính thức được
xác định: các cuộc họp; các cuộc hành quân, tiến công, truy kích…
Một số đặc điểm: giao tiếp chính thức tuân theo các nguyên tắc của
giao tiếp hành chính; yếu tố quyền lực thể hiện rõ.
trên chiến trường ít được quan tâm nhất. Cặp vai CBCH 1 - CBCH2
nhắc đến 7/9 chủ đề với tần suất khác nhau. Chủ đề về thực thi chức
trách, nhiệm vụ được giao xuất hiện với tần suất cao nhất. Chủ đề ít
được nhắc đến nhất là chủ đề thực hiện nhiệm vụ hậu chiến. Một số
chủ đề không được nhắc đến.
Chủ đề giao tiếp của các cặp vai ngang (đồng cấp): Trong giao
tiếp chính thức, các cặp vai ngang (cặp vai đồng cấp) gồm 3 cặp vai
chính: đồng cấp cán bộ tham mưu, không chỉ huy trực tiếp (CBCH 1 CBCH1), đồng cấp cán bộ chỉ huy trực tiếp CBCH 2 - CBCH2), đồng
cấp chiến sĩ (CS - CS). Cặp vai CBCH 1 - CBCH1 tập trung vào 5/8
chủ đề và giữa các chủ đề có sự chênh lệch nhau về tần suất xuất
hiện. Các chủ đề tập trung theo hướng thực hiện hoạt động quân sự
xuất hiện với tần suất cao. Cặp vai đồng cấp cán bộ chỉ huy trực tiếp
(CBCH2 - CBCH2) đề cập 7/8 nhóm chủ đề và tần số xuất hiện các
nhóm chủ đề không đồng nhất. Chủ đề được quan tâm nhiều là chủ
đề thực thi chức trách, nhiệm vụ chiến đấu. Cặp vai đồng cấp chiến sĩ
(CS - CS): Theo kết quả khảo sát, cặp vai CS - CS đề cập đến 6/8
nhóm chủ đề và giữa các chủ đề có sự chênh lệch về tần số xuất hiện.
Chủ đề xuất hiện với tần suất cao nhất là chủ đề thực thi chức trách,
nhiệm vụ chiến đấu. Chủ để ít xuất hiện với tân suất thấp nhất là thực
hiện nhiệm vụ hậu chiến.
Ví dụ 4: Kha ngoái cổ về phía Độ. Bây ấy cũng thưa tiếng súng.
“Lũy đâu?”
- Có!
- Sang anh Độ xem thế nào về báo cáo. Chạy nhanh lên.[5, tr. 91]
Như vậy, trong giao tiếp chính thức, các nhóm chủ đề có tính quân
sự xuất hiện với tần suất cao ở tất cả các cặp vai. Các chủ đề có thiên
hướng về tình cảm hóa xuất hiện với tần suất thấp. Ở từng cặp vai,
dưới tác động của các lí do vừa nêu, các cặp vai giao tiếp có sự tương
tác với nhau và ứng với từng nhóm chủ đề nhất định. Các cặp vai trên vai dưới, chủ yếu là các chủ đề có thiên hướng thể hiện quyền lực tuyệt
đối. Các cặp vai ngang (đồng cấp) do chi phối của nhân tố hoàn cảnh
của các vai giao tiếp của người lính Cụ Hồ; 2/ Dựa theo khảo sát 8
tập truyện và kí, chúng tôi thu được 382/ 720 cuộc thoại thuộc giao
tiếp phi chính thức; 3/Một số đặc điểm chung về giao tiếp phi chính
thức của người lính Cụ Hồ: Thứ nhất, người lính Cụ Hồ sinh hoạt
theo tập quán cá nhân; Thứ hai, hoàn cảnh phi chính thức có tính
tương đối và mang tính động; Thứ ba, đặc điểm tôn trọng, ngưỡng
mộ cán bộ chỉ huy (CBCH) ăn sâu trong tâm lí của các chiến sĩ (CS);
Thứ tư, quan hệ thân hữu là quan hệ phổ quát của người lính Cụ Hồ.
2.2.2. Các vai giao tiếp trong giao tiếp phi chính thức: Cặp vai
trên - vai dưới gồm: 1/ Cặp vai cán bộ tham mưu, không chỉ huy trực
tiếp - chiến sĩ (CBCH - CS); 2/Cặp vai anh - em; Cặp vai ngang
(đồng cấp) gồm: 1/ Cặp vai đồng cấp cán bộ chỉ huy (CBCH CBCH); 2/ Cặp vai đồng cấp chiến sĩ (CS - CS).
2.2.3 Các chủ đề giao tiếp và hành động ngôn ngữ tương ứng
trong giao tiếp phi chính thức
2.2.3.1 Các chủ đề giao tiếp
1/ Chủ đề giao tiếp của cặp vai trên - vai dưới: cặp vai cán bộ
tham mưu, không chỉ huy trực tiếp - chiến sĩ (CBCH - CS) đề cập
đến 6 chủ đề. Trong đó, chủ đề được nói đến nhiều nhất là chủ đề
cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Các chủ đề không theo hướng hành
chính hóa mà mang tính khen ngợi. Điều này phản ánh đặc trưng
nghề nghiệp ăn sâu vào hành vi của người cán bộ chỉ huy. Cặp vai
anh - em nhắc đến cả 6 chủ đề với mức độ khác nhau. Các chủ đề
được đề cập nhiều nhất là chủ đề cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Ví dụ 29: - Báo cáo ban chỉ huy ăn cháo đường.
Kha quay lại:
13
- Đường kia à? Cậu này khá nhỉ. Kiếm đâu ra thế? [5, tr.49]
2/ Chủ đề giao tiếp của các cặp vai ngang (đồng cấp): Cặp vai bạn
cảm và cầu khiến trung hòa (chúc, nhờ, nhắc nhở) được sử dụng với
tần suất cao. Các hành động cầu khiến trung hòa (hỏi, hồi đáp hỏi)
xuất hiện với tần suất trung bình.
Từ khảo sát, chúng tôi nhận thấy: cặp vai anh - em được xác lập
theo tiêu chí tuổi tác và các hành động cầu khiến thiên tình cảm vẫn
được sử dụng ở mức độ trung bình. Tuy nhiên, sự áp đặt đe dọa thể
diện không cao như trong giao tiếp chính thức. Hành động ra lệnh
chỉ xuất hiện ở vai trên, không xuất hiện ở vai dưới. Mức độ áp đặt
của hành động cũng không tuyệt đối cao. Các vai trên sử dụng nhiều
hành động cầu khiến thiên tình cảm và cầu khiến trung hòa. Các hành
động như: nhắc nhở, hứa hẹn, chúc… thể hiện sự quan tâm của cán
bộ chỉ huy với chiến sĩ..
Các vai dưới sử dụng các hành động cầu khiến thiên tình cảm và
14
cầu khiến trung hòa (chúc, nhờ, nhắc nhở) với tần suất cao. Trong
hoàn cảnh phi chính thức, các vai dưới thể hiện quan điểm, quyết tâm
của mình với vai trên. Hành động chúc, nhắc nhở thể hiện sự quyết
tâm của các chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ. Cặp vai anh - em là cặp vai
sử dụng rất nhiều các hành động cầu khiến. Tuy nhiên không xuất
hiện hành động cầu khiến thiên tình cảm mạnh nhất: hành động ra
lệnh. Các hành động cầu khiến thiên lý trí (yêu cầu, đề nghị, giao,…)
cũng xuất hiện với tần suất thấp. Các cặp vai bạn bè không sử dụng
hành động ra lệnh và hành động báo cáo. Các hành động cầu khiến
thiên tình cảm và cầu khiến trung hòa được sử dụng với tần suất
trung bình. Mức độ xuất hiện của các hành động cầu khiến thiên tình
cảm và cấu khiến trung hòa là tương đương nhau. Điều này phản ánh
mối quan hệ thân hữu sâu.
2.3. So sánh đặc điểm chủ đề và hành động ngôn ngữ của người
15
- Trong giao tiếp phi chính thức, người lính Cụ Hồ thường nhắc
đến các chủ đề có thiên hướng cuộc sống đời thường. Do chi phối bởi
các vai giao tiếp và chủ đề, hành động ngôn ngữ của người lính Cụ
Hồ trong giao tiếp phi chính thức có thiên hướng biểu hiện,… Tuy
nhiên, chúng tôi nhận thấy trong việc thể hiện vai, các hành động cầu
khiến thể hiện đặc trưng vai rõ nhất. Với từng cặp vai các hành động
cầu khiến xuất hiện với mức độ khác nhau. Trong cặp vai trên - vai
dưới, vai trên có thiên hướng sử dụng chủ yếu các hành động cầu
khiến thiên tình cảm (ra lệnh, yêu cầu, đề nghị…). Vai dưới có thiên
hướng sử dụng các hành động cầu khiến thiên tình cảm và cầu khiến
trung hòa. Các vai bạn bè, đồng cấp sử dụng chủ yếu các hành động
cầu khiến thiên tình cảm (nhờ, nhắc nhở, hứa hẹn…).
2.4. Tiểu kết
1. Trong giao tiếp chính thức, người lính Cụ Hồ đề cập đến 9 chủ
đề với mức độ khác nhau ứng với 5 nhóm HĐNN. Úng với các cặp
vai, chủ đề và hành động ngôn ngữ được sử dụng với tần suất khác
nhau. Các cặp vai trên - vai dưới thường nói đến các chủ đề có thiên
hướng hoạt động quân sự được nói đến nhiều nhất. Chủ đề có thiên
hướng đời thường ít được nói tới. Các cặp vai đồng cấp quan tâm các
chủ đề có thiên hướng quân sự. Các chủ đề có thiên hướng đời sống
đề cập ít và thậm chí không xuất hiện trong một số cặp vai. Ứng với
các chủ đề giao tiếp, nhóm hành động cầu khiến với 10 hành động
ngôn ngữ theo thống kê được sử dụng với tần suất rất cao (chiếm
63.9%) so với các nhóm khác. Mức độ sử dụng của hành động cầu
khiến trong từng cặp vai có sự chênh lệch. Các vai trên có thiên
hướng sử dụng các hành động cầu khiến thiên lý trí cao như (ra lệnh,
đề nghị, yêu cầu...). Các vai dưới có thiên hướng sử dụng các hành
động cầu khiến thiên tình cảm cao. Hành động ra lệnh chỉ xuất hiện
3.1.1. Những đặc điểm chung về xưng hô trong
giao tiếp chính thức
1/ Xưng hô trong giao tiếp của người lính có tính pháp quy; 2/
Xưng hô của người lính chịu sự chi phối của hoàn cảnh cụ thể (hẹp)
và chủ đề giao tiếp; 3/ Ngoài cốt lõi thể hiện vai giao tiếp, xưng hô
của người lính Cụ Hồ thể hiện chiến lược của người nói với người
tham gia giao tiếp.
3.1.2.Tần số xuất hiện các các từ ngữ xưng hô
- Số lượng các từ ngữ dùng để xưng và hô/ gọi của cặp vai trên vai dưới không tương đương nhau. Lí do, trong giao tiếp đương diện
các vai trên thường “nói” nhiều hơn các vai dưới.
- Xưng hô của cặp vai trên - vai dưới: các vai sử dụng các nhóm
nhóm đại từ nhân xưng nhiều nhất nhưng không đều - chênh lệch
nhau trong xưng và hô. Vai trên, trên khi xưng sử dụng 259/316 lượt,
chiếm 82.0% ; khi hô/ gọi sử dụng 5/292 lượt, chiếm 1.7%. Một số
đại từ nhân xưng được sử dụng với tần suất cao như: tôi, chúng tôi,
ta, chúng ta, mình… Các nhóm xưng hô còn lại sử dụng ở mức độ
trung bình và thấp. Thậm chí, nhóm sự kết hợp khác không xuất hiện
ở trong cả xưng và hô. Vai dưới sử dụng các từ ngữ xưng hô chênh
lệch nhau. Nhóm đại từ nhân xưng sử dụng với tần suất rất cao khi
xưng (156/215 lượt, chiếm 71.6%) nhưng không xuất hiện trong hô/
gọi của vai dưới với vai trên.
- Trong tất cả các từ ngữ dùng để xưng hô thì “tôi”, “chúng tôi”,
“đồng chí” được sử dụng để “xưng” với tần suất cao cả ở vai trên và
vai dưới. Cặp từ xưng hô “tôi” - “đồng chí” trở thành trục chính và
xoay quanh là các kết hợp khác tùy vào hoản cảnh giao tiếp cụ thể.
- Số lượng các từ ngữ xưng hô trong từng cặp vai đồng cấp CBCH
chênh lệch nhau. Đặc biệt, nhóm từ chỉ chức danh không xuất hiện
trong cả xưng và hô. Các đại từ nhân xưng “ta” và “chúng ta” xuất
hiện với tần suất cao trong xưng 41/61 lượt và có khả năng xác lập
quyền uy của người nói, định ra vị thế xã hội và vị thế giao tiếp
tôi, ta, chúng ta…. hoặc các danh từ thân tộc: em, chúng em… Khi
hô/ gọi sử dụng: từ chỉ chức danh (chính ủy, tiểu đoàn trưởng,…);
danh từ thân tộc: anh, các anh…; Các vai dưới khi xưng hô sử dụng
biểu thức: Báo cáo/ đề nghị + từ chuyên dụng/ từ chỉ chức danh/
danh từ thân tộc (hô/ gọi) + đại từ nhân xưng/ danh từ thân tộc
(xưng).
Trong trường hợp hoàn cảnh chiến đấu trực diện, cặp vai CBCH 2 CS không sử dụng từ xưng hô (khuyết vắng từ xưng hô). Nói cách
khác, cặp vai chỉ thông tin lõi nội dung cuộc thoại.
Các cặp từ xưng hô như: tôi - đồng chí; tôi - chính ủy, tôi - tiểu
đoàn trưởng… thể hiện khoảng cách giữa các vai dựa trên các yếu tố
chức vụ, cấp bậc, chức trách của cặp vai CBCH 2 - CS. Đây là cách
xưng hô đúng vai và phản ánh mối quan hệ một chiều với các yếu tố
quyền lực chi phối mạnh. Tuy nhiên, việc sử dụng các danh từ thân
tộc của cặp vai CBCH2 - CS trong hoàn cảnh giao tiếp chiến đấu trực
diện… ghi nhận sự chi phối của các nhân tố tình cảm (mức độ quen
biết) đến việc định và duy trì vai của cặp vai trên.
Trong hoàn cảnh chính thức có tính quy thức thấp như trong cuộc
họp phổ biến nhiệm vụ/ rút kinh nghiệm, tải thương sau trận đánh,
cuộc họp tuyên dương,… cặp vai CBCH 2 - CS sử dụng kết hợp đa
dạng các kiểu từ ngữ xưng hô. Đặc biệt, cặp từ xưng hô “anh - em/
chúng em” được sử dụng nhiều 49 lượt. Lý do: 1/ giữa các vai có sự
18
hiểu biết nhất định về nhau; 2/ trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp chính
thức do ảnh hưởng của phong tục tập quán, tình cảm chi phối tác
động đến cách xưng hô của các vai; 3/ hiện tượng “gia đình quân
nhân hóa” làm cho quan hệ giữa CBCH2 và CS mềm hóa. Mối quan
hệ cấp trên - cấp dưới mang tính chất hành chính lồng với mối quan
hệ có tính chất gia đình.
Trong hoàn cảnh giao tiếp có tính chất bảo mật, nguy hiểm tính mạng
chiến sĩ và vận mệnh dân tộc cao, cặp vai CBCH 2 - CBCH2 sử dụng
các cặp xưng hô: tôi - các anh, tôi - cụ Phúc già, tao - mày, … Trong
hoàn cảnh bàn bạc trao đổi thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch của đơn
vị… Các vai CBCH2 sử dụng linh hoạt các nhóm từ ngữ xưng hô.
Khi xưng: Đại từ nhân xưng (ta, chúng ta…); Họ tên (Sản, Độ,…).
Khi hô/gọi, vai CBCH2 sử dụng các kiểu: Danh từ thân tộc/ Từ xưng
hô chuyên dụng/ Các kết hợp khác. Điểm đặc biệt trong xưng hô của
19
cặp vai này là xuất hiện cặp từ xưng hô “mày - tao” trong giao tiếp
chính thức, quy thức cao, phản ánh tính động và nguy hiểm cao trong
thực thi nhiệm vụ.
3.1.3.3. Cặp vai đồng cấp chiến sĩ (CS - CS): Cách xưng hô của
chiến sĩ ngoài mang các đặc điểm chung của người lính trong quân
đội còn mang những đặc điểm cá nhân vùng miền riêng khác, bởi: 1/
trong hoàn cảnh chính thức có tính quy thức cao đặc trưng xưng hô
của cặp vai trong hoàn cảnh này là cách xưng hô không đúng vai.
Cặp xưng hô “tôi” - “đồng chí” được thể hiện nguyên dạng ở tần
suất cao - phản ánh mối quan hệ chung nhất giữa tất cả người lính. 2/
đặc trưng nổi bật là cách xưng hô đúng vai xuất hiện nhiều và kết hợp
nhiều nhóm từ ngữ xưng hô khác nhau trong cả xưng và hô; 3/ trong
nhiều hoàn cảnh hành quân, chuẩn bị tấn công… hiện tượng chuyển
vai xuất hiện. Điều này thể hiện sự kéo gần khoảng cách của người
chiến sĩ và trong xưng hô biểu hiện ở sự chuyển đổi cặp xưng hô: tôi
- đồng chí/ tôi - anh sang cặp xưng hô anh - em/ mày - tao…
3.2. Đặc điểm xưng hô của người lính Cụ Hồ trong giao tiếp phi
chính thức
3.2.1. Những đặc điểm chung: 1/ Xưng hô trong giao tiếp phi
- chiến sĩ (CBCH1 - CS): Khi xưng hô, cặp vai CBCH1 - CS kết hợp
phong phú các kiểu xưng hô. Điểm nổi bật là: Khi CBCH 1 tương tác
với chiến sĩ sử dụng kết hợp: tôi - các đồng chí, tôi - các bạn trẻ…
Các kết hợp này có thiên hướng xưng trung tính, hô thân mật gần gũi.
Các vai dưới (CS) khi xưng hô với vai trên sử dụng các kết hợp:
xưng (danh từ thân tộc + từ chỉ chức danh; đại từ nhân xưng + từ chỉ
chức danh/ tên đơn vị, tổ chức. Ví dụ: em/ chúng em - cán bộ, chính
ủy… Cách xưng hô này giúp kéo gần khoảng cách và thể hiện sự tôn
trọng, ngưỡng mộ của vai dưới với vai trên. Cặp vai anh - em được
thiết lập trên yếu tố độ tuổi xuất hiện với tần suất cao nhất. Lý do: 1/
Tập thể người lính Cụ Hồ là tập thể nam giới là chủ yếu và cùng
thuộc một thế hệ; 2/ Tôn trọng tuổi tác vốn là một nét đẹp văn hóa
của người Việt.
Đặc biệt trường hợp vai CBCH1 (Bác - Hồ Chí Minh) xưng hô với
cấp dưới bằng cặp từ: Bác - chú/ các chú và vai dưới xưng hô bằng
cặp “Cháu - Bác; Ø - Cụ”. Cách xưng hô của Bác nhằm xóa đi
khoảng cách, áp lực về vị thế giữa lãnh tụ và chiến sĩ.
2/ Xưng hô của cặp vai cán bộ chỉ huy trực tiếp - chiến sĩ (CHCH 2 CS): Các CBCH2 kết hợp các kiểu xưng hô phong phú hơn so với các
chiến sĩ và có xu hướng chủ động kéo gần khoảng cách, tạo xu hướng
thân mật hóa khi giao tiếp. Dưới sự tác động của nhân tố tuổi tác thân
tình (anh - em), cặp vai CBCH 2- CS thiết lập quan hệ anh - em kết
nghĩa. Cách xưng hô của cặp vai này bên cạnh đặc điểm chung của cách
xưng hô anh em cùng huyết thống còn mang đặc trưng của người lính và
được xác lập dựa trên tuổi tác. Khi xưng hô, cặp vai sử dụng cặp: anh em/ các em; Ø - Tám... Trong nhiều trường hợp vai trên sử dụng cách
gọi thân mật hóa cao: Anh hiền đệ Mút - cơ - tông,… Trong cặp vai này
xuất hiện rất nhiều các yếu tố tình thái như: ơi, à, chứ, đấy, … Điều này
thể hiện mức độ “gia đình hóa” cao.
Ví dụ 62: - Đồng chí Độ vừa rồi lại ăn nói lung tung quá! Tôi
không tán thành tí nào cả.
- Thôi thôi tao biết rồi.
bông đùa khi vai trên nâng vai của vai dưới: anh này! Cách xưng hô
mang tính đơn nhất. Thể hiện mức độ thân hữu tuyệt đối. Đặc biệt,
cách xưng hô: tớ - cậu, tớ - bạn, tôi - cậu Mẫn… thể hiện thân mật,
suồng sã. Các cách xưng hô xuất hiện sự kết hợp khác thể hiện các
đặc trưng riêng của mỗi người lính. Chẳng hạn, xưng Mình là Vũ
Minh sinh viên luật đã phản ánh nguồn gốc xuất thân, trình độ văn
hóa, nghề nghiệp của nhân vật, kéo gần khoảng cách.
Như vậy, trong giao tiếp phi chính thức, người lính Cụ Hồ xác lập
3 cặp vai chính. Các cặp vai phản ánh đời sống của người lính trong
sinh hoạt hàng ngày thông qua cách xưng hô. Cặp vai CBCH - CS
xác lập vai trên - vai dưới trên quan hệ vai quyền lực tương đối. Vì
vậy, cách xưng hô có tính chất quy định quy tắc của tập thể thông
qua cặp xưng hô đặc trưng “tôi - đồng chí”. Tuy nhiên, do chủ đề và
hoàn cảnh phi chính thức nên cách xưng hô sử dụng các từ thân tộc,
sự kết hợp khác xuất hiện với tần suất cao hơn. Cặp vai anh -em là
cặp vai phổ biến được xác lập trong tập thể người lính. Tùy từng mức
độ quan hệ mà mỗi cặp vai anh - em lựa chọn các cặp xưng hô có
thiên hướng từ quy tắc quy định đến mang tính chất gia đình qua cặp
từ xưng hô chính “anh - em”. Cặp vai bạn bè là cặp vai thể hiện đặc
trưng vai thân hữu rõ nhất qua: cách xưng hô đa dạng và là sử dụng
các kết hợp mang đặc trưng cá nhân nhiều nhất.
3.3. So sánh đặc điểm về xưng hô của người lính Cụ Hồ trong
giao tiếp chính thức và phi chính thức
3.3.1. Những đặc điểm chung
- Điểm nổi bật của các vai giao tiếp của người lính Cụ Hồ là các
quy định, quy tắc có tính pháp quy tác động đến tương tác vai rõ nét.
Trong giao tiếp, các cặp vai sử dụng kết hợp các kiểu xưng hô phong
phú trong xưng và hô. Một số kiểu xưng hô phổ biến trong xưng hô
của các cặp vai như: đại từ nhân xưng, danh từ thân tộc, từ chuyên
dụng, từ chỉ chức danh, khuyết vắng xưng hô... Kiểu xưng hô bằng họ
tác động nhất định của các quy định, quy tắc có tính pháp quy. Quan
hệ vai xác lập là quan hệ vai quyền lực tương đối, thân hữu tương đối
và thân hữu tuyệt đối.
Trên cơ sở tìm hiểu, chúng tôi xác định tương tác của các cặp vai
quan hệ của người lính Cụ Hồ trong giao tiếp chính thức như sau:
QUYỀN
Cặp vai trên- vai dưới
THÂN HỮU
LỰC
(1)
(2)
Khoảng cách
Bình quyền
(3)
(4)
Các cặp vai đồng cấp
Bảng 3.10: Tương quan quan hệ giữa các cặp vai trong giao tiếp
(1) Quan hệ trên quyền - dưới quyền, có khoảng cách đượt thiết
lập được cụ thể hóa bằng các cặp vai: CBCH 1- CS, CBCH2 - CS,
CBCH1 - CBCH2: Từ ngữ xưng hô: các nhóm đại từ xưng hô, từ
23
chuyên dụng và từ chỉ chức vụ được sử dụng chủ yếu. Quyền lực
tuyệt đối được thiết lập nhằm duy trì và đảm bảo cho người lính Cụ
Hồ thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hiệu quả. Đặc trưng phi tương hỗ,
một chiều - “cấp dưới phục tùng cấp trên tuyệt đối”.(2) Quan hệ trên
quyền - dưới quyền, thân hữu đượt thiết lập được cụ thể hóa bằng các
nhân dân Việt Nam nói chung.
24
2.Trong giao tiếp phi chính thức, các cặp vai sử dụng các từ ngữ
xưng hô như: danh từ thân tộc, đại từ xưng hô, sự kết hợp với tần
suất rất cao. Các cách xưng hô được sử dụng rất phong phú qua các
biểu hiện: xưng hô đúng vai/ không đúng vai; xưng hô hạ vai/ nâng
vai. Cặp vai trên - vai dưới thiết lập quan hệ/ vai quyền lực tương
đối. Đặc điểm xưng hô nổi bật của cặp vai là sử dụng kết hợp: đại từ
nhân xưng + từ chuyên dụng/ từ chỉ chức danh/ sự kết hợp khác (tôi
+ lính, đồng chí…/ thủ trưởng, tiểu đội trưởng, bí thư…). Cặp vai
ngang thiết lập quan hệ/ vai thân hữu ở mức độ tương đối và tuyệt
đối. Cặp vai bạn bè thể hiện quyền lực tương đối thông qua các từ
ngữ xưng hô có thiên hướng suồng sã và thể hiện quan hệ/ vai thân
hữu tuyệt đối. Các cặp vai đồng chí sử dụng các từ chuyên dụng
(đồng chí, lính, cấp dưỡng…) với tần suất cao.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ của người lính Cụ Hồ
thời kì chống Pháp từ góc độ vai giao tiếp (Trên cứ liệu một số tác
phẩm văn xuôi hiện đại)”, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
1. Trong giao tiếp, các cá nhân tự hình thành các vai giao tiếp tư
việc xác lập quan hệ giao tiếp ứng với đối tượng và phù hợp với:
hoàn cảnh giao tiếp, chủ đề giao tiếp, mục đích giao tiếp…Vai giao
tiếp đóng vai trò quan trọng, quyết định việc lựa chọn và sử dụng
ngôn ngữ. Môi trường quân đội là môi trường sinh hoạt đặc thù mang
hai đặc trưng tiêu biểu: Sự áp đặt của các quy định có tính pháp quy
và sự tự do trong sinh hoạt cá nhân.
Người lính Cụ Hồ là lớp đầu tiên của lực lượng quân đội bước
vào giai đoạn quân sự hóa. Vị thế của người lính Cụ Hồ thay đổi
sinh hoạt.
Khảo sát 382 cuộc thoại thuộc giao tiếp phi chính thức, chúng tôi
xác định 9 nhóm chủ đề theo hai tuyến mà người lính Cụ Hồ đề cập:
thứ nhất, các chủ đề có thiên hướng không thực hiện nhiệm vụ, sinh
hoạt đời thường. Thứ hai, các chủ đề có thiên hướng thực hiện nhiệm
vụ chiến đấu. Các chủ đề không tách rời mà xâm nhập vào nhau.
Người lính Cụ Hồ sử dụng trong giao tiếp phi chính thức thuộc 5
nhóm hành động. Trong nhóm hành động cầu kiến, các hành động có
lực cầu xuất hiện với tần suất cao. Các hành động có lực khiến xuất
hiện với tần suất thấp và phù hợp với một số chủ đề có liên quan đến
nhiệm vụ.
3. Xưng hô của các vai giao tiếp của người lính Cụ Hồ trong giao
tiếp chính thức có sự kết hợp rất phong phú. Các vai trên trong xưng
hô thường kết hợp: đại từ nhân xưng (tôi, ta, mình, c) - từ chuyên
dụng (đồng chí, lính, bộ đội…); từ chỉ chức danh (tiểu đội trưởng,
chính trị viên, bí thư…). Ứng với từng hoàn cảnh, đối tượng… các
vai giao tiếp tự xác định cách xưng hô phù hợp.
Xưng hô của các cặp vai trong giao tiếp phi chính thức phong
phú, uyển chuyển. Nhóm danh từ thân tộc được sử dụng với tần suất