ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
------------
TRẦN THỊ THU HƢƠNG
MẠCH LẠC DIỄN NGÔN HỘI THOẠI TRONG
MỘT SỐ TÁC PHẨM
VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI – 5/2009
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ học văn bản là một lĩnh vực của ngôn ngữ học hiện đại. Những
vấn đề cơ bản của nó đã và đang được tập trung nghiên cứu, trong đó có mạch lạc
văn bản. Mạch lạc là điều kiện trọng yếu để một tập hợp câu nào đó trở thành một
văn bản. Lý thuyết về mạch lạc đã được ứng dụng vào nghiên cứu, phân tích văn
chương và giúp ích rất nhiều cho sự lĩnh hội văn bản với tư cách là một chỉnh thể
nghệ thuật. Tuy nhiên theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, cho đến nay những
giải thuyết về mạch lạc còn chưa đi đến thống nhất bởi tính phức tạp trong nội tại
khái niệm.
Trong những năm gần đây, mạch lạc đã và đang trở thành một vấn đề thu
hút được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước và đã thu được
những kết quả bước đầu quan trọng. Có thể nói đây chính là sự mở rộng của ngôn
ngữ học trên nhiều phương diện như đối tượng nghiên cứu, hệ thống khái niệm và
những đặc trưng hàng đầu của một văn bản: ngoài mạch lạc, một văn bản không
đích thực là một văn bản”. Như vậy đối với một văn bản, mạch lạc vừa là điều kiện
cần vừa là điều kiện đủ. Không có mạch lạc, một chuỗi câu không thể trở thành
một văn bản được.
Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về mạch lạc, có thể kể
đến công trình của các tác giả Widdowson, Green, Edmoson, Gullian Brown,
David Nunan… Tuy nhiên các cách hiểu về mạch lạc cho đến nay vẫn chưa có sự
thống nhất hoàn toàn trên cơ sở khoa học. Chẳng hạn, D. Nunan, 1993, quan niệm
mạch lạc là cái tầm rộng mà ở đó các lời nói được tiếp nhận như là có mắc vào
nhau, chứ không phải là một tập hợp các câu nói không có liên quan với nhau.
Pergram Press trong “Bách khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học”, 1994, quan niệm
mạch lạc là sự nối kết có tính chất logic được trình bày trong quá trình triển khai
một cốt truyện, một truyện kể… lệ thuộc vào việc tạo ra những sự kiện được nối kết
với nhau, hơn là những dây liên hệ thuộc ngôn ngữ (như trong liên kết). D.
Togeby, 1994 cho rằng mạch lạc là cái đặc tính của sự tích hợp văn bản, tức là cái
đặc tính đảm bảo cho các yếu tố khác nhau trong văn bản được khớp với nhau
trong một tổng thể gắn kết. Còn Galperin hiểu mạch lạc trong văn bản văn chương
nói chung như sau: “Những phương tiện liệt kê mạch lạc được xem là những
phương tiện logic bởi vì chúng được sắp xếp vào những khái niệm logic-triết học,
những khái niệm về chuỗi liên tục, về quan hệ thời gian, không gian, nhân-quả.
Những phương tiện giải mã dễ dàng bởi vậy không kìm giữ sự chú ý của người
đọc, chỉ trừ những trường hợp muốn hay không vẫn phát hiện ra sự tương ứng
giữa các đại diện được kết chuỗi với chính những phương tiện mạch lạc”.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn
Thiện Giáp… là những người đi đầu trong việc nghiên cứu các vấn đề về mạch lạc
nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu những khái niệm ban đầu chứ chưa
đi sâu vào khảo sát nghiên cứu từng hiện tượng cụ thể. Công trình nghiên cứu của
Giáo sư Diệp Quang Ban với Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (1998) lần đầu
- 80 tác giả nữ Việt Nam (NXB Thanh niên – 2000)
- Truyện ngắn hay 2000 (NXB Hội Nhà văn – 2000)
- Truyện ngắn chọn lọc (NXB Hội Nhà văn – 1995)
- Truyện ngắn chọn lọc báo Văn nghệ trẻ 2002 (NXB Hội Nhà văn – 2003)
- Truyện ngắn hay và đoạt giải Tạp chí Văn nghệ Quân đội 2001-2002
(NXB Văn học – 2003)
- Dương Hướng, Bến không chồng (NXB Hội Nhà văn)
- Nguyễn Quang Sáng, Con mèo của Foujitta (NXB Phụ nữ - 1996)
- Thạch Lam, Một đời người (NXB Văn học, 1987)
- Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn
- Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam
- Trần Văn Tuấn, Ngõ hẻm bên cầu
- Nguyễn Dậu, Con thú bị ruồng bỏ
Có thể nói rằng, trong diễn ngôn, mạch lạc biểu hiện ở khả năng dung hợp
giữa các hành động nói. Hành động nói là hành động được thực hiện trong khi nói
như hành động hỏi, ra lệnh, hứa hẹn, chào, cảm ơn, xin lỗi… Có những hành động
nói thường phải đi đôi với nhau và cũng có những hành động nói không thể ăn
nhập với nhau. Khi các hành động nói đi đôi với nhau thì bản thân chúng cũng tạo
ra được mạch lạc cho những lời trao đổi hoặc những chuỗi câu nối tiếp nhau.
Chẳng hạn hành động hỏi thường kéo theo hành động trả lời, hành động mời
thường kéo theo hành động chấp nhận hoặc từ chối lời mời, hành động chào
thường kéo theo hành động chào đáp lễ... Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này,
do sự giới hạn về thời gian và tư liệu, chúng tôi chỉ xin đề cập đến vấn đề mạch lạc
trong các cặp thoại Hỏi – Đáp (cặp thoại có thể được xem là dạng tiêu biểu nhất
của diễn ngôn hội thoại), đặc biệt là các cặp thoại Hỏi – Đáp bao gồm một lượt lời
và hai lượt lời.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn của chúng tôi
được bố cục thành ba chương cụ thể như sau:
Chương 1: Một số cơ sở lí thuyết
Chương 2: Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp
Chương 3: Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp không tương hợp
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1. Vấn đề mạch lạc
1.1. Các quan niệm về mạch lạc
Như đã nói ở trên, vấn đề mạch lạc từ lâu đã được các nhà ngôn ngữ học
quan tâm nghiên cứu, song giữa họ vẫn chưa đi đến một sự thống nhất hoàn toàn
trên phương diện khoa học về cách hiểu cũng như định nghĩa thuật ngữ “mạch
lạc”.
Halliday và Hasan không bàn đến mạch lạc riêng rẽ như một đề tài, mà chỉ
nhắc đến nó nhân nói đến dấu vết của tình huống trong văn bản. Tuy nhiên qua đó
cũng thấy được một phần quan niệm về mạch lạc của tác giả. Đề tài chung có liên
quan đến mạch lạc được bàn đến ở đây là “chất văn bản” (texture): “… chất văn
bản bao gồm nhiều hơn, không chỉ là sự có mặt của những quan hệ nghĩa thuộc
loại mà chúng tôi qui về liên kết - sự phụ thuộc của một yếu tố này vào yếu tố khác
để giải thích được nó. Nó bao gồm cả một chừng mực nào đó của mạch lạc trong
các ý nghĩa được diễn đạt: không chỉ hoặc cũng không phải chủ yếu là ở nội dung,
mà ở sự lựa chọn toàn bộ từ các nguồn ý nghĩa của ngôn ngữ đó, bao gồm cả các
thành tố liên cá nhân (xã hội - biểu cảm - ý chí) khác nhau - các thức, các tình
Tác giả Nguyễn Hoà trong cuốn “Phân tích diễn ngôn - Một số vấn đề lí luận và
phương pháp” cũng đã nhận định rằng: “mạch lạc là một vấn đề cốt yếu của lí
luận phân tích diễn ngôn”. Trong chương 1, khi bàn về vấn đề mạch lạc, ông cũng
đã xem xét một vài khía cạnh tạo mạch lạc chính trong diễn ngôn như mạch lạc
trong liên kết, mạch lạc trong cấu trúc… Nguyễn Hoà đã tóm tắt được quan điểm
Tài liệu tham khảo
1. Diệp Quang Ban, Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, H.,
1999.
2. Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, H.,
1999.
3. Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ dụng học, Tập 1, NXB Đại học Sư Phạm, H.,
2003.
4. Đỗ Hữu Châu, Đại cương Ngôn ngữ học, Tập 2: Ngữ dụng học, NXB Giáo
dục, H., 2001.
5. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở Ngôn ngữ
học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, H., 2003.
6. David Nunan, Dẫn nhập phân tích diễn ngôn, NXB Giáo dục, H., 1998.
7. Nguyễn Đức Dân, Logích và tiếng Việt, NXB Giáo dục, H., 1998.
8. Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, H., 2000.
9. Nguyễn Đức Dân, Tiếng Việt (dùng cho đại học đại cương), NXB Giáo dục,
H., 2003.
10. Hữu Đạt, Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Đại học Quốc Gia Hà
Nội, H., 2001.
11. Đinh Văn Đức, Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại, NXB Đại học Quốc Gia Hà
Nội, H., 2001.
12. Edward Sapir, Ngôn ngữ: Dẫn luận vào việc nghiên cứu tiếng nói, Trường
đại học KHXH & NV Tp.Hồ Chí Minh, 2000.
13. Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội,
26. Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, NXB Giáo dục,
1999.
27. Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Tiếng Việt thực hành, NXB Đại
học Quốc Gia Hà Nội, H., 2001.
28. Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng, Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo
dục, H., 2003.
29. Hoàng Thu Trang, Bước đầu khảo sát mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi –
Đáp trích từ một số tác phẩm văn học, Khoá luận tốt nghiệp khoa Ngôn ngữ,
Trường Đại học KHXH & NV, Đại học QGHN, H., 2005.
30. Phạm Thị Thu Trang, Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong các diễn
ngôn hội thoại (Khảo sát trên tư liệu một số truyện ngắn hiện đại), Luận văn
thạc sỹ ngôn ngữ học, Trường Đại học KHXH & NV, Đại học QGHN, H.,
2008
31. Uỷ Ban KHXH Việt Nam, Viện thông tin KHXH, Ngôn ngữ học: Khuynh
hướng – Lĩnh vực– Khái niệm, Tập 1, NXB Khoa học xã hội, H., 1984.
32.Uỷ Ban KHXH Việt Nam, Viện thông tin KHXH, Ngôn ngữ học: Khuynh
hướng – Lĩnh vực– Khái niệm, Tập 2, NXB Khoa học xã hội, H., 1986.