1
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Phan Mậu Cảnh,
người đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo khoa Ngữ
Văn, tổ Ngôn ngữ, Khoa sau Đại học trường Đại học Vinh, gia đình cùng
bạn bè đồng nghiệp và những người thân đã tạo điều kiện thuận lợi động
viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và quá trình hoàn thành luận văn.
Dù đã nỗ lực rất nhiều trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu,
luận văn của chúng tôi chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy,
tôi rất mong nhận được sự thông cảm, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học,
của thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn !
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Võ Thị Thanh Hải
2
Mục lục
Mở đầu..............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề.....................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................5
4. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu.....................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu....................................................................5
6. Phạm vi khảo sát.................................................................................5
7. Đóng góp mới của đề tài.....................................................................6
2.3.1. Tình huống trào phúng trong đời sống thường nhật...................62
2.3.2. Tình huống trào phúng trong tình cảm trai gái và hôn nhân gia
đình .......................................................................................................68
2.3.3. Tình huống trào phúng trong đấu tranh giai cấp và chống ngoại
xâm........................................................................................................71
2.4. So sánh các lớp từ ngữ trào phúng trong vè Nghệ Tĩnh với các thể
thơ dân gian khác..................................................................................74
Tiểu kết chương 2.................................................................................80
Chương 3. Một số biện pháp tu từ trong ngôn ngữ trào phúng của vè
Nghệ Tĩnh.......................................................................................................81
3.1. Biện pháp so sánh...........................................................................81
3.1.1. Cấu trúc so sánh..........................................................................81
3.1.2. Các kiểu so sánh..........................................................................83
3.1.3. Ý nghĩa nghệ thuật của biện pháp so sánh..................................84
3.2. Biện pháp ẩn dụ.............................................................................86
3.2.1. Những biểu hiện của biện pháp ẩn dụ trong ngôn ngữ trào phúng
của vè Nghệ Tĩnh..................................................................................86
3.2.2. Ý nghĩa nghệ thuật của biện pháp ẩn dụ.....................................90
3.3. Biện pháp ngoa dụ..........................................................................91
3.3.1. Những tình huống chủ yếu sử dụng biện pháp ngoa dụ.............91
4
3.3.2. Ý nghĩa nghệ thuật của biện pháp ngoa dụ.................................93
3.4. So sánh các biện pháp tu từ trong vè Nghệ Tĩnh với các thể thơ dân
gian khác...............................................................................................95
Tiểu kết chương 3.................................................................................96
Kết luận................................................................................................99
Tài liệu tham khảo............................................................................102
6
nghiên cứu ngôn ngữ trào phúng trong kho tàng vè xứ Nghệ là một việc làm
thiết thực, có tính khoa học và tính thực tiễn.
2. Lịch sử sưu tầm, nghiên cứu vè và ngôn ngữ trào phúng trong vè Nghệ
Tĩnh
2.1. Vè là một bộ phận quan trọng trong kho tàng văn học dân gian xứ
Nghệ, việc sưu tầm vè đã được thực hiện trong một lịch sử có bề dày. Trong
cuốn Về văn học dân gian xứ Nghệ xuất bản năm 2004, tác giả Ninh Viết
Giao quả quyết: “Phải nói ngay rằng cho đến bây giờ, ngoài cuốn” Vè thất thủ
kinh đô, Vè yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược và một số bài vè in
trong Dân ca Thanh Hóa, Dân ca Bình Trị Thiên, Dân ca miêng Nam Trung
Bộ,v. v.. thì vè được sưu tầm, nghiên cứu và giới thiệu nhiều hơn cả vẫn là vè
xứ Nghệ (Ninh Viết Giao – Về văn học dân gian xứ Nghệ. Nxb. Chính trị
Quốc gia). Tác giả này cũng cho một thống kê các công trình sưu tầm, nghiên
cứu vè xứ Nghệ, trong đó đáng chú ý là Vè Nghệ Tĩnh do Nguyễn Đổng Chi,
Võ Văn Trực, Nguyễn Tất Thứ và một số cộng tác viên sưu tập, sách do nhà
xuất bản Văn học, Hà Nội, ấn hành năm 1964. Sách gồm 2 tập, tập I gồm
những bài vè lịch sử, về đấu tranh chống Đế quốc, phong kiến; tập II gồm chủ
yếu những bài nói về làng xã, nghề nghiệp. Cuốn Hát giặm Nghệ Tĩnh do
Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giao viên soạn, cũng gồm 2 tập lần lượt xuất
bản vào các năm 1962 và 1963, sưu tập 171 bài giặm vè Nghệ Tĩnh. Với cả
hai bộ sách nói trên, có 337 bài vè được sưu tập.
Tính đến nay, công trình sưu tập quy mô, đầy đủ nhất về vè xứ Nghệ
vẫn là bộ Kho tàng vè xứ Nghệ xuất bản trong nhiều năm của Ninh Viết Giao
và cộng sự. Bộ sách gồm 9 tập với tổng số lượng trên 1100 bài với các bài vè
nói về hầu hết các lĩnh vực, các hoạt động lao động sản xuất, đấu tranh của
nhân dân xứ Nghệ. Đây là bộ tư liệu rất quý cho những ai quan tâm đến văn
8
tay “bẻ chuyện” ghi chép sự việc, nói hộ tình cảm tư tưởng của mình và sẵn
sang “phê bình” và sẵn sang góp ý cho tác giả sửa chữa tác phẩm. Nhân dân
“phê bình” góp ý bằng cách hay thì truyền tụng, không hay thì thôi” [38;132].
Trong bài viết này, tác giả cũng đưa ra nhận định thế nào là một bài vè hay,
về nội dung, hạn chế, triển vọng của vè. Về hạn chế của vè, Trần Hữu Thung
chỉ ra hạn chế trong tư tưởng, về tình cảm, về đối tượng, về mơ ước đấu
tranh; còn trong nghệ thuật: “nhạc điệu của vè không phong phú lắm đâu.
Phần nhiều là bài kể, đọc như nói thường cùng với những điệu bộ và những
lời giải thích thêm”, “kể lể dài dòng nhiều khi thiếu chính xác”…
Cho đến nay, người chuyên tâm sưu tầm và cố gắng nhận diện vè Nghệ
Tĩnh nhất có lẽ vẫn là Ninh Viết Giao. Tác giả này, ngoài công tập hợp các
kết quả sưu tầm vè để in vào bộ sách vừa nói trên, cũng đã mô tả một cách
khái quát các đặc điểm, các thể, các mô típ, nghệ thuật diễn xướng, ngôn ngữ,
ngôn ngữ nghệ thuật, vấn đề tác giả … của vè xứ Nghệ.
Trong phần bàn về ngôn ngữ vè xứ Nghệ, Ninh Viết Giao có phân loại,
mô tả các loại ngôn ngữ vè xứ Nghệ. Theo ông, ngôn ngữ vè xứ Nghệ bao
gồm 5 lớp: ngôn ngữ tả thực, ngôn ngữ trữ tình, lớp anh hùng ca, lớp châm
biếm và lớp chính luận. Trong lớp ngôn ngữ châm biếm, ông chia thành loại
ngôn ngữ trào phúng, châm biếm sâu cay, loại chế giễu kèm theo thái độ lên
án… Tuy nhiên, theo chúng tôi, đây chưa phải là những nhận định có tính
khoa học, ít nhất là trong sự đối chiếu với lí thuyết ngôn ngữ học.
Ngoài ra, đây đó trong một vài bài viết, các tác gải có đề cập đến ngôn
ngữ hoặc ngôn ngữ trào phúng, nhưng đó chỉ là những nhận định rời rạc, tản
mạn.
Tất cả những gì vừa trình bày trên đây cho thấy, nghiên cứu ngôn ngữ
trào lộng trong kho tàng vè xứ Nghệ cho đến nay vẫn đang là một khu vực
khi nghiên cứu ngôn ngữ trào lộng trong vè Nghệ Tĩnh, chúng tôi chủ yếu dựa
vào những tư liệu có được trong bộ Vè Nghệ Tĩnh của nhóm Nguyễn Đổng
Chi và bộ kho tàng vè xứ Nghệ của nhóm Ninh Viết Giao. Hơn nữa, ngôn ngữ
10
trào phúng vốn rải rác trong rất nhiều bài vè Nghệ Tĩnh, nhưng để thể hiện
một cách tập trung nhất những đặc điểm của ngôn ngữ trào phúng trong vè
Nghệ Tĩnh, chúng tôi dành sự chú ý nhiều hơn cho cuốn tập 7 của kho tàng vè
xứ Nghệ, tập hợp chủ yếu các bài nói về làng xã, đặc biệt là phần 2, phần gồm
71 bài, theo cách nói của nhà sưu tầm Ninh Viết Giao, là “vè châm biếm”.
Bên cạnh những tư liệu đã có, chúng tôi cũng mạnh dạn sử dụng một số bản
vè mà chúng tôi sưu tầm được trong quá trình làm luận văn.
7. Đóng góp mới của đề tài
7.1. Góp phần nhận diện những đặc điểm và đặc điểm ngôn ngữ vè
Nghệ Tĩnh
7.2. Mô tả được một cách khái quát tình hình sử dụng ngôn ngữ trào
phúng trong kho tàng vè Nghệ Tĩnh
7.3. Đưa ra những kết luận về ý nghĩa xã hội và giá trị thẩm mĩ của việc
sử dụng ngôn ngữ trào phúng trong kho tàng vè Nghệ Tĩnh.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, luận văn
của chúng tôi chia làm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ trào phúng trong vè Nghệ Tĩnh
Chương 3: Các biện pháp tu từ trong ngôn ngữ trào phúng của vè Nghệ Tĩnh.
11
thế mỗi bài vè thường năm bảy mươi câu, có khi hàng trăm, thậm chí hàng
ngàn câu. Tính thời sự, tính xác thực, cụ thể, tính địa phương, tính mộc mạc
không trau chuốt về hình thức, đó là những đặc điểm chung, nét nổi bật của
thể loại vè.” [32;320-321]. Nguyễn Đổng Chi trong Hát dặm Nghệ Tĩnh cho
rằng: “Trước hết vè là một loại văn vần kể chuyện (tự sự) tường thuật sự việc.
Nếu như người ta có dùng vè để thuyết lí hoặc trữ tình thì cũng thường thông
qua phương pháp kể chuyện hoặc phối hợp với phương pháp kể chuyện. Vè
thường cho phép người ta kể lể rông dài, không trau chuốt câu văn thậm chí ít
khi đếm xỉa đến niêm luật, vần điệu”. Về mặt hình thức, Nguyễn Đổng Chi
cho rằng “vè còn mang tính chất thô sơ của một loại phác thảo, một thứ văn
ghi chép sự việc nóng hổi tựa hồ như một loại phóng sự” [32;321]. Trên cơ sở
tham khảo các ý kiến đó đó, Ninh Viết Giao trong Về văn hóa dân gian xứ
Nghệ quan niệm: “vè là loại tự sự bằng văn vần, chú trọng người thật diễn ra
có tính chất đột xuất trong làng xã ngày xưa về mọi phương diện trong cuộc
sống và những sự việc lớn vang động đến cả nước. Vè phản ánh và bình luận
những chuyện địa phương mang tính chất thông tin rõ rệt. Mọi mặt trong cuộc
sống của nhân dân từ quan hệ đối với thiên nhiên đến quan hệ xã hội đều
được thể hiện trong vè. Vè là bách khoa thư của nhân dân trong một vùng”
[32;322].
13
Đinh Gia Khánh trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam xếp vè
vào khu vực tự sự. Ông cho rằng “vè là một thuật ngữ văn học dân gian có
liên quan đến từ vè trong “vần vè”. Vè có nghĩa là lì nói có vần”, và “Vè kể
lại những sự việc không bình thường, nhỏ thì thu hút sự chú ý của nhân dân
trong một thôn, một xã, một vùng, nhiều thì có anh hưởng đến đời sống nhân
dân một dân tộc” [52;391]. Cũng theo Đinh Gia Khánh, “vè không tự sự một
cách khách quan.Chỉ những việc được nhân dân chê gay gắt hay khen nhiệt
là cùng không gian diễn xướng và lưu hành bằng truyền miệng, vì vậy điểm
chung lớn nhất giữa vè với ca dao, dân ca là đều mang trong mình những nội
dung của cuộc sống, nghĩa là chúng đều cố gắng phản ánh một cách đầy đủ
hiện thực cuộc sống. Trong vè và trong ca dao, dân ca, dặm, ví… đều luôn
luôn thể hiện muôn mặt của cuộc sống con người. Đó là tiếng nói bắt đầu từ
lao động sản xuất, phản ánh không khí của đời sống sản xuất con người.
Trong vè có những câu miêu tả lao động vất vả, hay vui tươi, trong ca dao,
dặm, ví… điều này cũng tồn tại. Ví dụ, chúng ta đã thấy những bài vè miêu tả
cảnh làm ăn buôn bán, cảnh cày cấy, đi củi… trong ca dao chúng ta cũng thấy
những bài nói về cảnh lao động sản xuất với lòng yêu nghề như các bài Anh
làm thợ mộc Thanh Hoa, Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang…
Viết về cuộc sống, cả vè, ca dao, đều có những bài nói về thân phận
con người, về cuộc sống lam lũ, bần cùng, bị bóc lột của những người thấp cổ
bé họng, và chúng có cùng nội dung than thân và tố cáo. Đấy là thân phận của
những người làm lẽ, những người đi ở bị chủ ngược đãi, hành hạ… Ví như
trong vè Nghệ Tĩnh có đoạn sau đây viết về nỗi khổ của người đi ở:
Ngày thì trỉa đỗ trồng khoai
Đêm về xay thóc canh hai chưa nằm
Gà ơi mày đã gáy thăm
Choa chưa đi nằm mi đã gáy rồi
…
Bữa đầu vú nói thương yêu
Bữa sau vú nói dức điều tốn cơm
15
Thì trong ca dao:
Chúa trai là chúa hay lo
Đêm nằm cắt việc ra cho mà làm
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô.
Tình cảm gia đình, tình cảm lứa đôi cũng là một nguồn cảm hứng lớn
trong cả vè và ca dao. Đó là tình cảm đối với ông bà, cha mẹ, tình cảm vợ
chồng, tình yêu trai gái… Những tình cảm ấy xuất hiện trong vè, trong ca dao,
dặm ví đều với nhiều cung bậc, nhiều trạng thái, xúc cảm khác nhau: là tình
đắm say, thắm thiết, thủy chung, tình yêu và sự hi sinh cao thượng, những đau
xót vì chia lìa, tâm trạng nhớ thương. Bên cạnh đó, chúng ta còn thấy ở các
thể loại này, đặc biệt là vè và ca dao, những câu chuyện về thân phận người
phụ nữ bị hắt hủi, bị phụ tình, thân phận lẽ mọn…
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tương đồng, chúng ta còn thấy những
dị biệt giữa vè và các thể loại thơ ca dân gian khác. Điểm dị biệt này thường
bị quy định bởi mục đích và tính chất, yêu cầu phản ánh của từng thể loại
khác nhau và bị quy định bởi những đặc điểm thể loại.
Bới là những “khẩu báo”, và vì rất giàu chất thông tin với mục đích kể
lại những câu chuyện, mô tả những sự vật, hiện tượng trong đời sống, nên
ngôn ngữ vè, trước hết là một thứ ngôn ngữ giàu chất hiện thực. Người ta ít
thấy những thăng hoa của cảm xúc, vậy nên ngôn ngữ vè là thứ ngôn ngữ ít
có sự biểu hiện của tình cảm so với ca dao, dân ca. Đấy là lối thuật sự khách
quan, nhằm mục đích kể được một câu chuyện, tả được một sự vật, hiện
tượng hay bình luận về một ý nghĩa nào đó. Ngôn ngữ vè luôn cố ý bám sát,
gọi tên một cách trúng nhất những điều mà nó muốn nói đến. Với vè, “thằng
nhác” là “thằng nhác”, “con dao” là “con dao”. Để tả nỗi nhớ của một người
đối với một người, ngôn ngữ ca dao là:
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ, bây giờ nhớ ai
17
18
Mẹ già em cũng bỏ
Người về cõi thọ
Tờ nhắn đến nơi
Đưa đám vưa rồi
Thì em mới biết
[26;192]
Chính bởi gần với nhu cầu phản ánh những câu chuyện, những sự vật –
hiện tượng trong cuộc sống với tính chất thời sự của nó, không phải là những
tác phẩm trữ tình còn có thời gian để chờ đợi thăng hoa cảm xúc, nên ngôn
ngữ vè là thứ ngôn ngữ không trau chuốt, không cách điệu. Nó thường là
những từ ngữ chuyên chở những ý nghĩ bộc trực, thẳng thắn. Có thể thấy đặc
điểm này trong bất cứ bài vè nào. Dưới đây là một vài ví dụ:
Vè vẻ vè ve/Cái vè thằng nhác
Trời đã phú thác/Tính khí anh ta
Thuở còn mẹ cha/Theo dòi thi sự
Cho đi học trự/Nhiều trự ai vay
Cho đi học cày/Nói nghề ở tớ
Cho đi học thợ/Bảo nghề ấy buồn
Cho đi học buôn/Là nghề ngồi chợ
(Vè thằng nhác)
Hoặc:
Nhà anh bất phú bất bần
Có con dao đoản hộ thân tháng ngày
Con dao anh dày
Dài vừa năm tấc
Khi mài đã sắc
Phá lở rủ rừng hoang
Cũng biện đủ cỗ cho làng
phụ âm cuối…
20
Nhìn chung ngôn ngữ vè Nghệ Tĩnh, vì vừa sử dụng ngôn ngữ cộng
đồng Việt Nam, lại vừa sử dụng phương ngữ, nên hết sức đa dạng, phong phú.
Vè Nghệ có sử dụng lớp từ ngữ tả thực, lớp từ ngữ thể hiện cảm xúc trữ tình,
lớp ngôn ngữ thể hiện cảm hứng anh hùng ca, lớp ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa
trào phúng.
Lớp ngôn ngữ trào phúng trong vè Nghệ Tĩnh cũng hết sức phong phú,
đa dạng phản ánh tình cảm phong phú, nhiều cung bậc của nhân dân lao động,
dĩ nhiên là trước nhiều đối tượng, nội dung, cảm xúc trào lộng khác nhau. Có
khi đó là thứ ngôn ngữ trào phúng, châm biếm hết sức chua cay. Đây là châm
biếm một ông già chơi trống bỏi:
Râu cơn đen, cơn bạc/Mắt bên tỏ, bên mờ
Răng cái rụng cái lưa/Tai bên thông, bên điếc
Cối đâm trù lắc cắc/Tay chống gậy loàng quàng
Con gái chộ cũng nguýt ngang/Cố lầm bầm chửi trộm:
Da trắng như con nộm/Má đỏ như mông gà
Bay cũng chết với choa/Nỏ rày ông mai cố
[32;418]
Có khi trong sự châm biếm lại pha chút cảm thông, thương xót:
Khi điều nói giễu
Giừ “tung bọ” ra rồi
Giời hỡi đất trời
Không biết lấy ai than thở
Không biết lấy ai sắm than, sắm lửa
Không biết lấy ai sắm củi, sắm dầu
Em nghĩ lại buồn rầu
bày kĩ hơn về một số phép tu từ này.
22
Về thể loại, khác với ca dao thường sử dụng các thể loại có câu dài như
lục bát, bảy chữ, trong đó phổ biến nhất là lục bát với công dụng vừa phản
ánh được hiện thực một cách chân thật theo đặc điểm tự sự của thể loại này,
vừa có lợi cho việc giãi bày những tình cảm trữ tình. Vè, do nhu cầu chủ yếu
là phản ánh hiện thực theo lối “tin tức”, nên bên cạnh một tỉ lệ rất ít các thể
thơ khác thì thể loại phổ biến nhất trong vè thường là thể thơ bốn chữ, năm
chữ. Điều này là hoàn toàn phù hợp bởi như nhận định của các nhà nghiên
cứu và như bản thân thực tiễn tồn tại của vè, đây là một loại hình văn học dân
gian thiên về lối tự sự, mà câu chuyện được kể trong vè thường là những câu
chuyện mạng tính thời sự. Việc sử dụng các thể thơ bốn, năm chữ là để đáp
ứng nhu cầu tự sự của vè.
Về hình thức kết cấu văn bản trên bình diện dung lượng, vè, tùy vào
tình hình những nội dung chuyện kể nên có bài dài ngắn khác nhau. Tuy
nhiên, với đặc điểm của vè là những câu chuyện kể có đầu có cuối, nên văn
bản vè thường dài, chặt chẽ về bố cục, phần lớn giống như kết cấu một truyện
ngắn hay tiểu phẩm. Vậy nên, cũng có thể coi và là một loại tiểu phẩm được
viết bằng hình thức văn vần.
Trong các thể loại văn học dân gian, vè có lẽ gần gũi với dặm, ví hơn
cả, nhất là dặm. Trên thực tế, vè là một loại hình nghệ thuật được sáng tác rất
nhanh chóng, nhằm đáp ứng yêu cầu phản ánh hiện thực một cách kịp thời,
trong khi dặm, ví phần nhiều cũng là những tác phẩm được ứng khẩu ngay
trong các cuộc hát đối đáp. Vì thế, điểm gần gũi quan trọng giữa vè với dặm
ví, trước hết có lẽ là sự gần gũi với hiện thực, những cảm xúc tươi mới về
cuộc sống. Nghiên cứu vè và dặm, ví, chúng ta thấy các thể loại này rất gần
gũi nhau, thậm chí có những điểm tương đồng về các biện pháp tu từ như lối
phần âm nhạc. Nếu chỉ tính riêng phần ca từ, thật khó có thể phân biệt, nếu
không tính một điểm khác khá lớn là ví thường sử dụng hình thức đối đáp,
chính vì thế văn bản ca từ ví sẽ được trình bày dưới dạng lời thoại. Tất nhiên,
hiện tượng này cũng không hiếm trong vè. Một điểm khác nữa của vè đối với
ví, và dặm là: thường thì vè có kết cấu nội dung hoàn hảo hơn. Nó là những
24
câu chuyện được kể có đầu có cuối, thậm chí như kết cấu một truyện ngắn.
Nếu trong ví hay dặm có kết cấu này thì tất cả đều được hình dung trong quá
trình đối đáp của nhân vật, còn với vè, điều đó được thể hiện bằng ngôn ngữ
người kể chuyện - ngôn ngữ tự sự và miêu tả.
Tóm lại, khi nghiên cứu vè nói chung và vè Nghệ Tĩnh nói riêng, chúng
ta có thể thấy được trên nét lớn một số điểm tương đồng và dị biệt. Điểm
tương đồng được quy định chủ yếu bởi nguồn gốc, xuất xứ, phương thức xuất
bản, phổ biến, lưu hành, và đều là sản phẩm của nhân dân lao động. Điểm dị
biệt của vè so với các loại thơ ca dân gian khác chủ yếu xuất phản từ những
khác biệt về nhu cầu phản ánh đời sống, bởi tư duy thể loại. Tất nhiên, có
những sự phân biệt nhiều khi chỉ mang tính chất tương đối hoặc chỉ có ý
nghĩa phổ quát. Cá biệt vẫn có những điểm không trùng khít với nhận định
nêu trên. Điều này có nguyên nhân từ sự dung hợp, pha trộn thể loại.
1.2. Khái niệm trào phúng
1.2.1. Cái hài
Cái hài, bên cạnh cái bi, cái đẹp, cái cao cả, “là một phạm trù mĩ học
căn bản, xác định giá trị thẩm mĩ thông qua việc phát hiện mâu thuẫn có ý
nghĩa của hiện thực và thông qua thái độ phê phán đối với tính mâu thuẫn ấy,
xuất phát từ lí tưởng thẩm mĩ” [2;31]. Theo Lại Nguyên Ân, cái hài được mĩ
học châu Âu tìm hiểu từ rất sớm, từ thời cổ Hi Lạp và thu hút sự chú ý lí giải
của nhiều học giả, cho đến tận thế kỉ XX. Trên tinh thần cơ bản, cái hài được
Cái hài, nhìn chung, là sự mâu thuẫn giữa các hiện tượng không hoàn
thiện và kinh nghiệm tích cực của nhân loại, được ghi khắc ở các lí tưởng
thẩm mĩ; là sự không tương dung mang ý nghĩa xã hội giữa mục đích và
phương tiện, giữa hình thức và nội dung, giữa hành động và hoàn cảnh, giữa
bản chất và các biểu hiện của nó, giữa tham vọng cá nhân và các khả năng
chủ quan của nó… Mĩ học Marx - Lénin quan niệm cái hài là một phạm trù
mĩ học cơ bản vì cái hài là đặc tính vốn có của đời sống thực tại: mọi lúc, mọi
nơi đều đầy rẫy những yếu tố có thể gây cười. Cái hài, vì vậy, đã trở thành
một trong những nguồn cảm hứng, góp phần khẳng định trí tuệ con người