một số đặc điểm ngôn từ trong then tày - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

ĐINH THỊ LIÊN

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ
TRONG THEN TÀY Chuyên ngành : NGÔN NGỮ HỌC
Mã ngành : 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. TẠ VĂN THÔNG

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy then Hoàng Thiện Lân (pháp danh: Hoàng
Pháp Hiển) và đồng bào Tày xã Quan Sơn - Chi Lăng - Lạng Sơn đã cung cấp những
tư liệu quý có liên quan đến luận văn.
Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp và các học viên Cao
học Ngôn ngữ K18 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn.

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 5 năm 2012
Tác giả luận văn Đinh Thị Liên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
2.1. Những nghiên cứu về dân tộc và văn nghệ dân gian Tày 2
2.2. Những nghiên cứu về tiếng Tày 3
2.3. Sưu tầm và nghiên cứu then Tày 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.1. Mục đích 8
3.2. Nhiệm vụ 8

2.1.2. Các dạng kết cấu 37
2.2. Thể, vần, nhịp điệu trong then 47
2.2.1. Thể trong then 47
2.2.2. Vần 50
2.2.3. Nhịp 53
Tiểu kết 56
CHƢƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA TRONG THEN TÀY 57
3.1. Lớp từ ngữ biểu thị những sự vật, hiện tượng tự nhiên 57
3.1.1. Lớp từ ngữ chỉ con vật 57
3.1.2. Lớp từ ngữ chỉ thực vật 63
3.1.3. Lớp từ chỉ các hiện tượng tự nhiên 68
3.2. Lớp từ ngữ chỉ đồ vật 72
3.3. Lớp từ ngữ chỉ lực lượng siêu nhiên 74
3.4. Lớp từ ngữ chỉ không gian 80
3.5. Lớp từ ngữ chỉ thời gian 84
Tiểu kết 88
KẾT LUẬN 89
THƢ MỤC THAM KHẢO 91
TÀI LIỆU KHẢO SÁT
PHỤ LỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Phân loại các khúc hát theo kết cấu 46
Bảng 2.2: Kết quả khảo sát các khúc then theo thể 47
Bảng 3.1: Lớp từ ngữ chỉ động vật trong then Tày 57
Bảng 3.2: Lớp từ ngữ chỉ thực vật trong then Tày 64

trong đó có một tài sản âm nhạc vô giá của dân tộc này: hát then, một loại hình diễn
xướng văn nghệ dân gian chủ yếu dùng trong sinh hoạt cộng đồng, cúng lễ. Thông
qua ngôn từ trong hát then, người Tày đã tích hợp những giá trị văn hóa truyền thống
do ông cha truyền lại, đồng thời thể hiện ước mơ về cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh
phúc. Nghiên cứu ngôn từ trong hát then Tày trước hết là để hiểu rõ hơn về những giá
trị trong hát then nói riêng và văn hóa Tày nói chung, qua đó hiểu biết thêm về vẻ đẹp
của tiếng Tày, góp phần tôn vinh vốn văn hóa vô giá trong đó có ngôn ngữ của dân
tộc này.
Trong những nghiên cứu về văn hóa Tày, chưa có công trình nghiên cứu chuyên
biệt về ngôn từ nghệ thuật của hát then. Vì thế, có thể nói rằng bước đầu nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
đặc điểm ngôn từ (tìm hiểu cách tổ chức ngôn từ) trong hát then của người Tày có ý
nghĩa góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn hình thức văn hóa độc đáo này dưới góc nhìn
ngôn ngữ học.
1.3. Bản thân tác giả luận văn là người con của dân tộc Tày, sinh ra lớn lên ở
làng Hăng - xã Quan Sơn - huyện Chi Lăng - tỉnh Lạng Sơn, được sớm tiếp xúc với
văn hóa Tày. Đặc biệt, từ những ngày còn thơ, thường được bà nội dắt theo mỗi khi
có hát then trong bản, tác giả luận văn đã vô cùng thích thú và ấn tượng với hình thức
văn nghệ vừa dân dã vừa huyền bí này. Với mong muốn thể hiện tình yêu với dân tộc
và tiếng mẹ đẻ, tác giả luận văn có ý nguyện tìm hiểu đặc điểm ngôn từ hát then Tày.
Hi vọng rằng những kết quả nghiên cứu bước đầu về ngôn ngữ trong hát then Tày này
sẽ là cơ sở cho chính tác giả và những ai có ý định tìm hiểu sâu sắc hơn về tài sản văn
hóa vô giá - hát then của người Tày. Ngoài ra, tác giả cũng hi vọng sẽ góp phần giúp
cho học sinh và giáo viên là người dân tộc Tày và thuộc những dân tộc khác ở những
vùng người Tày sinh sống có cơ sở hiểu rõ hơn về ngôn ngữ dân tộc Tày, đặc biệt là
có cái nhìn đúng về then, từ đó có thể thưởng thức, học tập, và sáng tạo thêm các áng
văn nghệ mang bản sắc riêng cho người Tày, bằng tiếng Tày.

hóa dân tộc, H.
- Triều Ân (1994), Ca dao Tày - Nùng, Nxb Văn hóa Dân tộc, H.
- Triều Ân (1994), Truyện thơ Nôm Tày, Nxb Văn hóa Dân tộc, H.
- Hoàng Ngọc La (chủ biên) (2000), Văn hóa dân gian Tày, Sở văn hóa Thông
tin Thái Nguyên, TN.
- Triều Ân, Hoàng Quyết (1996), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Tày, NXB Văn hóa dân
tộc, H.
- Triều Ân, Hoàng Quyết (1996), Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc Tày, Nxb
Văn hóa dân tộc, H.
…….
Các công trình trên cho thấy các nhà nghiên cứu đã rất quan tâm đến lịch sử phát
triển của dân tộc Tày cùng với vốn văn hóa tinh thần phong phú của họ. Các tác phẩm
như vậy đã góp phần quan trọng trong việc lưu giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa quý
ở một tộc người, để cho người đời nay và mai sau được biết và trân trọng.
2.2. Những nghiên cứu về tiếng Tày
Là tiếng mẹ đẻ của một dân tộc có số dân đứng thứ hai trong 54 dân tộc ở Việt
Nam, có vai trò quan trọng ở nhiều tỉnh miền núi phía bắc, tiếng Tày đã thu hút được
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt của các trí thức Tày. Có thể kể đến
một số công trình về tiếng Tày đã được hoàn thành như sau:
- Nguyễn Hàm Dương (1970), Chức năng xã hội của tiếng Tày - Nùng, Ngôn
ngữ, số 1.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
- Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chí (1971), Ngữ pháp tiếng Tày - Nùng,
Nxb Khoa học xã hội, H.
- Nguyễn Minh Thuyết, Lương Bèn, Nguyễn Văn Chiến (1971), Góp ý về việc
cải tiến chữ Tày - Nùng, Ngôn ngữ, số 2, H.
- Đoàn Thiện Thuật (1972), Hệ thống ngữ âm tiếng Tày - Nùng, Tìm hiều ngôn

5
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay và nhất là sau hòa bình lập lại
ở miền Bắc (1954), then của dân tộc Tày và Nùng được nhiều nhà khoa học, hoạt
động chính trị, xã hội quan tâm nghiên cứu. Hơn nửa thế kỉ qua, những công trình
nghiên cứu về then có thể chia thành hai xu hướng: thứ nhất, nghiên cứu then để khai
thác các giá trị nghệ thuật dân gian; và thứ hai, nghiên cứu then nhằm khai thác khía
cạnh tín ngưỡng dân gian. Sau đây xin được nói kĩ hơn về hai xu hướng này:
1) Nghiên cứu then khai thác các giá trị nghệ thuật dân gian được khởi đầu
những năm 60 - 70 của thế kỷ trước. Xu hướng này, có một số công trình đã được
công bố như:
- Trong Lời hát then (1972), Dương Kim Bội đã khẳng định: "Then là một hình
thức văn học - nghệ thuật dân gian được đông đảo quần chúng của hai dân tộc
Tày, Nùng yêu thích, trân trọng và giữ gìn Then từ lâu đã gắn bó với tâm tư, tình
cảm của bất kỳ người Tày, Nùng nào: từ cụ già đến em nhỏ, từ thanh niên đến gái
đến trai, từ những người lao động sản xuất ở địa phương đến những người thoát ly
cơ sở đi công tác các nơi Nói chung trong khu tự trị Việt Bắc, nơi nào có người
Tày, Nùng cư trú thì ở nơi đó có Then" [11; tr 65]. Ông cho biết then còn là loại hình
văn học - nghệ thuật tổng hợp, vì diễn xướng then gồm có đàn, hát, múa và trang trí.
Trong công trình này còn khai thác mặt văn nghệ, làn điệu âm nhạc và động tác múa
trong then nên đã được các đoàn nghệ thuật dàn dựng biểu diễn trên sân khấu, đưa lên
sóng phát thanh và truyền hình.
Tiếp theo công trình trên, là một loại các tác phẩm về văn bản văn học then đã
được xuất bản:
- Dương Kim Bội, Những yếu tố dân ca, ca dao trong lời Then (Tày, Nùng)
(Tạp chí Dân tộc học, số 2/1978, tr.14-21).
- Vi Hồng (1993), Khảm hải, Nxb Văn Hóa Dân tộc, H.
- Hoàng Tuấn Cư, Vi Quốc Đình, Nông Văn Tư, Hoàng Hạc (1994), Then bách
điểu, Nxb Văn hóa Dân tộc, H.
- Lục Văn Pảo (1996), Bộ then tứ bách, Nxb Văn hóa Dân tộc, H.
- Triều Ân, Hoàng Hưng, Dương Nhật Thanh, Nông Đức Thịnh (2000), Then

hóa Thông tin.
- Nguyễn Thị Yên, Saman giáo trong then của Người Tày, Tạp chí Nguồn sáng,
số 1/2004, tr.3-14.

Những bài viết theo hướng này đã cho một bức tranh rõ nét về khía cạnh tín
ngưỡng của then khi hành nghề kiểu saman giáo. Các công trình nghiên cứu này đã

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
góp phần nhận thức đúng về bản chất của then: Then là một loại hình văn nghệ dân
gian, đồng thời cũng là một biểu hiện của tín ngưỡng dân gian. Văn nghệ được sử
dụng trong tín ngưỡng và tín ngưỡng lại sử dụng văn nghệ làm phương tiện. Cuộc
sống tâm linh hòa quyện với nhau trong buổi then… Đó là điểm độc đáo nhất của
then nhìn từ góc độ văn hóa.
Nhìn chung, các công trình đã thành công đáng kể trong sưu tầm, giới thiệu then
Tày. Sự nghiên cứu đã tập trung vào những khía cạnh văn hóa của then Tày như: mối
quan hệ giữa tào, mo, pụt, đặc điểm làm nghề của thầy then, vấn đề tôn giáo tín
ngưỡng, cách diễn xướng trong then, sự phức hợp của ca - múa - nhạc - mĩ thuật
trong then
Điểm lại quá trình nghiên cứu, sưu tầm then Tày từ những năm 70 của thế kỉ
trước về đây, có thể nhận thấy một số điểm đáng chú ý:
Một là: Then Tày với tư cách là một yếu tố cấu thành nền văn hóa dân gian Tày,
là một loại hình diễn xướng tín ngưỡng ăn sâu vào tâm hồn người Tày nhiều thế hệ,
đồng thời cũng là một loại hình trong kho tàng văn nghệ dân gian của người Tày. Đã
từ lâu, then Tày trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, vì
vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đã được công bố. Đây là sự tôn vinh
tài sản văn hóa tinh thần vô giá của một cộng đồng dân tộc thiểu số, có ý nghĩa lớn
lao về mặt xã hội và hữu ích cho việc nghiên cứu tiếp theo về then Tày.
Hai là: Những công trình nghiên cứu trên đây phần lớn tập trung sưu tầm, giới

Then Tày những khúc hát của tác giả Triều Ân, Nxb Văn hóa dân tộc xuất bản năm
2000 tại Hà Nội. Cuốn sách này là kết quả nhiều năm sưu tầm, lựu chọn những khúc
then Tày đặc sắc nhất của một tác giả là người Tày. Công trình dày 659 trang, gồm
7770 câu - con số nói lên quá trình lao động không mệt mỏi của một người cả đời đã
dành trọn niềm đam mê cho văn hóa Tày nói chung, then Tày nói riêng. Dưới đây xin
giới thiệu vài nét về tác giả và những công trình, những tác phẩm tiêu biểu của ông:
Hoàng Triều Ân sinh ra và lớn lên nơi mảnh đất biên cương giàu truyền thống văn
hóa và cách mạng tỉnh Cao Bằng, trong một gia đình có truyền thống hiếu học, nhiều
đời có những người đỗ đạt cao. Ông là một trí thức, một nhà giáo, một nhà nghiên cứu,
một nghệ sĩ tiêu biểu của tỉnh Cao Bằng nói riêng và của người Tày nói chung.
Sinh năm 1931 tại làng Lam Sơn xã Hồng Việt huyện Hòa An, ngay từ nhỏ ông
đã học chữ Nho tại nhà. Sau đó theo học 6 năm tại trường Pháp - Việt. Từ năm 1953 -
1956 theo học ngành sư phạm tại trường Dục Tài, khu học xá Trung ương Nam Ninh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
(Trung Quốc). Năm 1963 ông tốt nghiệp khoa Văn - trường Đại học sư phạm Hà Nội
đồng thời được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam. Thông qua con đường tự học, sau
này vốn trí thức của ông ngày càng nhiều thêm lên. Giờ ông đã ở độ tuổi xưa nay
hiếm, nhưng sự ham học hỏi vẫn không có gì thay đổi.
Trong lĩnh vực sáng tác thơ, ông thành công với những tập thơ như: Nắng ngàn;
Hoa và nắng; Bốn mùa hoa Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX ông đã đoạt
nhiều giải thưởng thơ. Riêng năm 1961 khi mới 30 tuổi Triều Ân đã đoạt 3 giải
thưởng thơ với những tác phẩm: Quê ta anh biết chăng? (Giải nhì - Tạp chí Văn
nghệ); Suối cát (Giải nhì - Báo Người giáo viên nhân dân); Nàng tiên lục (Giải nhì -
Tạp chí Văn nghệ Việt Bắc).
Tác phẩm: Bên bờ suối tiên (Giải nhì - Tạp chí Văn nghệ Việt Bắc) là giải
thưởng về văn xuôi ông đoạt được. Một số cuốn tiểu thuyết tiêu biểu như: Nắng
vàng bản Dao (1992); Nơi ấy biên thùy (1994) của Triều Ân đã hòa vào dòng

- Phần 2: Những khúc hát (tuyển dịch). Trong phần này, tác giả đã lựa chọn
những khúc hát, những đoạn hát đặc sắc nhất để dịch sang tiếng Việt.
- Phần 3: Những khúc hát Then Dàng. Đây chính là phần thể hiện sự kiếm tìm,
sưu tầm rất công phu của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Tày, gồm 31 khúc hát
(nguyên văn Tày và ghi bằng chữ Tày - phiên âm từ bản Nôm Tày).
Đầu tiên là 10 khúc then kì yên cầu chúc (với tên các khúc hát như sau: Roọng
hương; Vọng cảnh; Phóng lệ; Lập binh; Cống sứ; Cái kiều cầu tự; Tạ tông đường; Giải
tạ phá thương phá khắc; Giải khắc; Tiến hoa thánh mẫu). Trong cuộc sống thường nhật,
người làm ruộng luôn lo âu trước các nạn thủy, hỏa, đạo, tạc, bệnh ôn dịch, nạn tham
quan ô lại quấy nhiễu, phu phen, bệnh tật,… vì vậy họ không cầu mong gì hơn là được
bình yên. Hằng năm, khi ăn tết xong, từ khoảng mùng mười tháng giêng trở đi người Tày
chọn ngày làm lễ giải hạn. Đó chính là nội dung của lễ then kì yên.
Tiếp đó là 21 khúc hát thuộc Lễ hội then Dàng (hay còn gọi Lễ hội “Lẩu Pụt”),
(với tên các khúc hát như sau: Quang bán; Cái cấu hào quang; Lập phủ Thành Lâm;
Lọc vía hào quang; Soạn lẹ khảu cung Ngọc Hoàng; Sắc cấp; Toỏng khánh khảo
gường; Thủm mủ hẩu gường sở; Dinh Thành Thế; Pắt ngoảng; Vặt Giả Gỉn; Piốc Pú
Cấy; Khảm hải; Mường bân; Tổng tiên; Tẳng phya Xu Mi; Hò Vỉnh; Báo sao kẻn
chụ; Đối thoại then hài; Khao noọng khao nàng; Rườn Then Dàng). “Lẩu Pụt” là lễ
hội lớn nhất của những người làm then. Nó bao gồm hai phần lễ và hội. Lễ chủ yếu do
một cá nhân then, người làm nghề cúng bái, hát xướng đứng ra tổ chức được một tập
thể Dàng (then) hỗ trợ, được quần chúng trong vùng chứng kiến và ủng hộ. Cái đích
của lễ hội là cá nhân then đứng ra tổ chức lễ hội ấy được Ngọc Hoàng cấp cho tờ sắc
công nhận từ nay được xứng đáng làm then hoặc từ hôm ấy được cấp sắc đạt thêm một
bậc then cao hơn…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về then Tày có thể từ nhiều góc nhìn khác nhau (văn hóa, văn học,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
học: thể loại, cách gieo vần, các đặc điểm cấu tạo từ, sự chuyển nghĩa theo những
hướng khác nhau, biểu tượng,…
6.2. Về thực tiễn
Luận văn góp phần thúc đẩy việc sưu tầm và tìm hiểu hát then của người Tày trong
kho tàng văn hóa dân gian của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Bên cạnh đó luận văn còn là tư liệu tham khảo cho những người có nhu cầu tìm
hiểu về hát then và văn hóa Tày cũng như về tiếng Tày.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục gồm (Phụ lục 1:
Hình ảnh thiên nhiên và xã hội ở vùng người Tày; Phụ lục 2: Hình ảnh đồng bào Tày
trong hát then; Phụ lục 3: Một số trang sách ghi lời then Tày), luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn
Chương 2: Đặc điểm hình thức trong then Tày
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa trong then Tày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1.1. Ngôn ngữ - Ngôn ngữ văn học - Ngôn từ nghệ thuật
1.1.1.1. Ngôn ngữ
Nếu như giai điệu, tiết tấu là ngôn ngữ của âm nhạc; màu sắc, đường nét là ngôn
ngữ của hội họa; mảng khối là ngôn ngữ của kiến trúc, thì ngôn ngữ là chất liệu của
những tác phẩm văn học, đúng như Macxim Gorki đã nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ

Đồng thời, nó có vai trò phản ánh và là phương tiện tiếp thu những yếu tố mới trong
quá trình tiếp xúc, giao lưu với các dân tộc anh em và các quốc gia trên thế giới. Nhờ
có tiếng Tày mà rất nhiều nét bản sắc của văn hóa Tày được bảo tồn tương đối
nguyên vẹn cho đến ngày nay.
1.1.1.2. Ngôn ngữ văn học
Hiện nay “ngôn ngữ văn học” được hiểu theo những cách sau:
Theo cách hiểu thông thường, ngôn ngữ văn học là “ngôn ngữ mang tính nghệ
thuật được dùng trong văn học” [23; tr.215]; hoặc được hiểu là “hình thức ngôn ngữ
toàn dân tộc, có hệ thống chuẩn thống nhất, được sử dụng trong mọi lĩnh vực đời
sống văn hóa, chính trị, xã hội” [50; tr.852].
Trong nghiên cứu văn học, thuật ngữ này còn có nghĩa rộng hơn: “Chỉ một cách
bao quát các hiện tượng ngôn ngữ được dùng một cách chuẩn mực trong các văn bản
nhà nước, trên báo chí, đài phát thanh, trong văn học và khoa học” [23; tr.215].
Trong tác phẩm, ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính
sáng tạo, tài năng của các nhà văn. Tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính
tạo hình và biểu cảm là những thuộc tính của ngôn ngữ văn học. Vì vậy, tính hình
tượng, tính thẩm mĩ là thuộc tính bản chất, xuyên thấm vào mọi thuộc tính riêng
khác, quy định những thuộc tính ấy. Những thuộc tính chung này biểu hiện qua các
thể loại văn học với những sắc thái khác nhau: Ngôn ngữ của những tác phẩm trữ tình
được tổ chức hết sức cô đọng, hàm súc và gợi cảm; Ngôn ngữ tác phẩm kịch chủ yếu
là lời của các nhân vật được cấu trúc qua hệ thống đối thoại và gần gũi với lời ăn
tiếng nói hàng ngày; Ngôn ngữ của tác phẩm tự sự cũng giống ngôn ngữ các tác
phẩm kịch, là ngôn ngữ đa dạng, ngôn ngữ của nhiều tính cách nhân vật.
Trong nghiên cứu văn học, những cách hiểu về ngôn ngữ văn học không hoàn
toàn đồng nhất, nhưng đa số các nhà nghiên cứu cho rằng đó là chính ngôn ngữ trong
đời sống sinh hoạt cộng đồng. Ngôn ngữ ấy, khi được dùng để sáng tạo văn học thì

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
trong sử dụng ngôn từ để xây dựng hình tượng nghệ thuật, làm cho hát then có sức sống
bền lâu và hấp dẫn từ ngàn xưa đến ngàn sau.
1.1.2. Kết cấu, nhịp điệu, vần, thể
1.1.2.1. Kết cấu
Kết cấu “là sự phân chia và bố trí các phần, các chương mục theo một hệ thống
nhất định để thể hiện nội dung của tác phẩm” [50; tr.468, 469]; là “toàn bộ tổ chức phức
tạp bao gồm mọi mối quan hệ giữa chỉnh thể và bộ phận, giữa bộ phận và bộ phận trong
một tác phẩm văn học” [44; tr.345]; là sự “liên kết bên trong, là nghệ thuật kiến trúc nội
dung tác phẩm” [23;tr.106]; là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của một tác
phẩm” [23; tr.156].
Có thể ví các tác phẩm văn học cũng giống như một ngôi nhà. Các ngôi nhà có
thể không chỉ khác nhau về vật liệu xây dựng mà còn khác nhau về cách thức kiến
trúc (kết cấu). Cũng như thế, các sáng tác văn học không chỉ khác nhau về chất liệu
và hiện thực mà còn khác nhau về "cách bố trí, sắp xếp, tổ chức sự xuất hiện của các
chất liệu hiện thực trong tác phẩm" [21; tr.142].
Tóm lại, kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác
phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo nên nội dung của tác phẩm
nhằm phản ánh hiện thực và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định. Kết cấu thuộc
hình thức, vì thế vai trò của nó được khẳng định trong việc giúp thể hiện nội dung tác
phẩm như chủ đề, tư tưởng,…
Khi tìm hiểu kết cấu then Tày, những khái niệm như “khúc hát”, “bài hát”,
“chương hát”, “lời hát” cần được hiểu một cách nhất quán.
Theo cách hiểu chung nhất, “khúc là chỉ những tác phẩm bằng thơ dài theo thể
thơ lục bát hay song thất lục bát có nội dung trữ tình” [23; tr.162], đó là “bài thơ, bài
ca hay bài nhạc ngắn” [50; tr.637]. Đối với hát then, chúng tôi thống nhất hiểu “khúc
hát” là một “bài hát”, một “chương hát” hoàn chỉnh như cách gọi quen thuộc của các

hợp” [23; tr.425].
Vần thông: được tạo nên bởi “sự hòa phối âm thanh giữa các tiếng được gieo
vần trong đó bộ phận vần cái (kể từ nguyên âm chính đến cuối âm tiết) không lặp lại
hoàn toàn mà có thể khác biệt nhau chút ít” [23; tr.425].
1.1.2.3. Nhịp điệu
Cùng với vần, nhịp điệu (còn gọi là “nhịp”) là yếu tố rất quan trọng hình thành
nên sự hấp dẫn về hình thức trong then, khiến cho then vừa có nhạc điệu vừa ổn định
về mặt cấu tạo. Theo các nhà nghiên cứu, nhịp được hiểu như sau:
“Nhịp điệu là sự lặp lại các quãng đều đặn và có thay đổi các hiện tượng ngôn
ngữ, hình ảnh, mô típ,… nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mĩ về thế giới, tạo ra cảm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
giác vận động của sự sống, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của văn bản nghệ thuật nó
còn được gọi là tiết tấu hay tiết điệu” [23; tr.238].
Hay: “Quan niệm một cách đơn giản thì nhịp chính là kết quả của sự chuyển
động nhịp nhàng, sự lặp lại đều đặn những âm thanh nào đó trong thơ” [5; tr.151].
Người ta cũng xem nhịp điệu là sự khác biệt chủ yếu giữa câu văn vần với câu
văn xuôi. Văn vần khác với văn xuôi chủ yếu ở phương diện nhịp điệu (tất nhiên, văn
xuôi cũng có nhịp điệu theo cách của nó). Theo quan niệm đó, nhịp điệu không
những không trùng với âm luật, không là những khuôn mẫu buồn tẻ, mà bao giờ và
trước hết là nhằm biểu đạt ý đồ của người viết.
Nhịp điệu không chỉ là sự biểu hiện mà còn là mối quan hệ được thể hiện trong
một hình thức dễ cảm thụ và dễ tái hiện. Và đó là ý nghĩa của nhịp điệu trong những
biểu hiện của ngôn từ nói chung. Trong ngôn từ, mặt ngữ âm có quan hệ với nhịp
điệu nhiều nhất.
Nói đến nhịp điệu ngôn ngữ phải nói đến sự chia cắt dòng âm thanh mà khi đọc
hoặc nghe, người đọc, người nghe cảm thụ một cách trực tiếp. Về mặt văn bản, dòng
âm thanh được chia thành đoạn, câu, cụm từ, từ,… Khi phát âm, sự phân chia này có

- Thể bảy chữ: là thể được ưa dùng.
- Thể lục bát: là thể tổ hợp giữa câu sáu và câu tám. Số câu không cố định, tối
thiểu là hai câu thành một cặp.
- Thể tự do: hiện nay được ưa dùng.
1.1.3. Trƣờng nghĩa
1.1.3.1. Khái niệm trường nghĩa
Hiểu khái quát thì “trường nghĩa” là một tập hợp các từ ngữ có quan hệ với nhau
về nghĩa. Việc tập hợp các từ có chung với nhau một nét nghĩa nào đó gọi là một
trường từ vựng - ngữ nghĩa. Nói cách khác, “Trường ngữ nghĩa là một tiểu hệ thống
ngữ nghĩa được tạo ra do một loại từ có một ngữ nghĩa chung” [18; tr.83].
Khi nghiên cứu về trường nghĩa, các nhà nghiên cứu đã chia trường nghĩa ra
thành các loại: trường biểu vật, trường biểu niệm, trường tuyến tính, trường liên tưởng.
1.1.3.2. Các loại trường nghĩa
Dựa vào hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ mà F.de Saussure đã chỉ ra là quan
hệ hình tuyến (quan hệ ngang) và quan hệ trực tuyến (quan hệ dọc), người ta chia
trường nghĩa thành hai loại: trường nghĩa ngang và trường nghĩa dọc. Trong trường
nghĩa dọc có hai trường nghĩa nhỏ là trường biểu vật và trường biểu niệm. Phối hợp
trường nghĩa ngang và trường nghĩa dọc ta có trường liên tưởng. Sau đây xin trình
bày cụ thể hơn về các trường nghĩa này:
- Trường nghĩa biểu vật: là tập hợp những từ ngữ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu
vật. Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa các nghĩa biểu vật của các từ ngữ về
trường biểu vật thích hợp, người ta thường chọn các danh từ làm gốc. Các danh từ

Trích đoạn Hát then loại hình diễn xướng nghi lễ tổng hợp Thể, vần, nhịp điệu trong then
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status