đại học thái nguyên
Tr-ờng đại học khoa học
đào thị thanh thủy
Xác định tỷ lệ nhiễm vi khuẩn
salmonella
và
một số đặc điểm của
salmonella
trong thịt
lợn t-ơi tại khu vực thành phố thái nguyên
luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học
thái nguyên 2012
2S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây vấn đề “Bảo đảm chất lƣợng và an toàn thực
phẩm” đang là mối quan tâm đặc biệt ở nƣớc ta và nhiều nơi trên thế giới. Sự
phát triển kinh tế mạnh mẽ, cùng với quá trình đô thị hoá ngày càng nhanh
cũng nhƣ sự mở rộng giao lƣu quốc tế đòi hỏi mỗi nƣớc không những phải
tăng số lƣợng sản phẩm mà còn phải đảm bảo chất lƣợng vệ sinh an toàn và
giá trị dinh dƣỡng của thực phẩm.
Hiện nay ngộ độc thực phẩm đang là một vấn đề nghiêm trọng đối với
sức khỏe con ngƣời. Theo báo cáo của Bộ Y tế cho biết trong những năm gần
đây vấn đề ngộ độc thực phẩm đã xảy ra khá phổ biến trên địa bàn cả nƣớc,
trong năm 2006 có 165 vụ ngộ độc thực phẩm với 7.000 ngƣời mắc và có 57
ngƣời tử vong.
Thực tế hiện nay, thực phẩm có nguồn gốc từ động vật đặc biệt là thịt
lợn bán ở một số chợ, cửa hàng lại không đảm bảo chất lƣợng (thịt bị nhiễm
bụi bẩn, vi khuẩn do quá trình giết mổ, vận chuyển và bày bán ở chợ). Điều
đó cũng lý giải vì sao mà hàng năm có rất nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra.
Một trong những nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm là do vi sinh vật
và các độc tố của chúng nhiễm trong thịt, trong đó có vi khuẩn Salmonella và
độc tố đƣờng ruột Enterotoxin là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây
ngộ độc thực phẩm.
Khi đời sống của nhân dân ngày càng đƣợc nâng cao, vấn đề an toàn
thực phẩm trong đó có lợn và thịt lợn sạch bệnh, không bị nhiễm Salmonella
là một yêu cầu cấp thiết. Có rất nhiều tác giả đã công bố rằng sự nhiễm
Salmonella vào thân thịt lợn trong quá trình giết mổ chủ yếu liên quan đến sự
3
3.3. Nghiên cứu đặc tính sinh học, hóa học:
- Nghiên cứu đặc tính sinh học, hóa học của vi khuẩn Salmonella phân
lập đƣợc.
- Định type bằng kháng huyết thanh.
3.4. Xác định độc tố đƣờng ruột Enterotoxin:
- Xác định độc lực của chủng vi khuẩn Salmonella phân lập đƣợc.
- Phân lập gen độc tố đƣờng ruột Enterotoxin
3.5. Xác định tính mẫn cảm với một số loại kháng sinh và hóa dƣợc của
các chủng vi khuẩn khuẩn Salmonella phân lập đƣợc
5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM DO VI KHUẨN SALMONELLA
1.1.1. Ngộ độc thực phẩm
Ngộ độc thực phẩm (Intoxincation) hay còn gọi là trúng độc thức ăn do
ăn phải những thức ăn có chứa chất độc, thƣờng xảy ra một cách đột ngột
hàng loạt (nhƣng không phải là các bệnh dịch do nhiễm khuẩn), có những
triệu chứng của một bệnh cấp tính, biểu hiện bằng nôn mửa, ỉa chảy (trừ
nhiễm độc tố của vi khuẩn độc thịt thì lại bị táo bón) và các triệu chứng khác
đặc hiệu cho mỗi loại ngộ độc. Trong đó có ngộ độc thực phẩm do nhiễm vi
khuẩ n Salmonella.
1.1.2. Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Salmonella
Vi khuẩn Salmonella sống trong phủ tạng của gia cầm, gia súc và vấy
nhiễm vào thịt khi giết mổ. Chúng cũng có mặt ở phân và dễ dàng xâm nhập
vào trứng gia cầm qua những lỗ nhỏ li ti ở vỏ. Salmonella là một trong những
thủ phạm chính gây ngộ độc thực phẩm vào mùa hè.
Những thức ăn giàu chất dinh dƣỡng nhƣ thịt, cá, trứng, sữa rất dễ bị
nhiễm Salmonella trong quá trình chế biến, bảo quản, vận chuyển nếu không
toàn thực phẩm của Bộ Nông nghiệp Mỹ (FSIS) phát hiện vi khuẩn
Salmonella trong thịt bò tƣơi ở các cửa hàng và các kho chứa tại các siêu thị ở
Arinoza, California, Hawaii, Nevada và New Mexico. Đã làm 38 trƣờng hợp
bị mắc bệnh [15].
Ngày 9/7/2008 tại Mỹ đã có trên 1.000 ngƣời bị ngã bệnh vì vi khuẩn
Salmonella, đƣợc xem là con số lớn nhất từ 10 năm qua tại Hoa Kỳ vì ngộ
độc thực phẩm. Thủ phạm chính bị nghi ngờ là cà chua, ớt đỏ và ngò tƣơi.
7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Tốc độ nhiễm trung bình là 25-40 ca mỗi ngày, lan tràn trong 41 tiểu bang.
Tại Canada cũng có 4 trƣờng hợp [13].
1.1.4. Tình hình ngộ độc thực phẩm do Salmonella ở Việt Nam
Ở Việt Nam vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề đã và đang
đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm. Tuy nhiên, vấn đề này trên thực tế lại
không hoàn toàn dễ dàng trong quá trình thực hiện. Tình trạng ngộ độc đã xảy
ra ở hầu hết các địa phƣơng, nguyên nhân ngộ độc rất đa dạng: ngộ độc do thức
ăn bị nhiễm vi khuẩn, do hoa quả phun thuốc trừ sâu, bánh phở có hàn the
Nhƣng nguyên nhân do vi sinh vật chiếm tỷ lệ cao từ 32,8-55,8 %, đặc biệt là
vi khuẩn Salmonella đã gây ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm.
Ngộ độc thức ăn ở Việt Nam từ năm 1983 -1989, trong tổng số 269 vụ
ngộ độc theo dõi, có 5756 ngƣời mắc, tử vong 156 (2,7%) mà nguyên nhân
chủ yếu là do Salmonella (Cục quản lý chất lƣợng vệ sinh an toàn thực phẩm,
2002). Vụ ngộ độc thực phẩm do ăn nem thính có nhiễm Salmonella ở Thái
Bình. Vụ ngộ độc thực phẩm do ăn hủ tiếu nhiễm Salmonella enteritidis.
Ngày 16/5/2005 vụ ngộ độc kem Tràng Tiền làm 13 ngƣời gia đình chị Ngô
Mai Lan phải vào viện Bạch Mai. Nguyên nhân chính là do trong kem nhiễm
vi khuẩn Salmonella [15].
Ngày 9/5/2008 theo ông Trần Đáng - Cục trƣởng Cục an toàn vệ sinh
thực phẩm (Bộ Y tế) vừa thông báo qua kiểm tra 100 nhà hàng, quán ăn, cơ
3 nhóm chính:
Nhóm 1: Salmonella gây bệnh cho ngƣời gồm Salmonella typhi và
Salmonella paratyphi A, B và C. Chúng có thể lây nhiễm trực tiếp hoặc gián
tiếp qua thức ăn, nƣớc uống, từ ngƣời này sang ngƣời khác [25].
9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Nhóm 2: Gây bệnh trên động vật, nhƣ Salmonella dublin ở trâu bò,
Salmonella cholerae suis ở lợn.
Nhóm 3: Gây bệnh cho nhiều loài động vật, là nguyên nhân gây nên
những vụ ngộ độc nghiêm trọng ở ngƣời và động vật, trong đó điển hình là
Salmonella enteritidis, Salmonella typhimurium, Salmonella spp là tá c nhân
gây ngộ độ c thƣ̣ c phẩ m trên phạ m vi toà n thế giớ i, bệ nh do chú ng gây ra đang
đe dọ a sƣ́ c kh ỏe cộng đồng ở hầu hết các quốc gia phát triể n và đang phá t
triể n.
Theo Laval (2000) thì nguy cơ bệnh do Salmonella ở lợn luôn đe dọa
trong thờ i kỳ vỗ bé o đế n khi giế t mổ . Lò mổ cũng là nơi tàng trữ và lây lan
mầ m bệ nh quan trọ ng cho cá c trang trạ i chăn nuôi cũ ng nhƣ ngƣờ i tiêu dù ng .
Salmonella typhimurium gây bệ nh viêm ruộ t ỉ a chả y mạ n tí nh ở lợ n , chỉ cần
1 con lợ n trong đà n lợ n 100 con bị ỉ a chả y do Salmonella, 24 giờ sau cả đà n
sẽ bị lây nhiễm. Điều đá ng chú ý là phƣơng thƣ́ c lây truyề n ngang củ a loà i vi
khuẩ n nà y tƣ̀ lợ n nà y sang lợ n khá c trong đà n sau khi chú ng đƣợ c bà i thả i ra
ngoài môi trƣờng [1].
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ti Việt Nam
Đây là những nghiên cứu có liên quan đến đề tài và gần đây nhất:
Lê văn Tạo và cộng sự (1994) khi tiến hành phân lập, xác định serotype
của vi khuẩn Salmonella gây bệnh ở lợn cho biết: 50% là Salmonella
cholerae suis; 12,5% Salmonella enteritidis; 6,5% Salmonella typhimurium
và còn lại là các serotype khác[18].
Trần Xuân Hạnh (1995) khi nghiên cứu trên lợn 2-4 tháng tuổi đã xác
kinh doanh, không có hệ thố ng xƣ̉ lý chấ t thả i [2].
11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
1.2.3. Nguyên nhân nhiễm khuẩn trên thịt
Thịt là môi trƣờng thuận lợi cho một số vi khuẩn tồn tại và phát triển,
nguyên nhân lây nhiễm vi khuẩn vào thịt từ nhiều nguồn khác nhau. Nhiễm
khuẩn thịt có thể từ các nguyên nhân sau:
- Nhiễm khuẩn từ các nguồn tự nhiên
- Nhiễm khuẩn từ nƣớc
- Nhiễm khuẩn từ không khí
- Nhiễm khuẩn từ đất
- Nhiễm khuẩn trong quá trình giết mổ, chế biến và bảo quản thịt
Thịt tươi
Thịt tƣơi là thịt chƣa bị biến chất bởi men của bản thân nó và của vi
sinh vật, làm thay đổi cảm quan và hình thành những chất có hại. Thịt tƣơi là
một trong những sản phẩm động vật có giá trị dinh dƣỡng cao, đƣợc sử dụng
rộng rãi bởi thịt có đầy đủ những chất dinh dƣỡng sinh học cần thiết cho sự
sinh trƣởng, phát triển và hoạt động sống của con ngƣời.
Thành phần hóa học của thịt rất khác nhau, phụ thuộc vào các yếu tố
giống, loài, lứa tuổi, độ béo gầy và điều kiện chăm sóc, nuôi dƣỡng. Nhƣng
nhìn chung thành phần hóa học của thịt bao gồm:
+ Nƣớc : 50 - 75%
+ Protein : 14 - 21%
+ Lipit : 3,5 - 21,5%
+ pH của thịt tƣơi, tốt là 6 - 6,5%
Ngoài các thành phần chính ở trên thớ thịt còn có khoáng, vitamin, các
loại men và các chất dinh dƣỡng khác cần thiết cho con ngƣời.
12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ôi
5. Gân
Gân trong, bám chặt vào thành
ống xƣơng
Kém trong, độ đàn hồi
kém
6. Tuỷ
Tuỷ trong, bám chặt vào thành
ống xƣơng
Đục, co lại, không đầy ống
xƣơng
7. Nƣớc luộc
Trong, mùi vị thơm ngon, trên mặt
có những giọt mỡ to
Đục, mùi vị ôi, trên bề mặt
có giọt mỡ nhỏ
13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Theo phƣơng pháp sinh hóa học, thịt tƣơi đƣợc đánh giá bằng các phản
ứng sinh hóa học dựa theo các tiêu chuẩn sau:
Bảng 1.2. Tiêu chuẩn đánh giá thịt tƣơi bằng các phản ứng sinh hóa học
(Nguyễn Vĩnh Phƣớc (1976), Trung tâm kiểm tra vệ sinh thú y
Trung ƣơng I-Cục thú y (1998)
Tiêu chuẩn
Thịt tƣơi
Thịt kém tƣơi
Thịt ôi
pH của nƣớc thịt ngâm
5,4 - 6,4
lọc không biến đổi
màu sắc
Phản ứng Nestler tìm
NH
3
Nƣớc thịt ngâm,
lọc không màu
Nƣớc thịt ngâm,
lọc có màu vàng
nhạt
Nƣớc thịt ngâm,
lọc có màu vàng
vỏ chanh
Phản ứng tìm H
2
S
(dùng axetat chì)
Giấy lọc giữ
nguyên màu
Giấy lọc có màu
nâu nhạt
Giấy lọc có màu
nâu sẫm hoặc đen
14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Các dng hư hỏng của thịt
Thịt trong quá trình bảo quản có thể bị biến chất và hƣ hỏng. Sau khi
chúng nhƣ S. typhi hay S. paratyphi A, B, C ( typhoid = bệnh thƣơng hàn,
para = phó ), hoặc theo vật chủ nhƣ S. typhimurium gây bệnh ở chuột (murine
= chuột), về sau ngƣời ta thấy rằng một loài Salmonella có thể gây ra nhiều
hội chứng và có thể phân lập đƣợc ở nhiều loài khác nhau. Vì những lý do đó
mà các chủng Salmonella mới phát hiện đƣợc đặt tên theo nơi mà nó đƣợc
phân lập nhƣ S. teheran, S. congo, S. london.
1.3.2. Đặc điểm hình thái
Salmonella spp là trực khuẩn Gram âm, kị khí tuỳ nghi, không có nha
bào, có khả năng di động (trừ S. gallinarum và S. pullorum), có kích thƣớc
0,4 – 0,6 x 1 – 3 µm. Salmonella dễ dàng nuôi cấy ở 37
o
C trên môi trƣờng
nuôi cấy bình thƣờng, chúng phát triển các khuẩn lạc có đƣờng kính 2 – 4
mm, trơn, sáng và đồng nhất (Hình 1.1) [38].
Hình 1.1. Vi khuẩn Salmlonella spp
16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
1.3.3. Cấu trúc kháng nguyên
Khi nghiên cứu về huyết thanh của vi khuẩn Salmonella, ngƣời ta đặc
biệt chú ý đến đặc tính kháng nguyên của vi khuẩn này. Salmonella có 3 loại
kháng nguyên là kháng nguyên O (kháng nguyên thân – somatic), kháng
nguyên H (kháng nguyên tiêm mao – flagella) và kháng nguyên Vi (kháng
nguyên bề mặt – capsule).
Kháng nguyên O: có hơn 60 loại đƣợc ký hiệu bằng số 1, 2, …12, đƣợc
bao bọc bởi bề mặt của vi khuẩn tạo thành một lớp không đều. Chia kháng
nguyên O thành 34 nhóm A, B, C1, C2, C3, D1, D2, E1, E2, E3, E4, F, G1,
bởi các yếu tố có khả năng cắt roi của vi khuẩn. Kháng nguyên H không có
tác dụng gây bệnh, không gây miễn dịch, nó đặc hiệu cho các loài vi khuẩn
dựa vào kháng nguyên H để phân loại bằng phƣơng pháp huyết thanh.
Kháng nguyên Vi: là kháng nguyên nằm ngoài kháng nguyên O và là
nơi biểu hiện độc tố, đƣợc cấu tạo bởi polysaccharide của vỏ ngoài vách tế
bào, thƣờng kết hợp với tính gây độc chuyên biệt cho vật chủ. Nó ức chế sự
biểu hiện của kháng nguyên O khi nó phát triển nhiều, ổn định với nhiệt độ,
cồn và HCl. Kháng nguyên này chỉ đƣợc xác định trên 3 kiểu huyết thanh: S.
typhi, S. paratyphi và S. dublin. Kháng nguyên Vi của một số chủng S. typhi
đặc biệt có sức đề kháng tốt đối với nhiệt độ cao hơn các chủng Salmonella
thông thƣờng khác. Khi kháng nguyên Vi bị mất thì ngay lập tức S. typhi
cũng chết.
Tất cả 3 loại kháng nguyên này đều đƣợc sử dụng để chuẩn đoán bệnh
thƣơng hàn trong phòng xét nghiệm cận lâm sàng.
Kháng nguyên O biểu hiện chủ yếu lúc bệnh mới khởi phát.
Kháng nguyên H biểu hiện mạnh lúc bệnh sắp kết thúc.
Kháng nguyên Vi biểu hiện mạnh ở những ngƣời mang vi khuẩn mãn tính.
1.3.4. Đặc tính sinh hóa
Salmonella có những đặc tính sinh hóa chủ yếu mà dựa vào đó ngƣời ta
có thể định hƣớng phân biệt với các vi khuẩn đƣờng ruột khác. Các chủng
Salmonella sinh acid do lên men glucose, mannitol, dulcitol nhƣng không lên
men lactose (trừ S. arizona) và sucrose, không có khả năng tách amine từ
trytophan. Chúng không sinh indol hoặc acetoin và phân giải urea. Phần lớn
18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
các chủng sinh hydrogen sulfide (H
2
S) và tách carboxyl (de-carboxylate) từ
ornithine và lysine. Chúng kém chịu nhiệt nhƣng chịu đuợc một số hóa chất
+H
+H
+H
-
+H
+
Sal.typhosa
±
±
+
-
+
+
Sal.typhimurium
+H
+H
+H
+H
+H
+
Sal.abortus equi
+H
+H
-
-
+H
±
Sal.abortus ovis
+H
+H
±
+
Sal.gallinarum
+
+
+
-
+
±
Sal.anatis
+H
+H
+
-
+H
+
(Chú thích: + = sinh axit, dƣơng tính; H = sinh hơi; - = âm tính; ± = thay đổi)
19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
1.3.5. Triệu chứng gây bệnh
Triệu chứng bệnh do Salmonella biểu hiện phụ thuộc vào số lƣợng và tỉ
lệ vi khuẩn nhiễm vào thực phẩm. Thời gian ủ bệnh khoảng 12 – 24 giờ, có
khi vài giờ nhƣng cũng có khi vài ngày. Các dấu hiệu đầu tiên là bệnh nhân
thấy nhức đầu, chán ăn, mặt tái nhạt, toát mồ hôi, nôn mửa, đau bụng và tiêu
chảy. Thân nhiệt tăng lên 38 –40
o
C trong vòng 2 – 4 ngày sau khi phát bệnh
và tùy thuộc mức độ nặng nhẹ mà kéo dài 3 – 7 ngày. Bệnh nặng gây ra viêm
dạ dày , ruột. Vi khuẩn tồn tại trong ống tiêu hóa từ 6 – 8 tháng và tiếp tục bài
thành các khuẩn lạc tròn, trong sáng hoặc xám, nhẵn bóng, hơi lồi lên ở giữa,
nhỏ và trắng hơn khuẩn lạc của E. coli (đƣờng kính = 1 - 1,5mm).
Ở một số loài nhƣ Salmonella paratyphi B, Salmonella cholerae suis
cấy trên thạch pepton dày, sau 1 - 2 ngày khuẩn lạc hình thành một bờ chất
dính, chất keo bao bọc.
Trên thạch thỉnh thoảng thấy có khuẩn lạc dạng R nhám, mặt trong mờ.
Salmonella abortus equi nuôi cấy từ cơ thể động vật sang thạch thƣờng lần
đầu tiên hình thành khuẩn lạc khô, hình hạt lỗ chỗ.
Trên môi trƣờng thạch sắt 3 đƣờng TSI (Triple - Sugar - Iron- Agar):
Salmonella làm biến đổi mầu của môi trƣờng; đáy của môi trƣờng có màu
vàng, mặt thạch nghiêng có mầu đỏ và khi sản sinh H
2
S làm môi trƣờng có
mầu đen.
Trên môi trƣờng XLD hoăc XLT
4
nuôi cấy ở tủ ấm 37
0
C sau 18-24h,
khuẩn lạc có màu đen do sinh H
2
S.
Trên môi trƣờng thạch Rambach nuôi cấy ở tủ ấm 37
0
C sau 18-24h
khuẩn lạc có màu tròn, gọn và có màu hồng.
Trên môi trƣờng thạch Kligler: Salmonella làm biến đổi màu của môi
trƣờng, đáy của môi trƣờng có màu vàng, mặt thạch nghiêng có màu hồng đỏ và
khi sản sinh H
2
+ Simons citrat agar (hãng Merck, Germany)
+ Ure broth (hãng Merck, Germany)
22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
2.2.2. Thiết bị, máy móc, dụng cụ hoá chất dùng trong thí nghiệm
- Thiết bị: Tủ ấm, nồi hấp sạch, bẩn, tủ lạnh, buồng cấy vô trùng, cân, tủ
mát, buồng cấy vô trùng, kính hiển vi.
- Máy đồng nhất mẫu (Stomacher)
- Dụng cụ hoá chất cần thiết: Gạc, túi đựng mẫu, ống nghiệm, pipet, chai
lọ các loại, que cấy, đĩa Pertri, kéo, các hóa chất cần thiết cho phòng vệ sinh
gia súc.
- Bộ định type kháng huyết thanh O-H (Diagnostics Pasteur, Paris,
Pháp).
Tất cả dụng cụ hóa chất, môi trƣờng nuôi cấy, phân lập, giám định đều
phải vô trùng tuyệt đối trƣớc khi dùng.
2.3. Cặp mồi sử dụng
Cặp mồi đặc hiệu đƣợc sử dụng cho phản ứng PCR nhân các đoạn gen
đích đƣợc thiết kế nhƣ bảng 2.1
Bảng 2.1. Cặp mồi sử dụng nghiên cứu
Ký hiệu
mồi
Trình tự mồi
Sản phẩm
(bp)
Stn- F
Stn- R
5’- CTTTGGTCGTAAATAAGGCG- 3’
5’- TGCCCAAAGCAGAGAGATTC- 3’
259
loại môi trƣờng chỉ có tác dụng chọn lọc dựa trên một đặc điểm phát triển của
Salmonella, một số dòng chỉ có thể tăng trƣởng trong môi trƣờng này mà
không thể tăng trƣởng trong môi trƣờng khác. Do vậy, để tăng khả năng phát
hiện tất cả các dòng Salmonella hiện diện trong thực phẩm cần phải dùng ít
nhất hai loại tăng sinh chọn lọc khác nhau cho cùng một mẫu. Ngoài ra mỗi
môi trƣờng cần đƣợc ủ ở các nhiệt độ khác nhau
Bƣớc 3: Phân lập và nhận diện
Dùng que cấy vòng thực hiện kỹ thuật cấy phân lập khuẩn lạc đơn với
giống từ dịch tăng sinh chọn lọc trên đĩa môi trƣờng phân lập đặc trƣng cho
24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
Salmonella nhƣ XLD, HE, BS… Cƣờng độ chọn lọc và mức độ phân biệt thể
hiện ở hình thái của khuẩn lạc Salmonella trên từng môi trƣờng cũng khác
nhau. Để chọn lọc và nhận dạng tất cả các dòng Salmonella cần sử dụng ít
nhất hai loại môi trƣờng chọn lọc phân biệt khác nhau cho cùng một mẫu. Các
biểu hiện của Salmonella trên từng môi trƣờng khác nhau nhƣ sau
Môi trƣờng XLD: khuẩn lạc tròn, lồi, trong suốt, có hay không có tâm
đen, đôi khi tâm đen quá lớn bao trùm khuẩn lạc, môi trƣờng xung quanh
chuyển sang màu hồng
Môi trƣờng HE: khuẩn lạc có màu thay đổi từ xanh dƣơng đến xanh
lục, có hay không có tâm đen, đôi khi tâm đén quá lớn bao trùm khuẩn lạc
Môi trƣờng BS: khuẩn lạc có màu nâu xám hay màu đen, thỉnh thoảng
có ánh kim tím, môi trƣờng chuyển thành màu nâu và sau đó chuyển sang
màu đen nếu kéo dài thời gian ủ
Bƣớc 4: Khẳng định bằng các phản ứng sinh hóa
Từ mỗi môi trƣờng phân lập cấy chuyển ít nhất 5 khuẩn lạc đặc trƣng
qua môi trƣờng không chọn lọc nhƣ TSI. Ủ ở 37
0
C trong 18 – 24 giờ. Các