đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong tác phẩm tắt đèn của ngô tất tố - Pdf 33

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN THỊ HUỆ

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI QUA HÀ NH VI HỎI
TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN CỦA NGÔ TẤT TỐ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN THỊ HUỆ

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI QUA HÀ NH VI HỎI
TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN CỦA NGÔ TẤT TỐ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60 22 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Ngƣời hƣớng dẫn: GS.TS. NGUYỄN VĂN KHANG

THÁI NGUYÊN - 2015

Khoa sau đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Thái Nguyên cùng
các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và
thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp, các bạn lớp ngôn ngữ K21 đã động viên, khích lệ, giúp đỡ em trong
suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 thánh 04 năm 2015
Học viên

Nguyễn Thị Huệ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

ii

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................. 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 7
4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 8
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 9

că ̣p vơ ̣ chồ ng nông dân: anh Dâ ̣u và chi ̣Dâ ̣u ................................................ 33
2.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ giới qua g iao tiếp giữa cặp vợ chồng là địa
chủ: ông Nghị và bà Nghị .............................................................................. 38
2.2.3. Đối chiếu đ ặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao
tiếp giữa că ̣p vơ ̣ chồ ng nông dân và că ̣p vơ ̣ chồ ng điạ chủ........................... 41
2.3. Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp giữa mẹ
và con cái .......................................................................................................... 43
2.3.1. Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp giữa chị
Dậu và cái Tý ................................................................................................. 43
2.3.2. Đặc điểm ngôn ngữ giới tính qua hành vi hỏi trong giao tiếp
giữa chị Dậu và thằng Dần ............................................................................ 46
2.2.3. Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp
giữa các că ̣p me ̣ con: chị Dậu với cái Tý và chi ̣Dâ ̣u với thằ ng Dầ n................ 50
2.4. Tiểu kết chương 2 ....................................................................................... 52
Chƣơng 3. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NG Ữ GIỚI QUA HÀ NH VI HỎI Ở
GIAO TIẾP XÃ HỘI TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN CỦA NGÔ
TẤT TỐ .................................................................................................. 54
3.1. Giới hạn nghiên cứu, khảo sát .................................................................... 54
3.2. Đặc điểm ngôn ngữ giới qua giao tiếp giữa những người cùng giới ......... 55
3.2.1. Đặc điểm ngôn ng ữ giới qua hành vi hỏi trong giao ti ếp giữa
những người cùng giới, ngang quyền ............................................................ 55
3.2.2. Đặc điểm ngôn ng ữ giới qua hành vi hỏi trong giao ti ếp giữa
những người cùng giới, không ngang quyền ................................................. 60
3.2.3. Đối chiếu đặc điểm ngôn ng ữ giới qua hành vi hỏi trong giao
tiế p của những người cùng giới ngang quyề n và không ngang quyề n .......... 65
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

iv

http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhiều mặt của đời sống con người như nhận thức, thói quen, hành vi ứng
xử...đặc biệt là việc sử dụng ngôn ngữ. Một trong những hệ quả của sự tương
tác đó là việc tạo nên phong cách ngôn ngữ của mỗi giới. Trong quá trình giao
tiếp, ở những lứa tuổi khác nhau, hoàn cảnh, vị trí khác nhau...thì mỗi giới có
một phong cách riêng. Vì thế, luận văn này nghiên cứu đă ̣c điể m ngôn ngữ giới
qua hành vi hỏi cũng là mong mu ốn góp phần vào nghiên cứu đặc điểm của
loại phong cách ngôn ngữ này.
1.2. Chọn các tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố làm tư liệu nghiên cứu là vì:
- Ngô Tất Tố là nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam,
một trong những kiện tướng tiên phong của trào lưu văn học hiện thực phê phán.
Chỉ với ba thập kỉ cầm bút, Ngô Tất Tố đã để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ và
có giá trị trên nhiều lĩnh vực như báo chí, dịch thuật...mà đặc biệt là văn học.
- Tắt đèn là một trong những tác phẩm văn học tiêu biểu nhất của nhà
văn Ngô Tất Tố cũng là của nền văn học Việt Nam hiện đại. Đây là một tác
phẩm văn học hiện thực phê phán với nội dung nói về cuộc sống khốn khổ của
tầng lớp nông dân Việt Nam đầu thế kỉ xx dưới ách đô hộ của thực dân Pháp.
Kể từ khi ra đời cho đến nay, Tắt đèn không chỉ hấp dẫn nhiều thế hệ độc giả
mà còn thu hút đuợc sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu phê bình.
- Tiểu thuyết Tắt đèn cũng là một trong số không nhiều tác phẩm hiện
thực phê phán 1930-1945 đã được đưa vào giảng dạy ở trường trung học cơ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

1

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


sở, với đoạn trích “ tức nước vỡ bờ ”(ngữ văn lớp 8 tập 1). Đặc biệt, tác phẩm
Tắt đèn cùng với cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Ngô Tất Tố đã được đưa
vào giảng dạy một số trường đại học sư phạm, các trường khoa học xã hội và

- Với những Lý do trên, đề tài đă ̣c điể m ngôn ngƣ̃ giới qua hành vi hỏi
trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố đã được chọn làm hướng nghiên cứu
của luận văn này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới
Những nghiên cứu về ngôn ngữ và giới đã được các nhà nghiên cứu
trong các lĩnh vực như nhân chủng học, sử học, ngôn ngữ học quan tâm từ lâu.
Ở trên thế giới, đối với lĩnh vực ngôn ngữ, phải chờ đến đầu thế kỉ XX, những
ấn tượng về sự khác biệt giới trong ngôn ngữ mới được dẫn ra một cách cụ thể,
có bằng chứng nhờ sự quan sát, khảo cứu của E.Saprir đối với việc sử dụng
luân phiên một số âm vị khác nhau giữa nam và nữ của người Yana và
O.Jersperson về sự khác biệt trong từ vựng và phong cách của nam và nữ khi
giao tiếp bằng tiếng Anh. Nhưng người thực sự mở đường cho nghiên cứu này
là R.Lakoff với tác phẩm Language and woman’s place (Ngôn ngữ và vị trí của
người phụ nữ trong xã hội), NXB Harper and Row (1975). Trong công trình
này, bà đã nghiên cứu mối quan hê ̣ giữa ngôn ngữ và giới ở các bình diện cấu
trúc - hệ thống (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) và bình diện giao tiếp. Có thể
khẳng định rằng R.Lakoff đã mở ra một hướng nghiên cứu mới cho ngôn ngữ
học nói chung, ngôn ngữ học xã hội nói riêng. Trên nền tảng nghiên cứu ngôn
ngữ và giới, các nghiên cứu sau R.Lakoff, một mặt tiếp thu những nội dung mà
tác giả đã nghiên cứu để từ đó phát triển và đưa ra những hướng nghiên cứu
mới về giới. Trong đó, đáng chú ý là những nghiên cứu về mối quan hệ giữa
ngôn ngữ và giới trong giao tiếp: coi giới là một nhân tố tác động đến giao tiếp.
Sau này, tất cả các công trình về ngôn ngữ học xã hội đều có một chương riêng
về ngôn ngữ và giới tính.
Ở Việt Nam người đầu tiên đề cập đến ngôn ngữ học xã hội là tác giả
Nguyễn Văn Khang với các công trình nghiên cứu như: Ứng xử ngôn ngữ trong
giao tiếp gia đình người Việt, Nxb văn hóa Thông tin, 1996; Nguyễn Văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN


ngôn ngữ trong giao tiếp, Đại học Quốc Gia Hà Nội; Nguyễn Thị Mai Hoa
(2010), Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh, ĐH
Vinh; Lê Hồng Linh (2010), Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và giới tính trong tiếng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

4

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


Việt và tiếng Anh, tạp chí ngôn ngữ và đời sống số 1; Nguyễn Thị Trà My
(2011), Tác động của nhân tố giới tính đến sự sử dụng ngôn ngữ và tư duy của
người Việt, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; Hoàng Thị Tưới
(2011), Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua
tác phẩm của Nam Cao, Đại học Hải Phòng; Phạm Thị Hà (2013), “Đặc điểm
ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và tiếp nhận lời
khen”....Đa số các công trình trên đều coi giới tính là một nhân tố xã hội quan
trọng khi nghiên cứu về ngôn ngữ, đặc biệt là giới có sự tác động đến giao tiếp
ngôn ngữ của người Việt. Những công trình này cung cấp cho chúng tôi thêm
những định hướng để triển khai đề tài.
2.2. Lịch sử nghiên cứu về hành vi hỏi
Ngữ du ̣ng ho ̣c xuấ t hiê ̣n trên thế giới từ nửa đầu thế kỉ XX với hàng loạt
các nhà nghiên cứu có tên tuổi: J.L.Austin, J.R Searle, JJ Katz, Ballmer... Ở
Việt Nam những người mở đường cho ngành ngữ dụng học như Đỗ Hữu Châu
(1993, 2001), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000)...
Sau đó, trên cơ sở lý thuyết của ngữ dụng học đã có nh iề u công triǹ h
nhiều luận văn, luận án, bài viết nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ cụ thể của
tiếng Việt như Vũ Thị Nga, Nguyễn Thị Hoàng Yến, Hà Thị Hải Yến với đề tài
về hành vi cam kết, chê, cảm thán; Nguyễn Thị Hoài Linh (2003), Nguyễn Thu
Hạnh (2005) khảo sát hành vi ngôn ngữ " mách" và " trách"...

phẩm Tắt đèn. Mở đầu là bài viết của Vũ Trọng Phụng với nhan đề “Tắt đèn
của Ngô Tất Tố”, được đăng trên báo thời vụ số 100, ngày 31-1-1939.Vũ Trọng
Phụng đã khẳng định giá trị nhiều mặt của Tắt đèn và hết lòng ngợi ca « Tắt
đèn là cuốn tiểu thuyết có luận đề xã hội- điều ấy cố nhiên là hoàn toàn phụng
sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác tòng lai chưa từng thấy mà lại
của một tác giả có cái may hơn nhiều nhà văn khác là được sống nhiều ở thôn
quê nên có đủ thẩm quyền » [22, tr. 200].
Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, hòa bình lập lại, Tắt đèn của
Ngô Tất Tố đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Từ đó tên tuổi và sự
nghiệp văn học của Ngô Tất Tố càng thu hút các nhà nghiên cứu, phê bình. Sau
khi nhà văn qua đời trên con đường kháng chiến (1954) thì có rất nhiều bài tiếp
tục nghiên cứu, giới thiệu về ông như: Ngô Tất Tố của Nguyên Hồng (Tạp chí
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

6

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


văn nghệ số 54, tháng 8, năm 1954; Đọc lại việc làng của Bùi Huy Phồn (Tạp
chí văn nghệ số 8, tháng 1, năm 1958) … đặc biệt là toàn tập Ngô Tất Tố
(1996) do giáo sư Phan Cư Đệ tuyển chọn và giới thiệu.
Bước sang thời kỳ đổi mới, vị trí của Ngô Tất Tố vẫn được khẳng định
trên văn đàn. Các bài báo như: Ngô Tất Tố nhà văn hóa lỗi lạc của Hoài Việt;
Ngô Tất Tố trong sự nghiệp đổi mới hôm nay của Phan Cư Đệ…đã khẳng định
vai trò của nhà văn đối với quá khứ, hiện tại và tương lai. Đến năm 2000, nhà
xuất bản Giáo dục đã cho in cuốn Ngô Tất Tố về tác giả tác phẩm do hai nhà
nghiên cứu Mai Hương và Tôn Phương Lan tuyển chọn và giới thiệu. Đây là
công trình tập hợp đầy đủ các bài viết, bài nghiên cứu, hồi ức, tưởng niệm của
bạn bè, đồng nghiệp, người thân về Ngô tất Tố.

- Khảo sát đă ̣c điể m ngôn ng ữ giới qua hà nh vi hỏi ở giao tiếp xã hội,
trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố.
- So sánh, đối chiếu rồ i rút ra nh ững kết luận về đă ̣c điể m ngôn ng ữ giới
qua hành vi hỏi trong giao tiếp gia đình và xã hội ở tác phẩm này.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
4.1. Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Sau khi khảo sát toàn bộ tiêu thuyết Tắt đèn, chúng tôi tiến hành khảo
sát, thống kê, phân loại các cặp giao tiếp, các hành vi hỏi trực tiếp và gián tiếp.
4.2. Phương pháp phân tích diễn ngôn
Bằng phương pháp này, chúng tôi tiến hành phân tích các cuộc giao tiếp,
các hành vi hỏi của các nhân vật trong tác phẩm Tắt đèn.
4.3. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Từ sự phân loại thống kê, chúng tôi phân tích ngôn ngữ giao tiếp của
các nhân vật qua hành vi hỏi , nhìn từ góc độ giới. Qua đó tổng hợp khái quát
thành những đặc điểm phong cách ngôn ngữ giới ở giao tiếp trong tác phẩm
Tắt đèn của Ngô Tất Tố.
4.4. Phương pháp so sánh – đối chiếu
Sau khi khảo sát, phân tích, chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu hành vi
hỏi ở các phạm trù giao tiếp để tìm ra sự tương đồng, khác biệt về đặc điểm
ngôn ngữ giới trong tác phẩm Tắt đèn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

8

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu



Chương 2. Đặc điểm ngôn ng ữ giới qua hành vi hỏi ở giao tiếp gia đình
trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố
Chương 3. Đặc điểm giới ngôn ng ữ qua hành vi hỏi ở giao tiếp xã hội
trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố
Chƣơng 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Một số vấn đề về giới trong ngôn ngữ
1.1.1. Thuật ngữ giới và giới tính
Giới tính và giới là hai khái niệm liên quan nhưng có nội hàm khác nhau.
Trong tiếng Anh có hai từ tương đương với giới tính và giới là sex và gender.
Sex được giải thích là “tình trạng là đực hay là cái”. Gender được giải thích là
“(i) Sự phân chia danh từ hay đại từ thành giống đực và giống cái; (ii) Sự phân
chia về giới tính”. Theo các nhà khoa học, nam giới và nữ giới khác nhau ở hai
khía cạnh: thể chất (sinh lý học) và xã hội.
Như vậy, Giới tính (giống) là khái niệm chỉ sự nhau về mặt thể chất, sinh
lý giữa nam và nữ. Giới là khái niệm chỉ sự khác biệt về mối quan hệ, địa vị,
chức năng...xã hội của nam và nữ trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể.
1.1.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới
Vấn đề giới/ giới tính liên quan đến nhiều mặt của đời sống con người
như nhận thức, thói quen, hành vi ứng xử, xã hội, văn hóa....Về mặt lí luận
“giới tính có hàm ý không chỉ trong quan hệ chủng tộc, trong tầng bậc xã hội,
luật pháp và thói quen, thể chế giáo dục mà còn tác động đến tôn giáo, giao tiếp
xã hội, phát triển xã hội và nhận thức, vai trò trong gia đình và công sở, phong
cách xử sự, quan niệm về cái tôi, phân bố nguồn lực, các giá trị đạo đức và
thẩm mĩ và đạo đức và nhiều lĩnh vực khác nữa. Về mặt thực tiễn, vấn đề giới
liên quan mật thiết đến sự thay đổi về quan niệm và đời sống, vị thế ở cả gia
đình và ngoài xã hội giữa nam và nữ. vì thế chúng trở thành đối tượng nghiên

giới thường thích dùng nhiều từ chỉ màu sắc trong khi đó nam giới lại ít dùng
từ chỉ màu sắc [32, tr. 34].
Với phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung đi vào vấn
đề thứ ba ngôn ngữ được mỗi giới sử dụng (phong cách ngôn ngữ của mỗi
giới), hai vấn đề còn lại được xem xét gắn với vai giao tiếp trong từng hoàn
cảnh hội thoại cụ thể.
1.1.3. Những nghiên cứu về ngôn ngữ và giới
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ sử dụng những kí hiệu hữu hạn để biểu
thị thế giới khách quan vô hạn, cộng với chức năng là công cụ giao tiếp và tư
duy nên ngôn ngữ là của chung mọi người trong cộng đồng, theo đó cũng là
của chung của cả nam và nữ. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, là tấm gương phản
ánh xã hội, sự phân chia loài người thành "hai nửa" giới nam và giới nữ thì tất
nhiên sẽ có sự khác nhau ở mặt ngôn ngữ. Sự khác nhau trong sử dụng ngôn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

12

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


ngữ ở mỗi giới (nam và nữ) đã được các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực như
nhân chủng học, sử học, ngôn ngữ học quan tâm từ lâu. John Gray đã dùng
hình ảnh “đàn ông đến từ sao Hỏa, đàn bà đến từ sao Kim” để ví sự khác biệt
ngôn ngữ giữa nam và nữ [29, tr. 237]. Tuy trong thực tế, chúng ta không đến
từ những hành tinh khác nhau nhưng những khác biệt đó chỉ có thể được nhận
diện khi đàn ông và đàn bà cùng chung sống trong một không gian xã hội nhất
định, đặc biệt là trong sự tương tác chéo.
Mặc dù trước đó, trong các công trình nghiên cứu của E.d. Sapir,
O.Jersperson,... đã có đề cập đến vấn đề ngôn ngữ và giới nhưng phải chờ đến
R. Lakoff thì vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới mới được nghiên

lỗi, ngài đang giẫm lên chân tôi).
Thứ hai về từ vựng: 1/ Phụ nữ có vựng phong phú hơn trong một số lĩnh
vực phù hợp với phụ nữ như nấu nướng, may vá....2/ Phụ nữ có xu hướng thích
sử dụng những từ ngữ chỉ màu sắc chính xác (như beige “màu be”, aquamarine
“ngọc bích, cánh sen”, lavender “tím nhạt”, mauve “tím hồng”, ecru “vàng
xám”); 3/ Phụ nữ ưa sử dụng các từ đệm, từ cảm thán ở dạng trung tính, nhẹ
nhàng như oh dear ( trời /trời ơi/ eo ơi,), trong khi đàn ông thường ưa dùng
những dạng thức ngôn ngữ thô thiển và có phần tục tĩu hơn như shit (mẹ kiếp,
chó chết, chết tiệt); 4 /Phụ nữ thường dùng các từ tăng cường để nhấn mạnh
như so, very, really, absolutely,… Ví dụ, phụ nữ thích cách nói kiểu That was
so nice; How absolutely marvellous; so intelligent nhằm tăng hiệu quả giao
tiếp, đồng thời lại thích sử dụng cách giảm nhẹ như kind of (kiểu như, hơi hơi)
trong kind of difficult (hơi hơi khó) để làm dịu căng thẳng; 5/ Phụ nữ thường
dùng các từ tự do như sor of, I guess, I thin (Đối với những từ thiên về bộc lộ
cảm xúc hơn là cung cấp thông tin, phụ nữ thường sử dụng một số từ “dịu
dàng” như adorable (thay vì great), charming (thay vì terrific), sweet (thay vì
coll), lovely, divine (thay vì neat).
Thứ ba, về ngữ pháp, cách giao tiếp: 1/Phụ nữ ưa sử dụng câu hỏi đính
kèm nhằm thuyết phục và làm "mềm hóa" phát ngôn. Nhìn về bề mặt phát
ngôn, người ta có thể cảm giác tính không chắc chắn nhưng thực tế hiệu quả
giao tiếp lại rất cao, theo kiểu “lạt mềm buộc chặt"... Ví dụ: John is here, isn’t
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

14

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


John? (Giôn ở đây, có phải không?); 2/ Phụ nữ thường đưa ra những yêu cầu ở
dạng kết hợp và gián tiếp để thể hiện tính lịch sự. Ví dụ: I wonder if you would


không gian, thời gian xã hội diễn ra cuộc giao tiếp. Hoàn cảnh giao tiếp chia
thành hai loại là: hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp.
Hoàn cảnh giao tiếp rộng là toàn bộ những hiểu biết của nhân vật giao tiếp
về phong tục, tập quán, văn hoá, chính trị, xã hội của một dân tộc. Hoàn cảnh
giao tiếp rộng được những nhân vật giao tiếp nhận thức. Hoàn cảnh giao tiếp hẹp
chính là không gian cụ thể diễn ra cuộc giao tiếp. Nó chính là môi trường giao
tiếp cụ thể như giảng đường, lớp học, nhà trường, chùa chiền, chợ búa, quán
xá,... Hoàn cảnh hẹp chính là yếu tố tạo thành ngữ cảnh cho cuộc giao tiếp.
2/ Người tham dự (P): Là những người trực tiếp tham gia vào cuộc
giao tiếp. Người tham dự giữ bốn vai là người nói (addressor), người nghe
(listener), người phát ngôn (speaker), người thụ ngôn (addressee). Trong giao
tiếp, những người giao tiếp có thể phối hợp vai một cách linh hoạt speaker listener; addressor - addressee; sender - receiver. Trong trường hợp giao tiếp
là cặp đôi thì sự kết hợp vai là addressor - listener; speaker - addressee. Người
nói và người nghe là những người nắm được các quy tắc giao tiếp, cụ thể là các
quy tắc về mặt phát ngôn và nhận ngôn.
Trong hoạt động giao tiếp, nhân vật giao tiếp bị ràng buộc và tác động
qua lại lẫn nhau về tất cả các mặt nhưng chủ yếu là mặt ngôn ngữ. Bằng ngôn
ngữ các nhân vật giao tiếp làm thay đổi tư tưởng, nhận thức, tình cảm, thái độ
của nhau. Thông qua giao tiếp, khoảng cách giữa các nhân vật tham gia giao
tiếp sẽ được rút ngắn lại và tạo ra mối quan hệ hòa hợp.
3/ Mục đích (E): Là chỉ kết quả đạt được theo sự mong đợi định sẵn của
hoạt động giao tiếp và mục đích cá nhân của người tham dự. Nó xuất phát từ
hai phương diện: kết quả (gồm kết quả có thể dự đoán và kết quả không thể dự
đoán) và đích (đích nói chung và đích cá nhân). Mục đích giao tiếp là đích mà
các nhân vật giao tiếp hướng tới trong một cuộc giao tiếp. Giao tiếp hướng tới
nhiều đích khác nhau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN


không phải lúc nào cũng bao gồm cả tám nhân tố kể trên. Cho nên, điều quan
trọng là cần nhận ra được đâu là yếu tố chính, đâu là yếu tố phụ cũng như mối
quan hệ chi phối giữa chúng. Có như vậy, chúng ta mới có thể điều khiển và
kiểm soát những hoạt động giao tiếp theo đúng hướng và mục đích đề ra.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
17
http://www.lrc-tnu.edu.vn/


1.2.2.2. Quan hệ giao tiếp
Để có thể giao tiếp được với nhau, giữa những người tham gia giao tiếp
phải có mối quan hệ qua lại nhất định. Đó chính là quan hệ giao tiếp. Quan hệ
giao tiếp được xây dựng trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ xă hội chung và
trên cơ sở cấu trúc của xã hội đó.
Với tư cách là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội, là một thực thể đa
chức năng, mỗi người luôn đóng rất nhiều vai từ gia đình đến xã hội. Như tác giả
Nguyễn Văn Khang [29, tr. 357] đã dẫn, “một người đàn ông khi ở trong gia
đình anh ta là cha trong quan hệ với con, là con trong quan hệ với cha, là chồng
trong quan hệ với vợ, là anh trong quan hệ với em,...; ở ngoài xã hội anh ta có
thể là thủ trưởng đối với nhân viên cấp dưới, là nhân viên trong quan hệ với thủ
trưởng, là thầy giáo trong quan hệ với học sinh... Tất cả những mối quan hệ đan
xen ấy làm thành một mạng quan hệ xã hội với rất nhiều vai khác nhau”.
Bất kỳ sự nói năng nào thì người nói cũng phải lựa chọn như nói gì?
nói như thế nàỏ sử dụng loại câu gì? từ ngữ, âm thanh như thế nào... Vì thế,
muốn đạt được đích giao tiếp người nói phải xác định được mối quan hệ của
mình với các thành viên tham gia giao tiếp, để từ đó có cách lựa chọn ngôn
ngữ, phong cách phù hợp. Mỗi người khi tham gia giao tiếp, dù có rất nhiều
mối quan hệ, nhưng qui về hai loại chính là: quan hệ quyền lực (power) và
quan hệ thân hữu (solidarity).
Quan hệ quyền lực là là quan hệ: trên - dưới, sang - hèn, tôn - khinh...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status