VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN ĐÔN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐIỆN TÍN HÀNG HẢI
TIẾNG ANH TRONG NGÀNH HÀNG HẢI
VIỆT NAM
Chuyên ngành
: Ngôn ngữ học
Mã số
: 62.22.02.40
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI- 2016
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội,
Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Phạm Đăng Bình
2. PGS.TS Mai Xuân Huy
Phản biện 1: GS.TS Đinh Văn Đức
Phản biện 2: GS.TS Bùi Minh Toán
Phản biện 3: GS.TS Nguyễn Văn Hiệp
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện hàn lâm
nghệ hàng hải số 5 tháng 3 năm 2006. Trang 116.
6. Phạm Văn Đôn (2008), “Phương pháp dịch thuật các nhà chuyên môn hàng
hải thường dùng”, Tạp chí Khoa học- Công nghệ hàng hải số 13 tháng
4/2008,trang 89.
7. Phạm Văn Đôn (2014), “Điện tín hàng hải- Một hình thức liên lạc đặc biệt
trên biển”. Tạp chí Ngôn ngữ, số11 năm 2014 trang 62-72.
8. Phạm Văn Đôn (2015), “Đặc điểm cấu trúc văn bản điện tín hàng hải”, Tạp
chí Ngôn ngữ số 6 năm 2015, trang 68-80.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vận tải biển là ngành kinh tế dịch vụ thương mại quan trọng đối với nhiều
quốc gia. Tàu biển được coi là tài sản quốc gia trên biển. Một khi có tổn thất xảy
ra thì thiệt hại về con người trên tàu, giá trị con tàu và số hàng đang chở là không
thể tính được. Thông tin liên lạc trên biển đóng vai trò quan trọng đảm bảo chuyến
đi biển an toàn. Trong nhiều phương pháp thông tin, điện tín hàng hải (ĐTHH)
đóng vai trò quan trọng và là phương tiện duy nhất khi tàu xa bờ.
Năm 1973,Tổ chức hàng hải thế giới (IMO) đã chọn tiếng Anh làm ngôn
ngữ giao dịch trong ngành. Khó khăn phát sinh là trình độ tiếng Anh của thủy thủ
không đều, dễ gây hiểu nhầm dẫn đến tai nạn. Để khắc phục khó khăn này,Tổ
chức hàng hải thế giới phát hành cuốn cẩm nang có tiêu đề “Từ vựng hàng hải
tiêu chuẩn IMO” và yêu cầu thủy thủ phải sử dụng các câu đúng theo các tình
huống quy định trong cuốn cẩm nang này. ĐTHH là văn bản viết bằng tiếng Anh
và còn trống các quy định soạn điện. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi nhận thấy
cần thiết phải nghiên cứu điện tín hàng hải để tìm ra đặc điểm ngôn ngữ được sử
dụng trong nó, làm nền tảng biên soạn cuốn cẩm nang soạn và đọc điện tín hàng
hải sau khi luận án này được bảo vệ đồng thời điện tín hàng hải là một loại hình
văn bản rút gọn đặc trưng, việc nghiên cứu nó là cần thiết để đóng góp làm sáng tỏ
- Đóng góp vào kết quả nghiên cứu đã có về văn bản rút ngắn bằng việc
trình bày một văn bản dị biệt về ngắn gọn
- Bổ sung vào kết quả nghiên cứu thư tín thương mại đã có về cấu trúc
thành phần, các yếu tố lịch sự, rào đón,v.v…
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Về lí thuyết: Luận án đóng góp minh chứng cho lý luận văn bản rút gọn.
Về thực tiễn: Kết quả của luận là cơ sở để biên soạn tài liệu hướng dẫn
biên soạn điện tín. Ngoài ra, luận án còn là cơ sở tốt cho các nghiên cứu sau này
về lĩnh vực thư tín nói chung và ĐTHH nói riêng.
7. Cơ cấu của luận án
Luận án bao gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu ngôn ngữ điện tín hàng hải
Chương 2: Cơ sở lý luận của luận án
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ điện tín hàng hải ở cách nhìn vĩ mô
Chương 4: Đặc điểm ngôn ngữ điện tín hàng hải ở cách nhìn vi mô
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ ĐIỆN TÍN
1.1.Tình hình nghiên cứu thư tín thương mại
Ở ngoài nước đã có nhiều nghiên cứu về thư tín thương mại và tập trung
vào các nguyên tắc lịch sự dương tính, tránh phân biệt về giới tính, hành vi trực
ngôn, bước thoại trong thư bán hàng, thư xin việc,v.v…
Ở trong nước có một số công trình nghiên cứu thư tín thương mại. Các
nghiên cứu này tập trung so sánh đối chiếu đặc điểm ngữ vực, chỉ dấu lịch sự và
một số vấn đề khác liên quan đến việc các nền văn hóa khác nhau đã ảnh hưởng
như thế nào đến việc soạn thảo thư tín thương mại và chuyển dịch chúng.
1.2. Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ điện tín hàng hải.
Cho đến nay, chúng tôi chỉ tìm thấy một số ít tài liệu tiếng Anh hàng hải
2.1.2. Phân tích diễn ngôn
Sự ra đời của phân tích diễn ngôn là một tất yếu khách quan khi mà việc nghiên
cứu cấu trúc câu đã đạt tới mức hoàn chỉnh và trở nên chật hẹp trong cách nhìn như là
đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học. Thực tế đòi hỏi phải có đối tượng nghiên cứu
ở phạm vi lớn hơn câu và những yếu tố bên trong và ngoài văn bản (diễn ngôn).
2.2. Đường hướng phân tích diễn ngôn
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hòa đã tổng hợp 9 đường hướng phân tích diễn
ngôn khác nhau. Mỗi đường hướng phân tích có điểm mạnh - yếu khác nhau.
Chúng tôi lựa chọn đường hướng phân tích biến đổi ngôn ngữ và phương pháp
phân tích diễn ngôn tổng hợp để triển khai đề tài này.
2.3. Đường hướng phân tích diễn ngôn để triển khai đề tài
2.3.1. Đường hướng biến đổi ngôn ngữ
Đường hướng này phân tích ngữ vực. Ngữ vực cái có thể xác định chủ yếu
qua các khác biệt về ngữ pháp và từ vựng. Đường hướng này phân tích hai cơ sở
5
gây ra sự biến đổi, đó là người sử dụng và cách sử dụng ngôn ngữ. Biến thể là
người sử dụng thể hiện qua phương tiện âm thanh. Biến thể cách sử dụng thể hiện
qua những phân biệt về hình thức ngôn ngữ, tức từ vựng và ngữ pháp. Điện tín là
văn bản viết nên không có yếu tố âm thanh. Như vậy, theo đường hướng này,
chúng tôi tập trung phân tích từ vựng và ngữ pháp của văn bản ĐTHH.
2.3.2. Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp
Phân tích diễn ngôn tổng hợp nghiên cứu mạch lạc với tư cách là cái tích hợp
của nhiều biến như tính tổ chức, liên kết và tính quan yếu. Phương pháp phân tích này
dung hòa cả hệ chức năng luận với hệ cấu trúc luận. Ở Việt Nam, Nguyễn Hòa đề
xuất phương pháp này và minh họa bằng việc phân tích diễn ngôn một thể loại tin từ
các góc độ rất rõ ràng là: (i) Cấu trúc như sự hiện thực hóa mạch lạc (ii) Mạch lạc của
diễn ngôn (iii) Ngữ vực, bao gồm các đặc điểm từ vựng và ngữ pháp điển hình.
2.4. Yếu tố đặc trưng chung của văn bản
thể nào đó là yếu tố mà các nhà nghiên cứu dựa vào để xác định thể loại của diễn
ngôn đó. Hay nói cách khác, mục tiêu giao tiếp quy định thể loại diễn ngôn mà
cộng đồng giao tiếp đó chấp nhận.
2.5.3. Cộng đồng diễn ngôn
Cộng đồng diễn ngôn là một cộng đồng được hình thành do có chung mục
đích giao tiếp. Mục đích này liên kết thể loại với cộng đồng diễn ngôn. Mục đích
giao tiếp của một thể loại được chấp nhận bởi các thành viên cộng đồng đó và tạo
nên tính hợp lý của thể loại, tính hợp lý này giúp hình thành cấu trúc sơ đồ của
diễn ngôn và ảnh hưởng tới sự lựa chọn nội dung và thể loại.
2.5.4. Mục đích giao tiếp
Định nghĩa về mục đích giao tiếp của Martin và Swales là cơ sở cho chúng
tôi dựa vào để phân tích mục đích giao tiếp của thể loại diễn ngôn đề tài đang theo
đuổi. Cả hai tác giả đều cho rằng mục đích giao tiếp rất quan trọng cho việc xếp
loại cho một diễn ngôn cụ thể.
2.5.5. Ngữ cảnh giao tiếp
Đỗ Hữu Châu cho rằng các nhân tố giao tiếp chi phối diễn ngôn về hình
thức cũng như nội dung. Ngữ cảnh, theo tác giả, là một trong ba nhân tố giao tiếp
7
có ảnh hưởng nhiều tới đặc điểm diễn ngôn. Ngữ cảnh là yếu tố có mặt trong một
cuộc giao tiếp nhưng lại ở ngoài diễn ngôn. Ngữ cảnh bao gồm nhân vật giao tiếp
và hiện thực ngoài diễn ngôn. Nhân vật giao tiếp là người tham gia giao tiếp bằng
ngôn ngữ, tạo ra diễn ngôn. Giữa những người tham gia giao tiếp có quan hệ phân
vai và quan hệ liên cá nhân với nhau. Trong một giao tiếp cụ thể, nhân vật phát ra
diễn ngôn tức là vai nói hoặc viết và nhân vật tiếp nhận diễn ngôn sẽ là vai nghe
hay đọc. Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội,
trình độ, thái độ giữa các nhân vật giao tiếp với nhau. Quan hệ liên cá nhân còn
được xét theo trục quyền uy và trục thân cận. Hiện thực ngoài diễn ngôn là tất cả
mọi yếu tố không được nhắc đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp, không
3.1.3. Thể loại văn bản điện tín hàng hải
Theo Thông tư số 01/2010/TT-BNV, thư công là thư được dùng trong các
cơ quan tổ chức. Thư từ là thư được dùng để giao dịch giữa các tổ chức kinh tế và
doanh nghiệp. Điểm khác biệt giữa thư công và thư từ nói chung là dựa vào đối
tượng là cơ quan tổ chức hay các doanh nghiệp. Thư công ra quyết định vè quản
lý hành chính trong khi đó thư từ chỉ dùng để trao đổi thông tin. Thư từ được phân
loại theo hình thức chuyển giao. Thư từ được chuyển phát bằng thiết bị điện tử
được gọi là thư điện tín và gọi tắt là điện tín.
Thuật ngữ “thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các hoạt động
dịch vụ liên quan đến hàng hóa. Vận tải đường biển là một loại dịch vụ hàng hóa
mang tính thương mại. ĐT dùng để trao đổi thông tin liên quan đến lĩnh vực
thương mại nên điện tín hàng hải (ĐTHH) là thư tín thương mại
3.1.4. Định nghĩa điện tín hàng hải
Dựa vào lập luận trên và định nghĩa điện tín trong Từ điển bách khoa thư,
chúng tôi hiểu về ĐTHH như sau: ĐTHH là thông điệp chính thống dưới dạng
9
văn bản viết, được truyền phát bằng thiết bị vô tuyến giữa tàu thủy với tàu thủy và
giữa tàu thủy với đài vô tuyến ven biển và ngược lại.
3.1.5. Phân loại điện tín hàng hải
Dựa vào nội dung truyền tải, chúng tôi phân loại ĐTHH thành 3 loại chính
như sau: (i) Điện tín dịch vụ thông tin hàng hải (ĐTDVTTHH) (ii) Điện tín dịch vụ
an toàn hàng hải (ĐTDVAT)(iii) Điện tín dịch vụ thời tiết(ĐTDVTT).
3.1.6. Điện tín hàng hải âm và dương
Theo quy trình, người soạn điện phải soạn văn bản điện tín đầy đủ rồi
dùng các thủ pháp lược cắt bớt cấu trúc văn bản, từ ngữ và kí tự sao cho có số kí
tự và dấu cách ít nhất có thể được. Văn bản siêu rút ngắn này được gửi đi và
người nhận điện đọc hiểu nhanh rồi lập toàn và lưu giữ lại để bảo vệ mình nếu
sau này có sự cố về kiện tụng hay tranh cãi trách nhiệm. Thực tế, quy trình này
gian cụ thể như khi ra vào cảng, v.v…
Đặc trưng văn bản điện tín hàng hải có những điểm quan trọng sau đây:
Về mục đích sử dụng:
ĐTHH có mục đích là để liên lạc giữa tàu thủy với tàu thủy và giữa tàu thủy
với đất liền. Mục đích là để trao đổi thông tin hàng hải, thông tin thời tiết và yêu
cầu cứu nạn trong các trường hợp khẩn cấp. Chính mục đích này đã chi phối nhiều
tới hình thức văn bản điện tín.
Về yếu tố nội dung:
ĐTHH chứa đựng nội dung nhất định theo từng loại. Điểm đặc biệt của bản
điện là mỗi bản điện chỉ truyền tải một nội dung duy nhất toàn văn bản.
Về yếu tố chỉ lượng:
ĐTHH bị khống chế về mặt định lượng. Có nghĩa là bản điện không được
phép ở dạng đầy đủ câu chữ mà phải ngắn gọn nhất có thể được. Thuyền trưởng bị
áp lực phải soạn một văn bản đủ nội dung nhưng phải có số ký tự và dấu cách ít
nhất. Theo công ty VISHIPE, một bản điện ngắn nhất không dưới 7 blocks tính
cước, tương đương 224 ký tự và dấu cách. Do quy định về chỉ tố số lượng này,
ĐTHH có đặc trưng là siêu ngắn gọn tới đơn vị ký tự và dấu cách. Về định lượng,
ĐTHH bị khống chế tối thiểu là 224 ký tự và dấu cách.
Về yếu tố cấu trúc:
ĐTHH là văn bản có cấu trúc riêng biệt. Mọi lời chào xã giao thường thấy
tại phần mở đầu của các văn bản thư tín đều bị loại bỏ để trình bày thẳng ngay vào
vấn đề cần thông báo. Các câu bắt đầu cũng cực kì ngắn gọn, từ ngữ được giản
lược, cắt ngắn, ngầm hiểu và sửa chỉnh sao cho ngắn nhất có thể được. Chỉ những
11
từ mang ý nghĩa chính trong việc truyền tải thông tin mới được dùng ở dạng đầy
đủ. Chúng tôi không thấy các yếu tố biểu cảm trong các văn bản ĐTHH. Đặc điểm
khác nữa là ĐTHH sử dụng chữ in hoa (block letters).
Về yếu tố định biên:
3.2.2. Đặc điểm liên kết trong văn bản điện tín hàng hải
- Về đặc điểm liên kết ngữ pháp
Đặc điểm liên kết ngữ pháp trong điện tín hàng hải được tóm lược như sau.
Kết quả khảo sát cho thấy điện tín hàng hải chỉ áp dụng phép tỉnh lược không dựa
vào ngôn cảnh để liên kết văn bản, các phép liên kết ngữ pháp khác như phép thế,
phép nối, phép quy chiếu không xuất hiện trong điện tín hàng hải. hay nói cách
khác là 100% câu hay cú trong điện tín hàng hải là câu tỉnh lược không dựa vào
ngôn cảnh. Các phương tiện của phép thế và phép nối hay quy chiếu là đối tượng
lược trong văn bản điện tín hàng hải
- Về đặc điểm liên kết từ vựng:
Khảo sát cho thấy, điện tín hàng hải không sử dụng phép lặp, việc nhắc lại
từ là các đơn vị chỉ khối lượng,v.v… chỉ xuất hiện lần đầu, lần xuất hiện lần sau bị
lược khỏi văn bản điện tín . Việc lặp lại ngữ pháp xuất hiện chủ yếu kiểu câu phức
tạo thành bởi liên từ AND (và) và được lược trong văn bản điện tín. Ngoài ra
chúng tôi cũng phát hiện ra cấu trúc SVC được lặp lại ở dạng đảo ngữ CVS và
lược thành phần V. Cấu trúc there + to be+ noun+ adverb of place cũng thường
xuất hiện ở tiểu loại điện tín hàng hóa nhưng không đặc trưng. Các phép khác như
lặp ngữ âm hay phối hợp từ không xuất hiện trong điện tín hàng hải.
3.2.3. Đặc điểm mạch lạc trong văn bản điện tín hàng hải
Mạch lạc là yếu tố quan trọng giúp người nhận điện đọc hiểu một thể loại
văn bản biến dạng đến méo mó do bị rút gọn cơ học. Qua khảo sát, chúng tôi nhận
thấy tính mạch lạc trong điện tín hàng hải chủ yếu biểu hiện qua tính thống nhất
về nội dung đề tài. Mỗi văn bản điện tín chỉ truyền tải 1 nội dung duy nhất. Mạch
lạc trong điện tín còn biểu hiện thông qua từ khóa. Chỉ thực từ mang nội dung
quan trọng được giữ lại và hư từ hay từ có nội dung không quan trọng bị lược ra
khỏi văn bản điện. Việc lược bỏ quá mức này làm trơ lại các từ cốt tử mà thiếu nó
không nội dung nào được loan tải. Mạch lạc trong điện tín còn biểu hiện qua tính
lô- gích của trình tự thông tin. Dựa vào kinh nghiệm, người soạn điện và người
nhận điện luôn ngầm hiểu trình tự của mỗi loại điện tín nên họ phục hồi ngay
được phần đã lược bỏ và hiểu ngay được vấn đề thông báo.
từ hay cụm từ gắn liền với khái niệm nên mỗi thuật ngữ chỉ có một nghĩa. Do tính
an toàn được đặt trên hết nên ĐTHH có lớp từ vựng được xây dựng trên nguyên
tắc lựa chọn từ ngữ đơn giản, dễ hiểu, tránh hiểu nhầm. Hàng hải là lĩnh vực mang
tính toàn cầu nên ĐTHH mang tính quốc tế, được sử dụng bởi cộng đồng giao tiếp
14
hàng hải. Từ ngữ sử dụng trong ĐTHH thuộc lớp từ vựng thuật ngữ khoa học
thương mại hàng hải.
3.5. Tiểu kết
ĐTHH thuộc thể loại văn bản viết, kiểu thư tín thương mại dùng để giao
dịch giữa các doanh nghiệp vận tải và phục vụ ngành vận tải biển được cộng đồng
giao tiếp điện tín hàng hải chấp nhận sử dụng để giao dịch thương mại.
ĐTHH là một văn bản siêu ngắn gọn ở cả vĩ mô và vi mô. Cấu trúc văn bản
được rút ngắn từ 6 phần xuống còn 2 hoặc 1 phần. Phần nội dung được rút gọn chỉ
còn một đoạn văn mở và 100% câu văn là câu đã lược bỏ nhiều thành phần nòng
cốt, chỉ giữ lại 1 hay 2 thành phần quan trọng mang nội dung chính của câu. Xét
về thành phần cấu trúc, câu văn trở thành méo mó biến dạng.
Mạch lạc trong ĐTHH chủ yếu thể hiện bằng tính thống nhất về đề tài- chủ
đề; lô gích trình tự chi tiết nội dung và thông qua từ khóa.
ĐTHH sử dụng phép tỉnh lược trong số các phép liên kết. Điều đặc biệt là
100% câu văn là câu tỉnh lược thuộc loại không dựa vào ngôn cảnh. Các phép liên
kết khác không phát hiện trong ĐTHH.
Từ vựng trong ĐTHH thuộc lớp thuật ngữ khoa học thương mại hàng hải
Phong cách ngôn ngữ ĐTHH thuộc phong cách tài liệu chính thống (the
style of official documents)
15
CHƯƠNG 4
trong cụm từ (acronyms) (vd IMO viết tắt của International Maritime
Oganization),từ lược bớt các chữ cái trong tành phần cấu tạo (abbreviation) (vd
cfm viết tắt của confirmation) và từ được rút ngắn bằng việc cắt bớt âm tiết cuối
(clipping) ( vd long viết tắt của longitude). Chúng tôi không phát hiện trường hợp
nào là từ cắt ghép hai từ tự do (vd breakfast and lunch thành brunch) (blends) hay
trường hợp dùng dấu phẩy để ghép từ ( contraction) (vd is not thành isn’t)
4.2. Đặc điểm cú pháp
4.2.1. Đặc điểm phân loại câu theo cấu trúc
Theo khảo sát của chúng tôi, câu ghép có tỉ lệ xuất hiện cao hơn nhiều so với
câu đơn. Trong các câu phức , liên tố AND xuất hiện 2324 lần trong 1530 văn bản
ĐTHH âm. Việc người soạn điện dùng liên tố AND với số lần lớn như vậy trong
ĐTHH âm là có lý do áp lực phải rút ngắn văn bản. Theo quy định, trong văn bản điện
tín không được dùng dấu ngắt câu. Trong trường hợp phải dùng thì phải chuyển sang
các kí hiệu bằng từ (ví dụ: dấu chấm (.) phải dùng từ STOP). Điều này sẽ làm tăng số
ký tự và dấu cách, do đó số ký tự tính tiền sẽ tăng lên. Người soạn điện cố ý kết nối
hai câu bằng liên từ AND để tránh dùng dấu chấm câu trong văn bản điện dương
nhằm giảm tiền cước. Do sử dụng liên từ AND để kết nối phục vụ mục đích vừa nêu,
người soạn điện tạo ra những kiểu câu phức gồm nhiều loại câu khác nhau trong thành
phần.
Bảng 4.13. Loại câu trong điện tín hàng hải theo quan điểm của Quirk
Loại câu
Câu đơn
Câu phức
Tổng
ĐTDVTTHH
316
1075
1391
đều là cú biến vị (finite clauses). Theo Quirk, câu đơn là câu bao gồm 1 cú. Như
vậy để thuận tiện cho việc phân tích cấu trúc cú và câu đơn, chúng tôi dùng thuật
ngữ cú chung cho câu đơn và cú trong ĐTHH. Kết hợp tổng số câu đơn và cú,
chung tôi thu được 5661 cú trong 1530 ĐTHH.
Bảng 4.14. Loại cú trong điện tín hàng hải theo quan điểm của Quirk
Số lượng
Tần suất
Ghi chú
4998
0,96
Biến vị
202
0,03
Không biến vị
0
0,000
Khuyết động
0
0,000
Tổng cú
5200
Kết quả khảo sát cú phụ thuộc cho thấy ĐTHH không xuất hiện cú khuyết
động và cú không biến vị. Cú độc lập có tần suất cao nhất. Đây là điều dễ hiểu vì
NSD lạm dụng dùng liên từ “and” để tránh tăng ký tự.
Loại cú
Cú độc lập
Cú phụ thuộc
4.2.3. Đặc điểm kiểu cú thể hiện trong điện tín hàng hải
a. Đặc điểm kiểu cú S+V trong điện tín hàng hải
Nó được rút gọn còn hai thành phần là V+Od.
SVOiOd thể hiện trong điện tín hàng hải là: V+ Od
g. Đặc điểm cấu trúc S+V+O+C trong điện tín hàng hải
Thống kê cho thấy, trong số 5661 cú trong 1530 bản ĐTHH các loại, chúng
tôi không phát hiện cú có cấu trúc SVOC.
h. Đặc điểm cấu trúc S+V+O+A trong điện tín hàng hải
Khảo sát 1530 ĐTHH, điều đặc biệt là cú có cấu trúc SVOA chỉ xuất hiện
trong ĐTAT nhưng tần suất không cao.
SVOA thể hiện trong điện tín hàng hải là: O +A
4.2.4. Đặc điểm dạng câu trong điện tín hàng hải
Qua khảo sát, 100 % các cú có động từ ở dạng bị động đều được rút gọn trợ
động từ to be/to get và chỉ giữ lại thành phần là phân từ quá khứ.
4.3. Đặc điểm cấu trúc đoạn văn trong điện tín hàng hải
4.3.1. Cấu trúc cú đặc trưng trong tiểu loại điện tín hàng hải
ĐTHH được phân loại thành 3 loại chính và được phân loại nhỏ hơn thành
các tiểu loại. Dưới đây, chúng tôi tổng hợp các kết quả của các thống kê trong các
19
phần trước làm cơ sở tìm ra khuôn cấu trúc các tiểu loại ĐTHH. Kết quả khảo sát
cho thấy, ĐTHH tiểu loại hàng hóa và tiểu loại cung ứng hàng hóa chỉ dùng cú
SVA và SVOO trong khi đó ĐTHH tiểu loại dịch vụ chỉ dùng duy nhất cú SVOO.
ĐTHH an toàn tiểu loại cảnh báo chướng ngại vật từ tàu hay từ đất liền chỉ dùng
cú có cấu trúc SV, SVC, SVO, SVOO và SVOA. ĐTHH tiểu loại báo nạn chỉ sử
dụng cú có cấu trúc SV, SVO, SVOO. ĐTDVTTHH chỉ sử dụng cú có cấu trúc
SV, SVC, SVOO. Tiểu loại dự báo thời tiết chỉ dùng duy nhất cú có cấu trúc SVC.
Xét về tần suất xuất hiện của các kiểu cú trong ĐTHH, chúng tôi thu được
kết quả khảo sát là: Trong tổng số 5661 cú trong 1530 văn bản ĐTHH, cú có cấu
trúc SVOO (0,33) và SVA(0,32) có tần suất cao nhất trong ĐTHH. Cú có cấu trúc
SVO có tần suất xuất hiện (0, 13) xếp thứ 3 trong 7 kiểu cú. Các cú có cấu trúc
Bảng 4.27. Khuôn điện tín hàng hải tiểu loại cung ứng hàng hóa
M/S
SHIPNAME
ETA
TIME
PLS
SUPPLY
CARGO CFM
Bảng 4.28. Khuôn điện tín hàng hải yêu cầu dịch vụ
M/S
shipname
ARRIVING
Time
PLS
Verb
CFM
OBJECT
PSN
Bảng 4.33. Khuôn điện tín hàng hải yêu cầu trợ giúp y tế
M/S
SHIPNAME
ETA
TIME
OCCURANCE
PLS
RQT
Bảng 4.34. Khuôn điện tín hàng hải yêu cầu cứu hộ
M/S
SHIPNAME
OCCURANCE
PSN
PLS
1. ĐTHH là thể loại văn bản viết, ở dạng thư tín thương mại bằng tiếng Anh,
kiểu kinh tế (types), được sử dụng để trao đổi thông tin giữa tàu biển với tàu biển,
giữa tàu biển với doanh nghiệp dịch vụ vận tải trên đất liền và ngược lại, được
cộng đồng giao tiếp hàng hải chấp nhận trong giao dịch và có ngữ cảnh là tàu
đang hành trình trên biển và được phát đi bằng thiết bị điện tử.
2. Bị chi phối bởi các yếu tố ngoài ngôn ngữ như tiền cước, thời gian đọc
điện, ĐTHH được rút ngắn tối đa cả ở cấp vĩ mô và vi mô. Từ văn bản có cấu trúc
gồm 6 phần bị lược gọn xuống còn 1 hay 2 phần tùy theo từng tiểu loại. Nội dung
chỉ bao gồm duy nhất một đoạn văn và thuộc loại đoạn văn mở. Các yếu tố rào
đón, vòng vo hay lịch sự bị lược trong văn bản ĐTHH.
Kết quả khảo sát cho thấy ĐTHH chỉ sử dụng phương tiện liên kết là phép
tỉnh lược và 100% câu văn là câu tỉnh lược không phụ thuộc vào ngôn cảnh.
Nghĩa là các yếu tố tỉnh lược được phục hồi do khả năng suy luận và kinh nghiệm
trong công việc chứ không phải đã xuất hiện trước đó. Các phương tiện liên kết
khác như phép thế, phép quy chiếu và các phương tiện liên kết trong phép liên kết
từ vựng cũng không xuất hiện trong ĐTHH .
Mạch lạc trong ĐTHH được biểu hiện chủ yếu vào tính thống nhất của nội dung
đề tài, từ khóa và trình tự chi tiết của nội dung thông báo. Đặc trưng cơ bản của văn bản
ĐTHH là ngắn gọn. Người soạn điện đã cắt bỏ một cách cơ học các từ không mang nội
dung thông báo để giữ lại các từ cốt tử, theo cái nghĩa nếu thiếu những từ này sẽ không
có nội dung nào được truyền tải. Chính sự ngắn gọn chỉ còn những từ quan trọng này là
một biểu hiện quan trọng của mạch lạc trong ĐTHH.
ĐTHH được sử dụng để giao dịch chính thức giữa các doanh nghiệp vận tải
và đồng thời là tài liệu các bên dựa vào để giải quyết mọi vấn đề về trách nhiệm
liên quan đến hàng hóa nếu có tranh chấp hay khiếu nại phát sinh. Là một loại thư
tín thương mại, ngôn ngữ sử dụng trong ĐTHH thuộc phong cách tài liệu chính
thống (the style of official documents). Điều này đã được tác giả I.R. Galperin
khẳng định khi luận bàn về phong cách ngôn ngữ thư tín thương mại.
Các phép ghép từ loại khác như động từ,tính từ,v.v… không có trong ĐTHH.