BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THÁI
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án
chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thái
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
MỤC LỤC CÁC BẢNG BIỂU THỐNG KÊ ................................................ v
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 10
4. Đối tượng, phạm vi và nguồn tư liệu của luận án ................................... 11
2.2.1. Từ xưng hô là đại từ ..................................................................... 48
2.2.2. Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc và các danh từ khác .... 57
2.3. Từ xưng hô và các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai ................ 75
2.3.1. Mối quan hệ giữa xưng hô và kiểu nhân vật................................ 75
2.3.2. Từ xưng hô của một số kiểu nhân vật trong tác phẩm của
Chu Lai......................................................................................... 77
2.4. Vai trò của từ xưng hô trong việc hình thành đặc trưng ngôn ngữ
nhân vật của tiểu thuyết Chu Lai ................................................................. 88
2.4.1. Từ xưng hô góp phần bộc lộ đặc điểm, tính cách, hoàn cảnh...
của nhân vật trong tác phẩm ....................................................... 88
2.4.2. Vai trò của từ xưng hô trong việc khắc họa đặc điểm
ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai ............................. 91
2.5. Tiểu kết ................................................................................................. 95
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
CHU LAI QUA TỪ THÔNG TỤC, QUÁN NGỮ VÀ THÀNH NGỮ ............. 97
3.1. Từ thông tục .......................................................................................... 97
3.1.1. Khái niệm ..................................................................................... 97
3.1.2. Từ thông tục trong lời thoại nhân vật .......................................... 98
3.1.3. Vai trò của từ thông tục trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu
thuyết Chu Lai............................................................................ 125
3.1.4. Một vài so sánh bước đầu từ thông tục trong ngôn ngữ nhân
vật của tiểu thuyết Chu Lai với từ thông tục trong ngôn ngữ
nhân vật của một số nhà văn khác... ......................................... 128
3.2. Hệ thống quán ngữ trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Chu Lai .. 131
3.2.1. Vài nét về quán ngữ ................................................................... 131
3.2.2. Vai trò của quán ngữ qua các lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết
của Chu Lai ................................................................................ 131
Tác phẩm văn học là sản phẩm giao tiếp thuộc phong cách viết nhưng có tính
tích hợp cả hai phong cách (nói và viết) thành một dạng giao tiếp đặc thù:
giao tiếp nghệ thuật.
Văn học là tấm gương phản ánh đời sống xã hội. Ngôn ngữ trong tác
phẩm văn học, do vậy, thể hiện một cách sinh động hoạt động giao tiếp của con
người trong xã hội thông qua sự sáng tạo của nhà văn. Ở góc độ nghiên cứu,
ngôn ngữ học hiện đại đang chuyển sang một hướng tiếp cận mới là tìm hiểu sự
hành chức của ngôn ngữ trong cuộc sống và cuộc sống trong ngôn ngữ. Vì vậy,
việc khảo sát tìm hiểu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là một cách tiếp cận
phù hợp với xu hướng nghiên cứu mới cả về phương diện lí luận chung (đặc
điểm, vai trò, cơ chế hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp nói chung, giao
tiếp nghệ thuật nói riêng) và phương diện cụ thể (đặc điểm, vai trò, các quy
tắc hoạt động của ngôn ngữ trong tác phẩm văn học).
1.2. Các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 đến nay, trong đó có thể
loại tiểu thuyết, đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên bản sắc, diện mạo
riêng cho thời kỳ văn học sau chiến tranh. Sự đổi mới về đề tài, cách miêu tả
hiện thực, quan niệm nghệ thuật về con người, đặc biệt là phong cách ngôn từ
thể hiện rất rõ trong các tác phẩm văn học thời kì này. Trong số các nhà văn có
nhiều tác phẩm thành công, tạo ra phong cách, giọng điệu riêng, người đầu tiên
và tiêu biểu nhất phải kể đến là nhà văn Chu Lai. Các tác phẩm của nhà văn đã
phản ánh được nhiều vấn đề nóng bỏng hiện nay về hiện thực xã hội; các nhân
vật trong tác phẩm của Chu Lai được mô tả là người lính vừa mang cốt cách
2
anh hùng trận mạc (thời chiến) vừa mang đặc điểm của con người sống trong
nhiều áp lực, thử thách của quãng đời phía sau chiến trận (thời bình). Ngôn ngữ
trong tiểu thuyết Chu Lai, đặc biệt là ngôn ngữ nhân vật, có nhiều đặc thù đáng
được quan tâm “có những trang hấp dẫn, ngƣời đọc đã cầm đến sách là phải
theo đuổi câu chuyện đến cùng...” [34, tr.9]. “Dấu vết thời đại đã ảnh hƣởng và
hiện đại. Những kết quả nghiên cứu ở lĩnh vực này thể hiện rõ trong các công
trình của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, bắt đầu từ luận điểm quan trọng
bậc nhất của F.de Saussure trong cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cƣơng
(1916) và sau đó được các nhà ngôn ngữ học khai thác theo những hướng
khác nhau. Có thể kể đến những hướng nghiên cứu chính, như: nghiên cứu về
dụng học - Pragmatics (J.L. Austin, 1965; Ch.W. Morris, 1966; J.R. Searle,
1969); hướng nghiên cứu về Ngôn ngữ học xã hội - Socio- Linguistics
(Nikolski, 1920; E.d Sapir, O.Jesperson, 1922...); hướng nghiên cứu về Ngôn
ngữ học văn bản - Text Linguistics (L.Bloomfield (1926), E.Benveniste
(1960), A.Reformatxky (1967), v.v…
Ở hướng nghiên cứu dụng học, các nhà ngôn ngữ học xác định có 4 vấn
đề: sự chiếu vật và chỉ xuất, nghĩa tường minh và hàm ẩn, các hành động ngôn
ngữ và lý thuyết hội thoại. Trong các vấn đề đó, lí thuyết hội thoại (bàn về lĩnh
vực giao tiếp đối thoại) được xem là vấn đề trọng tâm. Theo M. Bakhtin,
“Ngôn ngữ chỉ sống trong sự giao tiếp đối thoại giữa những ngƣời sử dụng
ngôn ngữ. Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của cuộc sống của
ngôn ngữ. Toàn bộ cuộc sống của ngôn ngữ, trong bất kì lĩnh vực nào sử dụng
nó (sinh hoạt, sự vụ, khoa học, nghệ thuật v.v...) đều thấm nhuần những quan
hệ đối thoại...” [2, tr.172). Nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại nói chung, ngôn ngữ
nhân vật nói riêng “không thể tách nó ra khỏi lĩnh vực lời nói, tức khỏi ngôn
ngữ với tƣ cách là một hiện tƣợng toàn vẹn cụ thể” [2, tr.172].
Tiếp thu và phát triển quan điểm và kết quả của ngôn ngữ học thế giới,
các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh
vực ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học văn bản đề cập đến sự
4
hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp [thể hiện trong các tài liệu: 6, 20, 23,
47, 54, 70, 93, 105]. Riêng về vấn đề ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ nhân vật,
các hành động ngôn ngữ, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các quy mô
những công trình bàn về ngôn ngữ và ngôn ngữ trong giao tiếp nghệ thuật
nói chung, trong tác phẩm văn học nói riêng. Để xác định ngôn ngữ trong tác
phẩm văn học, người ta làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ phong cách viết
và phong cách nói: “...Ngay trong phong cách nói cũng có sự phân biệt giữa
lời nói đƣợc chọn lọc, trau giồi (ví dụ nhƣ lời diễn giảng, thuyết trình, lời
phát biểu chính thức có chuẩn bị sẵn...) với lời nói chƣa đƣợc chọn lọc kĩ và
trau giồi cẩn thận (ví dụ nhƣ trong nói năng thân mật thông thƣờng hàng
ngày, thậm chí có thể chấp nhận cả tính chất thông tục trong đó). Loại thứ
nhất ở đây nhích gần về phía ngôn ngữ thuộc phong cách viết hơn, còn loại
thứ hai, từ bản chất của nó, đƣợc gọi đích danh là khẩu ngữ - một tên gọi
mà tuy không nói ra một cách hiển minh, nhƣng ít nhiều bên trong, ngƣời ta
có ý phân biệt nó với ngôn ngữ nói, nói chung. Nhƣ thế, có thể nhận ra
trong từ vựng ba lớp từ mang đặc điểm của ba phong cách: lớp từ khẩu ngữ,
lớp từ ngữ thuộc phong cách viết, và cuối cùng là lớp từ ngữ trung tính
(hoặc còn gọi: trung hoà về phong cách) có thể dùng trong mọi phong cách
khác nhau” [29, tr.23]. Bàn về phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn
học, các tác giả cho rằng ngôn ngữ trong tác phẩm văn học cũng có những
yếu tố mang phong cách khẩu ngữ theo lối “mô phỏng ngôn ngữ tự nhiên”.
Điều đó được thể hiện trong lời thoại nhân vật: “Lời đối thoại giữa các nhân
vật là một thành phần chủ yếu trong kết cấu lời nói của tác phẩm tự sự.
Chức năng chủ yếu của đối thoại không chỉ mang tính chất miêu tả hay
chuyển dẫn, trình bày sự kiện mà còn là bộc lộ tính cách, tâm lí của nhân
vật và quan điểm tƣ tƣởng” [68, tr.194].
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến và liên tục của
cuộc sống hàng ngày. Gần đây, dựa vào lí thuyết hội thoại mà nhiều tác giả đề
6
cập đến nghệ thuật giao tiếp, như: Giao tiếp bất kì ai của Jo Condrill - Bennie
Bough (2001), Ngữ cảnh và giao tiếp, Phân tích hội thoại của Nguyễn Thiện
trong sáng tác của Chu Lai được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Bùi Việt
Thắng viết: “Nhân vật Chu Lai đƣợc thể hiện nhƣ những con ngƣời tâm linh.
Họ sống bởi những ám ảnh của ảo giác, hối thúc bởi sự sám hối, luôn tìm
kiếm sự giải thoát. Đó là những con ngƣời trở về sau chiến tranh bị mất
thăng bằng, khó tìm đƣợc sự yên ổn trong tâm hồn. Họ sống trong cảm giác
không bình yên... Chu Lai làm ngƣời đọc bất ngờ vì những khám phá nghệ
thuật của mình: Nhân vật Chu Lai thƣờng tự soi tỏ mình, khám phá mình,
khám phá một bản ngã hay là một con ngƣời trong con ngƣời” [124, tr.104].
Hồng Diệu nhận xét: “Chu Lai là nhà văn thuỷ chung với đề tài chiến tranh,
anh có nhiều tác phẩm viết về đề tài ngƣời lính trên cả ba mặt trận: Văn học Sân khấu - Điện ảnh” [34, tr.6]. Trần Quốc Huấn trong Ngƣời chiến sĩ viết
văn hôm nay - đội ngũ kế tục những nhà văn chiến sĩ, khẳng định phẩm chất
của người lính trong chiến tranh: “Trong truyện Chu Lai, cái vốn tri thức văn
hóa, trí tuệ sáng suốt của ngƣời lính trẻ đã thấm nhuyễn một cách tự nhiên
vào từng chi tiết nhỏ của truyện, trong từng phán đoán nhạy bén, quả quyết,
để dẫn tới chiến thắng cuối cùng ở nhân vật” [65, tr.33]. Viết về người lính
sau hoà bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kỳ đổi mới, Nguyễn Hương
Giang cho rằng: “Sự thật về chiến tranh hôm nay đƣợc nhìn lại là một sự thật
đã trải qua những năm tháng day dứt, trăn trở trong tâm hồn nhà văn Chu
Lai, hơn thế, nó thực sự là những nếm trải của ngƣời “chịu trận”, “ngƣời
trong cuộc” [45, tr.20]. Lý Hoài Thu cũng khẳng định: “Dù trực tiếp viết về dĩ
vãng mịt mù bom đạn hay chuyển dịch sang tiếp cận những “kênh” thông tin
mới xô bồ của thời hiện tại, bao giờ Chu Lai cũng nghiền ngẫm suy tƣ về hiện
thực với sự nhiệt tâm và lòng trung thực của ngƣời lính... Nếu nhƣ trƣớc kia,
các nhân vật của anh đƣợc mô tả chủ yếu ở cốt cách anh hùng trận mạc thì
hiện nay (...) Chu Lai tập trung khai thác quãng đời thứ hai: quãng đời phía
sau chiến trận của ngƣời lính” [125, tr.63].
8
2.3.2. Nghiên cứu tác phẩm của nhà văn Chu Lai từ góc độ thi pháp
Nam từ sau đổi mới đề cập đến một khía cạnh của thi pháp và ngôn ngữ trong
tiểu thuyết sau 1975 và trong tiểu thuyết Chu Lai: “Nhiều tiểu thuyết sau những
năm đổi mới đến nay đã sử dụng mô típ giấc mơ, giấc mơ chiêm bao nhƣ một
ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải mã thế giới vô thức của con ngƣời. Thủ
pháp này thể hiện rõ trong các tiểu thuyết Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh),
Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai)” [tr.590]. Tác giả đã lưu ý đến một đặc điểm của
ngôn ngữ tiểu thuyết sau năm 1975: “Dấu vết thời đại đã ảnh hƣởng và quy
định cách nói năng, đối đáp, nhiều lớp từ mới đƣợc hình thành, quan niệm về
lời nói cũng đƣợc bổ sung những sắc thái biểu cảm mới. Ngôn ngữ tiểu thuyết
gần với ngôn ngữ đời thƣờng, giàu khẩu ngữ (...). Ngôn ngữ trong các tiểu
thuyết biểu hiện sự cá tính hoá mạnh mẽ, tính cách nào, lời lẽ ấy. Cách nói
trần trụi dân dã của ngƣời lính (Ăn mày dĩ vãng), cách nói thẳng thắn bạo dạn
của cánh nhà báo (Dấn thân, Một ngày và một đời)” [tr. 588, 589].
Nhiều ý kiến đi sâu vào phân tích riêng từng tác phẩm. Ở Cuộc trao
đổi về tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng in trên báo Văn nghệ số 39/1992 xuất
hiện những luồng ý kiến khác nhau, song chủ yếu vẫn là khen ngợi, đó là:
“Chu Lai đã “nhử” đƣợc ngƣời đọc bởi một cốt truyện li kì” (Cao Tiến Lê),
“Trên từng trang viết lộ rõ tâm huyết của tác giả tuy có khi tƣ tƣởng mới
chỉ dừng lại ở những câu triết lý” (Thiếu Mai). Trong bài viết Cuộc tìm tòi
về tiểu thuyết, tác giả Đỗ Văn Khang đã đề cập đến nghệ thuật xây dựng
nhân vật: “Lối chạm khắc nhân vật trong Ăn mày dĩ vãng cũng có nhiều
đóng góp mới. Ngày trƣớc nhân vật thƣờng mang một ý nghĩa phổ quát,
tức là có cái gì đó chung cho cả lớp ngƣời..., còn Hai Hùng của Chu Lai có
số phận đƣợc miêu tả nhƣ một yếu tố cá biệt độc nhất nhƣng vẫn mang tính
điển hình. Nhân vật Hai Hùng của Chu Lai tàn tạ về thân xác, nhƣng vạm
vỡ về tâm hồn. Hai Hùng có bộ khung “xuống cấp” vì thƣơng tật, vì sự hủy
10
hoại của mọi thứ vớ vẩn thời hậu chiến, nhƣng vẫn nhất quán một bản lĩnh,
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được
xác định là:
- Tổng hợp những vấn đề lý luận chung liên quan đến đề tài, như: lý
thuyết hội thoại, nhân vật và ngôn ngữ nhân vật, vai trò của từ ngữ trong tác
phẩm, tác giả và tác phẩm và các vấn đề liên quan khác.
- Khảo sát, thống kê nguồn ngữ liệu liên quan đến ngôn ngữ hội thoại,
các lời thoại trong tiểu thuyết của Chu Lai.
- Miêu tả, phân tích, nêu vai trò của các lớp từ ngữ tiêu biểu trong việc
thể hiện đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai.
- Tổng hợp, rút ra những đặc điểm nổi trội về sự hành chức của các
lớp từ ngữ trong các lời thoại nhân vật và đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong
các tác phẩm khảo sát, từ đó góp phần làm rõ phong cách ngôn ngữ của nhà
văn Chu Lai.
4. Đối tượng, phạm vi và nguồn tư liệu của luận án
4.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là khảo sát, làm rõ đặc điểm ngôn
ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai, nhưng ngôn ngữ nhân vật – xét từ
quan điểm tiếp cận của ngôn ngữ học - là một phạm trù rộng, có nhiều
phương diện (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, văn bản) và được xem xét từ nhiều
góc độ (cấu trúc, ngữ nghĩa, phong cách, ngữ dụng). Trong khuôn khổ của
luận án, chúng tôi giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ở việc
tìm hiểu hệ thống từ ngữ thể hiện qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết của
nhà văn Chu Lai từ góc độ ngữ dụng.
4.2. Nguồn tư liệu khảo sát của luận án
Luận án khảo sát từ ngữ qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết của
Chu Lai, gồm các tác phẩm:
12
trong lời thoại nhân vật, hệ thống từ xưng hô, từ thông tục, v.v...). Các kết quả
của phương pháp miêu tả trong luận án là cơ sở để phân tích, tổng hợp, đưa ra
các kết luận về đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai.
6. Đóng góp mới của luận án
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ nhân vật
trong tiểu thuyết Chu Lai ở bình diện từ ngữ từ góc độ ngữ dụng. Công trình
đã vận dụng những kiến thức cơ bản của ngữ dụng học để khảo sát, phân tích
về ngôn ngữ hội thoại, qua đó nhằm làm rõ sự hành chức của ngôn ngữ trong
giao tiếp xã hội nói chung, giao tiếp nghệ thuật nói riêng; đồng thời góp phần
làm rõ đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
trong tiểu thuyết của Chu Lai.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận án
được trình bày trong ba chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chƣơng 2: Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai qua
từ ngữ xưng hô
Chƣơng 3: Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai qua
từ thông tục, quán ngữ, thành ngữ.
14
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Lí thuyết về hội thoại
1.1.1. Khái niệm hội thoại
Theo quan điểm chung của các nhà nghiên cứu [thể hiện trong các tài
liệu:11, 15, 17, 20], thành tựu nổi bật nhất của ngôn ngữ học hiện đại là đã
dành sự quan tâm đặc biệt đến ngôn ngữ trong giao tiếp, sự hành chức của
ngôn ngữ trong thực tiễn. Dụng học (Pragmatics) ra đời theo hướng đó và phát
- Dám!
- Đồng chí y tá! - Hùng cũng sắt mặt - Đây là lệnh, đồng chí không
đƣợc can thiệp vào. Anh em đâu? Thằng Khiển, thằng Vƣợng đâu? Cả thằng
Tuấn khốn nạn kia nữa, mày ngồi chết giẫm ở đó à? Mang nó ra hố pháo
chôn ngay!
- Không! Sƣơng thét - Không đƣợc chôn sống ngƣời ta nhƣ thế!
- Lôi con ngƣời lắm điều này đi! - Hùng chỉ tay ra cửa rừng.
Chát!... Cả khuôn mặt râu ria của Hùng hơi bật ngửa ra sau trƣớc một
cái tát quá bất ngờ” [XIII, tr.79].
Hội thoại hầu như có mặt trong các sáng tác (văn bản văn học) nhưng
chúng ta thấy rằng trong văn bản văn học (truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch...),
hội thoại không xuất hiện độc lập mà nó luôn gắn liền với ngôn ngữ tác giả,
làm thành chỉnh thể văn bản – chỉnh thể tác phẩm văn học.
1.1.2. Vận động hội thoại
Thông thường, cấu trúc của một cuộc thoại gồm: sự trao lời, sự trao
đáp và sự tƣơng tác.
1.1.2.1. Sự trao lời
“Trao lời là vận động của ngƣời nói A nói ra và hƣớng lời nói của
mình về phía ngƣời nhận B”. Khi trao lời “có những vận động cơ thể (cử chỉ,
16
điệu bộ, nét mặt) hƣớng tới ngƣời nhận hoặc tự hƣớng về mình (gãi đầu, gãi
tai, đấm ngực...) bổ sung cho lời ngƣời nói”.
Tình thế trao lời ngầm ẩn rằng, người B tất yếu phải có mặt đi vào
trong lời của A. Vì thế “ngay trƣớc khi B đáp lời thì B đã đƣợc đi vào trong
lời trao của A và thƣờng xuyên kiểm tra, điều hành lời nói của A”. Cũng
chính vì thế, ở phía người nói - người trao lời nói có nghĩa là “lấn trƣớc vào
ngƣời nghe B, phải dự kiến trƣớc phản ứng của ngƣời nghe” để lựa chọn lời
thích hợp, làm sao có thể “áp đặt” điều mình muốn nói vào B” [24, tr.41].
của hội thoại diễn ra theo nhịp điệu của nội dung hội thoại. Có lúc, sự vận
động đó lắng lại theo tiếng ngập ngừng trong tâm trạng của nhân vật, có lúc
lại diễn biến nhanh, dồn dập. Sự thay đổi trong cặp vai người nói - người
nghe cũng biến đổi theo. Đây cũng là yếu tố cho sự phát triển hội thoại đạt
đến đích mong muốn. Trong ví dụ trên, nhân vật Hùng lúc sắp vai người nói
dưới hình thức câu hỏi “Ngƣời ta sẽ nghĩ gì?”, lúc lại chuyển thành người
nhận lời và có sự đáp lời: “Sƣơng...”.
1.1.2.3. Sự tƣơng tác
Trong cuộc thoại, các nhân vật giao tiếp, ảnh hưởng lẫn nhau, tác động
qua lại với nhau làm biến đổi lẫn nhau. Trước cuộc thoại, nhân vật có sự khác
biệt, đối lập về tính cách, tâm lý, hiểu biết tình cảm, v.v.. Trong quá trình
tham gia vào hội thoại, nhân vật sẽ tự điều phối những khác biệt này để cùng
cộng tác đi đến thoả hiệp hoặc có thể phát triển cao hơn, mở rộng những khác
biệt này làm cho cuộc thoại đi đến xung đột. Đây chính là sự tương tác trong
hội thoại. Theo Đỗ Hữu Châu, sự tương tác được hiểu là: “Các nhân vật giao
tiếp ảnh hƣởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau đến cách ứng xử của từng ngƣời
trong quá trình hội thoại” [24, tr.42].
Với văn bản tác phẩm văn học, sự tương tác hội thoại có thể phát triển
theo những chiều hướng khác nhau.
- Tạo điều kiện cho tâm lý nhân vật phát triển, đưa cuộc thoại đạt đến đích:
18
Có tiếng nổ nhỏ trong đầu, tôi đứng dậy:
- Bữa nay mình là chủ xị phải không?
- Còn bàn cãi gì nữa - Ba Thành nói.
- Vậy dẹp đi! Và bây giờ lên xe trở về nhà thằng Tuấn. Sẽ nhậu tại đó.
- Còn chuyến tàu? - Tuấn hỏi.
- Cũng dẹp luôn! Tao sẽ ở lại với chúng mày để tìm bằng đƣợc tên giết
ngƣời đó [XIII, tr.339].
nói rằng, ở đây không có ai tên Sƣơng hết [XIII, tr.25].
1.1.3. Các dạng thức hội thoại
Qua khảo sát và thống kê tiểu thuyết Chu Lai, chúng tôi nhận thấy,
ngôn ngữ của tác giả sử dụng nhiều dạng thức hội thoại như đơn thoại, song
thoại, tam thoại, đa thoại, trong đó, song thoại xuất hiện và chiếm tỉ lệ nhiều
nhất. Cụ thể, các dạng hội thoại được thể hiện:
1.1.3.1. Đơn thoại
Là lời thoại của một nhân vật phát ra hướng đến người nghe nhưng
không có lời đáp trực tiếp. Việc tiếp nhận nội dung lời thoại được phản hồi
bằng hành động thể hiện hay cử chỉ không được tác giả mô tả thành lời.
Dạng đơn thoại biểu hiện rõ nhất ở kiểu lời trần thuật của nhân vật, có
nghĩa là, lời nói của nhân vật có xen kẽ một yếu tố kể của mình, của người.
Thấp thỏm chƣa thật tin vào cái nhận xét còn mang màu sắc võ đoán
ấy, tôi hạ nòng bắn thẳng một loạt đạn ria:
- Bà không phải là một cái gì hết. Đúng thế. Bởi vì bà chính là Ba
Sƣơng. Y tá Ba Sƣơng! Xã đội trƣởng Ba Sƣơng của ba xã vùng hạ lƣu sông
Sài Gòn cách đây hai mƣơi năm.
Lạnh lẽo, tôi bồi tiếp một loạt nữa:
- Bà có muốn nhận bà là Ba Sƣơng hay không. Tuỳ! Đó là quyền của
bà. Nhƣng tôi, tôi lại cần phải biết tại sao... [XIII, tr.234].