Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp mua bán trên mạng Facebook ở lứa tuổi học đường - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

QUYỀN THỊ MINH HIỂN

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN
TRÊN MẠNG FACEBOOK
Ở LỨA TUỔI HỌC ĐƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học

TS. KHUÂT THỊ LAN

HÀ NỘI - 2017

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn nhiệt tình và chu đáo của TS. Khuất Thị Lan – giảng viên tổ Ngôn
ngữ, cùng sự ủng hộ, góp ý của toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ văn –
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Tác giả khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm
ơn trân trọng tới các thầy cô, đặc biệt là TS. Khuất Thị Lan, người đã giúp tôi
hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 04 năm 2017

1.1.2. Các nhân tố của giao tiếp từ góc nhìn ngữ dụng học ............................ 10
1.1.2.1. Ngữ cảnh ............................................................................................ 10
1.1.2.2. Ngôn ngữ ............................................................................................ 15
1.1.2.3. Diễn ngôn ........................................................................................... 16
1.2. Giao tiếp mua bán ở lứa tuổi học đường trên mạng facebook ................. 16
1.2.1. Khái niệm giao tiếp mua bán ................................................................ 17
1.2.2. Giao tiếp mua bán ở lứa tuổi học đường trên mạng Facebook ............. 18
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI THIỆU, MỜI CHÀO, QUẢNG
CÁO TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN TRÊN MẠNG FACEBOOK Ở LỨA
TUỔI HỌC ĐƯỜNG ...................................................................................... 21
2.1. Khảo sát giao tiếp mua bán trên mạng Facebook ở lứa tuổi học đường..24
2.1.1. Kết quả khảo sát………………………………………………………24
2.1.2. Nhận xét kết quả khảo sát……………………………………………..25
2.2. Đặc điểm ngôn ngữ giới thiệu và các biểu thức sử dụng ......................... 23
2.3. Đặc điểm ngôn ngữ mời chào và các biểu thức sử dụng ......................... 26


2.4. Đặc điểm ngôn ngữ quảng cáo và các biểu thức sử dụng ........................ 27
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ XƯNG HÔ TRONG GIAO TIẾP
MUA BÁN TRÊN MẠNG FACEBOOK Ở LỨA TUỔI HỌC ĐƯỜNG ..... 31
3.1. Xưng hô trong giao tiếp của người Việt .................................................. 31
3.1.1. Các kiểu xưng hô của người Việt.......................................................... 31
3.1.2. Xưng hô và các quan hệ được biểu hiện ……………………………..35
3.2. Kết quả khảo sát……………………………………………………….. 36
3.3. Đặc điểm xưng hô trong giao tiếp mua bán trên mạng Facebook ở lứa
tuổi học đường ………………………………………………………………40
3.3.1. Quan niệm của người Việt về xưng hô trong giao tiếp mua bán …… 40
3.3.2.

Kết

mua bán để tiếp cận và tiêu thụ sản phẩm.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Mua bán xuất hiện trên thế giới từ rất lâu nhưng người ta không xác định
được thời điểm chính xác mà khi xã hội có sự phân chia giai cấp và có của cải
dư thừa, con người muốn trao đổi, mua bán để có được cái mình cần. Từ đó,
mua bán ngày càng phát triển mạnh mẽ và trở thành nhu cầu thiết yếu không
thể thiếu của con người. Hơn thế nữa, con người đã tận dụng cơ hội này để
nâng cao chất lượng cuộc sống và coi đó là một nghề nghiệp giúp con người
kiếm tiền dưới các hình thức và phương tiện mua bán khác nhau.
Quảng cáo là một phương tiện quan trọng trong mua bán. Khi mua bán
xuất hiện thì quảng cáo cũng xuất hiện sau đó với mục đích phục vụ cho quá

1


trình mua bán của con người. Đầu thập kỉ 90 của thế kỉ trước, Việt Nam bắt
đầu công cuộc đổi mới vì thế mà mua bán ngày càng tăng cao, kéo theo đó
quảng cáo cũng xuất hiện nhiều để đẩy nhanh quá trình sản phẩm đến tay
người tiêu dùng.
Đặc biệt, ngày 4 tháng 2 năm 2004, mạng Facebook ra đời được thành
lập bởi Mark Zuckerberg, đến năm 2009 mạng Facebook trở nên phổ biến ở
Việt Nam. Nó đã trở thành một trong những phương tiện dùng để trao đổi,
mua bán của con người trong nhiều năm trở lại đây, lợi ích của mua bán trên
mạng Facebook ngày càng tăng cao, ở bất cứ đâu con người chỉ cần một cái
click chuột là có thể có những thứ mình cần thông qua mạng Facebook. Mua
bán trên mạng Facebook hay còn gọi là mua bán online nó đã tạo nên cơn sốt
mua bán qua mạng trong nhiều năm qua.
Ở Việt Nam, mua bán trên mạng Facebook xuất hiện muộn và gần đây
mới thực sự phát triển nên nghiên cứu về ngôn ngữ trên mạng xã hội chưa
nhiều, nhất là ngôn ngữ mua bán trên mạng Facebook. Các công trình nghiên

3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chủ yếu khảo sát đặc điểm ngôn ngữ mua bán trên trang
mạng Facebook ở lứa tuổi học đường các trang, các nhóm bán hàng, các shop
online được tạo trên mạng Facebook của lứa tuổi học đường.
Đề tài dựa trên 26 các trang, nhóm, shop mua bán được tạo lập trên
mạng Facebook ở lứa tuổi học đường.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Mục đích nghiên cứu
Thấy được đặc điểm sử dụng ngôn ngữ mua bán trên mạng xã hội ngày
nay, đặc biệt là trên mạng Facebook của lứa tuổi học đường, đồng thời có cái
nhìn toàn diện hơn về cách sử dụng từ ngữ trong mua bán của con người, để
từ đó có cảm nhận và đánh giá đúng thực trạng về việc sử dụng ngôn ngữ mua
bán trong thời kì hội nhập như hiện nay.

3


Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích bổ sung vào kết quả nghiên cứu về
ngôn ngữ mua bán trên mạng xã hội của các tác giả đi trước với những vấn đề
còn bỏ ngỏ hoặc chưa được nghiên cứu kĩ, để thấy được sự phong phú cũng
như vai trò của loại hình giao tiếp trong hoạt động mua bán trên mạng
Facebook.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đặt ra, khóa luận cần thực hiên một số nhiệm vụ
chủ yếu sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận về mua bán trên mạng xã hội Facebook và các
phương tiện có liên quan đến mua bán trên mạng Facebook.
- Khảo sát và phân loại ngôn ngữ mua bán trên mạng Facebook. Miêu
tả, đánh giá đặc điểm ngôn ngữ mua bán trên mạng Facebook.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7. BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN
Khóa luận này của chúng tôi gồm ba phần:
- Phần mở đầu.
- Phần nội dung:
+ Chương 1: Cơ sở lí luận.
+ Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ giới thiệu, mời chào, quảng cáo trong
giao tiếp mua bán trên mạng Facebook ở lứa tuổi học đường.
+ Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ xưng hô trong giao tiếp mua bán trên
mạng Facebook ở lứa tuổi học đường.
- Phần kết luận.

5


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Một số vấn đề chung về giao tiếp
1.1.1. Khái niệm về giao tiếp
Giao tiếp có vai trò quan trọng trong cuộc sống, nhờ giao tiếp mà con
người trở nên gần gũi, thấu hiểu nhau hơn. Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữa
người với người trong xã hội nó diễn ra sự trao đổi thông tin, sự trao đổi nhận
thức, tư tưởng, tình cảm và sự bày tỏ mối quan hệ, sự ứng xử, thái độ giữa
người với người và với những vấn đề giao tiếp.
Nhìn từ góc độ ngữ dụng học, tác giả Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa về
giao tiếp như sau: “Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin (bao gồm cả tri
thức, tình cảm, thái độ, ước muốn, hoạt động…) giữa ít nhất hai chủ thể giao
tiếp (kể cả trường hợp một người giao tiếp với chính mình) diễn ra trong một
ngữ cảnh và tình huống nhất định bằng hệ thống tín hiệu nhất định”. Trong
giao tiếp lời nói và hành động là các yếu tố quan trọng.
Lời nói không chỉ bao gồm sản phẩm của sự nói năng (văn bản) mà còn

Với việc bổ sung thêm ba nhân tố “ngữ cảnh, tiếp xúc, mã”,
R.Jakobson đã thể hiện bước tiến trong quan điểm về giao tiếp so với mô hình
giao tiếp của Aristotle. Song nhìn chung, đây vẫn là mô hình giao tiếp sơ giản,
mang tính một chiều, chưa thấy được sự tác động qua lại của các nhân tố giao
tiếp mặc dù có chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến giao tiếp, đặc biệt là
nhân tố ngữ cảnh. [1; 10].
Lược đồ giao tiếp của J.Lyons: Nếu như mô hình giao tiếp gắn với quá
trình tạo lập văn bản cuae R.Jakobson chú ý đến thông điệp với chắc năng thi
học, thì J.Lyons lại đưa ra một mô hình giao tiếp gắn với sự truyền tin như sau

7


Tín hiệu truyền

X

VẬT TRUYỀN

Tín hiệu nhận

KÊNH

VẬT NHẬN

Y

TIẾNG ỒN
Lược đồ giao tiếp của J.Lyons (dẫn theo Đỗ Hữu Châu)
Trong lược đồ này, X là nguồn phát tin và Y là nguồn nhận tin. Thông

giải

thông điệp



hoá

thông điệp
Tiếng ồn

Tiếng ồn

Mô hình tác động qua lại về giao tiếp [3; 44].
Trong mô hình trên, nguồn mã hóa thông điệp được gửi tới người nhận thông
qua nhiều kênh giác quan. Người nhận có vai trò tiếp nhận và giải mã thông
điệp (như trong giao tiếp tuyến tính) nhưng sau đó lại phải mã hóa phản hồi
và gửi phản hồi này tới nguồn. Tiếp đó, nguồn giải mã thông điệp, phản hồi
theo căn cứ theo thông điệp gốc đã được gửi và phản hồi đã nhận được mã
hóa một thông điệp mới thích ứng với phản hồi nhận được. Vậy là quá trình
giao tiếp trở thành hai chiều (giao tiếp thích ứng).
Từ mô hình giao tiếp trên, hàng loạt định nghĩa về giao tiếp đã được
đưa ra. A.Leongciev khái quát: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình
có mục đích và động cơ đảm bảo tương tác giữa người này với người khác
trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan
hệ tâm lí và sử dụng phương tiện đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ”. Parghin
lại đưa ra định nghĩa như sau: “Giao tiếp là một quá trình quan hệ, tác động
giữa các cá thể, là quá trình thông tin giữa con người với con người, là quá
trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi cảm xúc lẫn nhau”
[3; 12].

diễn ngôn, tức nghe (đọc), kí hiệu bằng Sp2 (speaker 2). Trong cuộc giao tiếp
nói, mặt đối mặt, hai vai nói, nghe thường luân chuyển, Sp1 sau khi nói xong

10


chuyển thành vai nghe Sp2 và ngược lại. Sự thực thì vai nói, nghe không hề
đơn giản. Giả định có một người nói tên Hiền nói với một người tên Hoa một
diễn ngôn như sau:
Hiền (Sp1):
Hoa nói với cái Hà thầy giáo bảo nó nộp bài kiểm tra ngay.
Diễn ngôn này có quan hệ với bốn người: Hiền, Hoa, Hà và thầy giáo.
Trong những người đó, Hiền là người nói trực tiếp, Hoa là người nghe trực
tiếp nhưng người nói thực sự là thầy giáo và người tiếp nhận thực sự là Hà.
Trong trường hợp này lời Hà nộp bài kiểm tra ngay không phải do Hiền tạo ra
và Hoa cũng không phải là người chịu trách nhiệm thực hiện nó. Hoa chỉ có
trách nhiệm nói lại với Hà nội dung đó mà thôi. Ta nói, trong trường hợp này,
thầy giáo là chủ ngôn (hay là nguồn phát), Hà là đích ngôn (hay nguồn nhận)
còn Hiền chỉ là thuyết ngôn và Hoa chỉ là tiếp ngôn. Trong một cuộc giao tiếp
bằng lời trừ thuyết ngôn, các vai tiếp trên có thể có hoặc vắng mặt và tiếp
ngôn hoặc đích ngôn (nói chung là người nhận) có thể ở tình trạng chủ động
(có thể đáp lời ngay lời của người nói) mà cũng có thể bị động (chỉ tiếp nhận,
không phản hồi tại chỗ).
Về quan hệ liên cá nhân: Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các
nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp. Quan hệ liên cá
nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa
các nhân vật giao tiếp với nhau.
Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp có thể xét theo hai
trục, trục tung là trục vị thế xã hội còn gọi là trục quyền uy (power), trục
hoành là trục của quan hệ khoảng cách (distance), còn là trục thân cận

diễn ngôn phải được nhân vật giao tiếp ý thức. Khi đã trở thành những hiểu
biết của những người giao tiếp (và của những người sử dụng ngôn ngữ) thì
hiện thực ngoài diễn ngôn hợp thành tiền giả định bách khoa hay tiền giả định
giao tiếp của diễn ngôn.

12


Một cuộc giao tiếp chỉ đạt hiệu quả khi các nhân vật giao tiếp có một
lượng tiền giả định bách khoa chung nào đấy mặc dù về chất lượng và số
lượng tuyệt đối thì hiểu biết về hiện thực ngoài diễn ngôn của các nhân vật
giao tiếp (và của những người sử dụng cùng một ngôn ngữ) không đồng nhất.
Về mặt thông tin mà nói, giao tiếp là nhằm biến đổi tiền giả định bách
khoa (quan yếu và không quan yếu) của từng người. Theo diễn biến của cuộc
giao tiếp, người này cung cấp cho người kia những lượng tin mới, điều chỉnh
lượng tin cũ, làm tăng dần tiền giả định bách khoa chung so với lúc khởi đầu
cuộc giao tiếp.
Nhân tố hiện thực ngoài diễn ngôn gồm 4 bộ phận:
Hiện thực – đề tài của diễn ngôn, thế giới khả hữu và hệ quy chiếu: Khi
giao tiếp các nhân vật giao tiếp dùng diễn ngôn của mình để “nói” về một cái
gì đó. Cái được nói tới là hiện thực – đề tài của diễn ngôn. Thuộc hiện thực –
đề tài diễn ngôn trước hết là những cái tồn tại, diễn biến trong hiện thực ngoài
ngôn ngữ và ngoài diễn ngôn. Hiện thực – đề tài của diễn ngôn còn là bản
thân ngôn ngữ. Đề tài diễn ngôn là một mảng trong hiện thực ngoài diễn ngôn
được các nhân vật giao tiếp (người nói, người nghe: Sp1, Sp2) thỏa thuận lấy
làm đối tượng để trao đổi trong cuộc giao tiếp đó.
Hoàn cảnh giao tiếp: Loại trừ thế giới khả hữu – hệ quy chiếu, loại trừ
hiện thực – đề tài, tất cả những cái còn lại trong hiện thực ngoài ngôn ngữ làm
nên hoàn cảnh giao tiếp rộng của cuộc giao tiếp, của diễn ngôn. Hoàn cảnh
giao tiếp rộng bao gồm những hiểu biết về thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí, xã

Các biến thể của ngôn ngữ: biến thể chuẩn mực hóa, biến thể phương
ngữ địa lí và phương ngữ xã hội, ngữ vực và phong cách chức năng. Khác với
tất cả hệ thống tín hiệu giao tiếp thông thường khác mà tính đồng nhất (có
nghĩa là không có các biến thể) là chủ đạo, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu chỉ
tồn tại và hành chức trong những biến thể nhất định. Ngôn ngữ chuẩn mực
(tiếng Việt chuẩn mực) là một biến thể của những biến thể đó. Ngôn ngữ
chuẩn mực bao gồm những đơn vị từ vựng, kể cả các ngữ cố định, các kết cấu
cú pháp, các cách phát âm được toàn thể một cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận,
cho là đúng. Phương ngữ địa lí bao gồm cách phát âm, các đơn vị từ vựng và
một số những kết cấu cú pháp được sử dụng ở những địa phương nhất định
trong một quốc gia. Phương ngữ xã hội là những biến thể chủ yếu bao gồm
các đơn vị từ vựng và một số quán ngữ, một số kiểu kết cấu được sử dụng
trong một cộng đồng xã hội theo nghề nghiệp, theo hoạt động khoa học, nghệ
thuật, tôn giáo… thậm chí trong cộng đồng của những người sinh sống ngoài
vòng pháp luật. Ngữ vực là một biến thể của ngôn ngữ theo các hoàn cảnh xã
hội như: tư pháp, báo chí, tự nhiên…. Trong nhiều tác phẩm ngôn ngữ, hai
thuật ngữ ngữ vực và phong cách dùng đồng nghĩa với nhau.
Loại thể: Là những biến thể sử dụng của các diễn ngôn. Loại thể đã

15


khởi động tâm lí tiếp nhận và quy tắc thuyết giải diễn ngôn theo loại thể khi
gặp những diễn ngôn được viết theo một loại thể nào đó.
1.1.2.3. Diễn ngôn
Diễn ngôn bao gồm: Câu, phát ngôn và diễn ngôn.
Câu là đơn vị cú pháp quen thuộc được xem là lớn nhất của ngữ pháp
tiền dụng học. Câu có hai mặt: trừu tượng và cụ thể. Câu trừu tượng là những
mô thức kết học do các đơn vị từ vựng trừu tượng kết hợp với nhau theo
những quy tắc chủ yếu là tuyến tính. Về mặt cụ thể, các câu trừu tượng sẽ làm

Như chúng ta đã biết, giao tiếp là một quá trình hoạt động trao đổi thông
tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt được một mục đích nào đó.
Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ
giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán,
bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận hàng và quyền sở hữu
hàng hóa theo thỏa thuận [8]
Như vậy, giao tiếp mua bán là một quá trình hoạt động, là người mua
tiếp cận với sản phẩm, tìm hiểu thông tin về sản phẩm dưới sự chăm sóc, tư
vấn của người bán. Khi người mua quyết định đặt mua sản phẩm, người bán
có nhiệm vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu sản phẩm cho người mua và
nhận thanh toán, người mua thanh toán cho bên bán, nhận hàng và sử dụng
sản phẩm.
Chủ thể của hoạt động mua bán hàng hóa trong thương mại là thương
nhân hoặc thương nhân và các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa. Đối
tượng của quan hệ mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại là
hàng hóa theo quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương mại. Quá trình thực
hiện hành vi mua bán hàng hóa gắn liền với quá trình chuyển giao quyền sở
hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua.
Mua bán hàng hóa được phân chia thành hai loại sau:
Thứ nhất, mua bán hàng hóa trong nước: không có sự dịch chuyển hàng

17


hóa qua biên giới quốc gia hoặc vào khu vực hải quan riêng biệt có quy chế
riêng như khu chế xuất hoặc khu ngoại quan.
Thứ hai, mua bán hàng hóa quốc tế: mua bán hàng hóa quốc tế được
thực hiện dưới các hình thức:
- Xuất khẩu: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh
thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam

Giao tiếp mua bán của tuổi học đường cho chúng ta thấy họ đã nắm bắt
được nhu cầu, thị yếu của đại đa số học sinh, sinh viên cũng như người dân
sinh sống trên địa bàn. Một phần, bắt nguồn từ chính nhu cầu của bản thân mà
họ muốn kiếm thêm thu nhập, việc làm cho mình sau những giờ học trên
giảng đường. Sinh viên ngày nay họ năng động và sáng tạo, muốn mình trải
nghiệm cuộc sống, muốn bước vào kinh doanh, muốn tự lập nhiều hơn.
Với sự nhanh nhạy của mình, lứa tuổi này đã lựa chọn cho mình nhiều
hình thức mua bán khác nhau. Tận dụng lợi ích của mạng internet và sức
mạnh của công nghệ thông tin mà phần lớn học sinh, sinh viên lựa chọn con
đường mua bán online. Mua bán online là một hình thức mua bán hàng trực
tuyến qua mạng xã hội, đặc biệt mua bán qua mạng Facebook – một trang
mạng được sử dụng phổ biến nhất hiện nay được đông đảo sinh viên lựa chọn.
Sinh viên chỉ việc lập một trang Facebook hoặc thiết kế một trang web
(website) bán hàng, hay tham gia vào các chợ, các shop, các trang bán hàng…
Sau đó đăng sản phẩm mình kinh doanh hoặc các sản phẩm mình muốn mua
lên, sẽ có nhiều bạn tham gia các trang mạng xã hội đang có nhu cầu mua,
bán sản phẩm sẽ tìm đến bạn và mua sản phẩm dễ dàng hơn. Và có thể nói
đây là sự lựa chọn thông minh của sinh viên vì so với mở một cơ sở kinh
doanh thì mua bán hàng online có nhiều lợi thế.
Hiện nay internet đang phủ sóng khắp thế giới, thị trường kinh doanh
online nói chung và kinh doanh qua mạng Facebook ở lứa tuổi học đường nói
riêng đang phát triển rất mạnh mẽ. Và mua bán hàng qua mạng internet nói

19


chung mang lại nhiều lợi ích như:
Tiết kiệm chi phí: Bán hàng trên mạng không phải tốn nhiều chi phí để
mở của hàng, chịu thuế, tiền thuê nhân viên… Chỉ cần tạo trang web mua bán
hàng, bỏ thời gian ra viết quảng cáo, tạo nội dung hấp dẫn thu hút mọi người.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status