đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết 3.3.3.9 [Những mảnh hồn trần] của Đặng Thân - Pdf 29

bộ giáo dục và đào tạo
Trng đại học vinh
********************************
NGUYN TH HUYN TRANG
C IM NGễN NG TRONG TIU THUYT
3.3.3.9 [NHNG MNH HN TRN]
CA NG THN
chuyên ngành: ngôn ngữ học
mã số: 60.22.01.02
luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngi hng dn khoa hc:
TS. Nguyn Hoi Nguyờn
NGH AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo,
cô giáo thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, khoa Sư phạm Ngữ Văn, Trường
Đại học Vinh đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy tôi trong suốt quá trình học
tập, nghiên cứu tại trường.
Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn
Hoài Nguyên - người đã trực tiếp tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện
luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân trong gia
đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện và đóng góp nhiều ý kiến
quý báu cho tôi.
Mặc dù đã cố gắng và mong muốn thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh
nhất, song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng
như hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu
sót nhất định. Rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của quý thầy giáo,
cô giáo và các bạn để luận văn hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 9 năm 2014

2.1.2. Từ ngữ trong tiểu thuyết 35
2.2. Một số lớp từ nổi bật trong tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] 37
2.2.1. Từ khẩu ngữ 37
2.2.2. Từ láy 46
2.2.3. Từ HánViệt 55
2.2.4. Từ tiếng nước ngoài 63
2.2.5. Thành ngữ 66
2.3. Tiểu kết chương 2 68
Chương 3: CÂU VĂN VÀ HÌNH THỨC DIỄN ĐẠT TRONG TIỂU THUYẾT 3.3.3.9
[NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN] 70
3.1. Câu văn trong tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] 70
3.1.1. Các hướng nghiên cứu về câu và câu trong tiểu thuyết 70
3.1.2. Câu văn trong tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] 76
3.2. Hình thức diễn đạt trong tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] 95
3.2.1. Xen thơ, lời bài hát, tiêu đề văn bản 96
3.2.2. Trích dẫn (lời người xưa, mẩu tin nhắn, thông tin báo chí….) 104
3.3. Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
class="bi x3 y51 w3 hd"
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1. Lí do chọn đề tài
- Ngôn ngữ được xem là chìa khoá vạn năng để mở cánh cửa nội dung của
tác phẩm văn học. Đằng sau lớp vỏ ngôn từ là những giá trị nhân văn, là tinh thần
trách nhiệm của người cầm bút. Nhà văn là người tổ chức ngôn từ để xây dựng
hình tượng nghệ thuật, tạo nên chỉnh thể tác phẩm. Ngôn từ của mỗi tác phẩm
văn học, vì thế, góp phần bộc lộ cá tính sáng tạo cũng như tài năng của chính
người tạo ra nó.
- Từ sau 1975, đặc biệt những năm gần đây, văn học Việt Nam bước vào

đề tài hấp dẫn cho các khoá luận tốt nghiệp đại học, luận văn cao học, các luận án
của nghiên cứu sinh ở các trường đại học, các viện nghiên cứu.
2.2. Những nghiên cứu về tiểu thuyết hậu hiện đại ở Việt Nam và tiểu
thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân
- Hiện tại, những nhận định, đánh giá về trào lưu tiểu thuyết hậu hiện đại ở
Việt Nam đã được nêu ra trong một số bài viết như: Bàn về văn học hậu hiện đại
của Nguyễn Văn Tùng (Văn học và tuổi trẻ, 9/2013), Một cách nhìn về tiểu
thuyết hậu hiện đại ở Việt Nam của Hoàng Cẩm Giang và Lý Hoài Thu
(http//phebinhvanhoc.com), Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn hậu
hiện đại của Thái Phan Hoàng Anh (http//phongdiep.net), Về thành tựu của tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại ở phương Tây của Trần
Mạnh Tiến (http//vannghequandoi.com), v.v
- Những nghiên cứu về tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của
Đặng Thân
Trên trang Phê bình văn học (http//phebinhvanhoc.com, 11/2012) có cuộc
Trình diễn đa thoại về 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] gồm các nhà nghiên cứu
Lã Nguyên, Trần Ngọc Vương, Lê Huy Bắc, v.v. và các nhà phê bình Đỗ Minh
Tuấn, Đào Hải Phong,… với nhà văn Đặng Thân nhằm bàn luận, đánh giá những
yếu tố hậu hiện đại của tác phẩm. Các bài viết như Văn xuôi hậu hiện đại Việt
Nam: quốc tế và bản địa, cách tân và truyền thống của Lã Nguyên
(http//phebinhvanhoc.com, 12/2012), Bàn về tiểu thuyết của Đặng Thân của Đỗ
Quyên (http//nhavantphcm.com.vn, 2/2012),… đều khẳng định tiểu thuyết của
Đặng Thân có nhiều yếu tố cách tân theo xu hướng hậu hiện đại.
Sinh viên Nguyễn Thị Hà với Yếu tố hậu hiện đại trong tiểu thuyết 3.3.3.9
[những mảnh hồn trần] của Đặng Thân (khoá luận tốt nghiệp đại học, Trường
Đại học Khoa học, Đại học Huế, 2012) bước đầu đã xem xét một cách có hệ
thống về những vận động, cách tân hướng tới cái gọi là hậu hiện đại trong tiểu
thuyết của Đặng Thân.
Như vậy, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu ngôn từ trong
tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần].

mảnh hồn trần]

Chương 1
NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Ngôn ngữ tiểu thuyết
1.1.1. Thể loại tiểu thuyết
1.1.1.1. Khái quát chung về tiểu thuyết
Trong những bước ngoặt đời sống, thường thì, truyện ngắn đáp trả nhạy
bén hơn, cập thì hơn trong các thể loại văn xuôi. Nhưng tạo nên những chấn
động, những cao trào văn học thì phải là tiểu thuyết.
Lịch sử phát triển tiểu thuyết đã để lại cho nền văn học thế giới những
thành tựu rực rỡ: từ những kiệt tác tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa đến những
tác phẩm đồ sộ của tiểu thuyết hiện thực phê phán phương Tây, từ dòng chảy của
tiểu thuyết sử thi hoành tráng trong văn học Nga thế kỷ bạc đến những nguồn
mạch văn chương hiện thực huyền ảo Mỹ - Latinh, sự trỗi dậy và vượt thoát
truyền thống của những nền văn học châu Á .v.v Những mô hình ấy đã tạo dựng
nên diện mạo đặc biệt phong phú của tiểu thuyết trong suốt thời kỳ đã qua tính từ
khi hình thành thể loại.
Ở Việt Nam, tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, tuy những sáng tác văn xuôi
cổ như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ
mạn lục, Truyền kỳ tân phả thế kỷ 14-16 đã đặt những nền móng sơ khai cho tư
duy thể loại, thông qua tiến trình từ sự ghi chép các yếu tố truyền thuyết, thần
thoại, cổ tích đến giai đoạn phản ánh những chuyện đời thường. Thế kỷ 18 cho
thấy sự nở rộ thể loại tự sự với các tác phẩm như Thượng kinh ký sự (ký) của Lê
Hữu Trác, Vũ trung tùy bút (tùy bút) của Phạm Đình Hổ và đặc biệt là Hoàng Lê
nhất thống chí, tác phẩm xuất hiện với tầm vóc tiểu thuyết, là pho tiểu thuyết lịch
sử đầu tiên của Việt Nam có giá trị văn học đặc sắc, tái hiện một cách sống động
bức tranh xã hội rộng lớn thời vua Lê, chúa Trịnh thông qua kết cấu chương hồi
tương tự tiểu thuyết thời Minh - Thanh tại Trung Hoa.
Tuy nhiên, phải đến những năm 30 của thế kỷ 20, văn học Việt Nam mới

“tiểu thuyết là sự thực ở đời”; có người lại cho rằng, tiểu thuyết phải tạo ra những
điều phi thực; có văn phái lại khẳng định tiểu thuyết trước hết phải là một câu
chuyện tưởng tượng có đầu, cuối hẳn hoi; trong khi, văn phái khác lại không câu
nệ trong lề lối như thế. Với họ, tiểu thuyết cần phải linh hoạt, sống động và phức
tạp như cuộc đời.
Nhóm tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa tiểu thuyết (tiếng
Pháp: roman, tiếng Anh: novel, fiction) là “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng
phản ánh đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể
phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã
hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”
[18, 328].
Trong một cách hiểu khác, Belinski nhận định: “tiểu thuyết là sử thi của
đời tư” chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó, sự trần thuật tập
trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của
nó. Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ
thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách.
Như vậy, có thể hiểu tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông
qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những
vấn đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể
chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định. Có thể nhận diện
tiểu thuyết trên các đặc điểm: Thứ nhất, về bản chất loại hình, tiểu thuyết là
những tác phẩm được biết bằng văn xuôi và mang “tính văn xuôi” rõ nét trong cả
hình thức ngôn ngữ và nội dung biểu hiện, phản ánh một cách đầy đủ và trung
thực những trải nghiệm trong đời sống con người. Thứ hai, về phương thức tự
sự (cấp độ ngôn ngữ): cấu trúc tự sự của tiểu thuyết phải dựa trên sự hợp lý,
logic, liền mạch và hấp dẫn trong cốt truyện, kết cấu…, cụ thể hơn là giữa các
phân đoạn, các bộ phận, các tình tiết trong đó. Nhìn chung, đó là “đòi hỏi” về
một tổng thể nhất quán và hoàn thiện trên phương diện hình thức tự sự nhằm tái
hiện rõ nét nhất nội dung hiện thực của tác phẩm. Thứ ba, về hình tượng nhân vật
và không - thời gian (cấp độ hình tượng): sự tồn tại của nhân vật và tính cách

lý, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết đa thanh v.v
Tiểu thuyết có những đặc trưng thể loại tiêu biểu của nó. Là một thể
loại cao cấp nhất thuộc phương thức tự sự, tính chất văn xuôi, vì vậy, trở thành
đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của thể loại. Tính chất đó đã tạo nên trường lực
mạnh mẽ để thể loại dung chứa toàn vẹn hiện thực, đồng hóa và tái hiện chúng
trong một thể thống nhất với những sắc màu thẩm mỹ mới vượt lên trên hiện
thực, cho phép tác phẩm phơi bày đến tận cùng sự phức tạp muôn màu của hiện
thực đời sống.
Giống như các hình thái tự sự khác như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu
thuyết lấy nghệ thuật kể chuyện làm giọng điệu chính của tác phẩm. Thông
thường, ở tác phẩm xuất hiện người kể chuyện như một nhân vật trung gian có
nhiệm vụ miêu tả và kể lại đầu đuôi diễn biến của chuyện. Tuy sự tồn tại của yếu
tố này là ước lệ nghệ thuật của nhiều thể loại thuộc tự sự, nghệ thuật kể chuyện
của tiểu thuyết vẫn cho thấy sự đa dạng đặc biệt về phong cách: có thể thông qua
nhân vật trung gian, có thể là nhân vật xưng “tôi”, cũng có thể là một nhân vật
khác trong tác phẩm, từ đó xác lập cho các tác phẩm một điểm nhìn trần thuật.
Hiện nay, một trong những xu hướng tìm tòi đổi mới tiểu thuyết là việc tăng thêm
các điểm nhìn ở tác phẩm, khi vai trò của nhân vật trung gian hoặc nhân vật xưng
“tôi” được “san sẻ” cho nhiều nhân vật trong cùng một tác phẩm.
Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn và
sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực. Là một thể
loại lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn về
chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà văn
mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm của mình. Ở một phương
diện khác, tiểu thuyết là thể loại có cấu trúc linh hoạt, không chỉ cho phép mở
rộng về thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện mà còn ở khả năng dồn nhân vật
và sự kiện vào một khoảng không gian và thời gian hẹp, đi sâu khai thác cảnh
ngộ riêng và khám phá chiều sâu số phận cá nhân nhân vật.
Hư cấu nghệ thuật cũng được coi là một đặc trưng của thể loại, là một thao
tác nghệ thuật không thể thiếu trong tư duy sáng tạo của tiểu thuyết. Hư cấu cho

phân thành tiểu thuyết ái tình, tiểu thuyết võ hiệp, tiểu thuyết điều tra, tiểu thuyết
tố cáo, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết thần ma, tiểu thuyết khoa học viễn
tưởng, v.v Căn cứ vào thể văn, người ta phân tiểu thuyết thành: thể nhật kí, thể
thư tín, thể chương hồi, thể tùy bút. Còn căn cứ vào ngôn ngữ, người ta chia tiểu
thuyết thành thể bạch thoại, thể văn ngôn, thể thơ. Ngoài ra, cũng có thể phân
tiểu thuyết thành tiểu thuyết dạng truyện, tiểu thuyết tính cách, tiểu thuyết tâm lí.
Từ thời đổi mới đến nay, những nhà văn có tinh thần tìm tòi, sáng tạo cái mới, đã
tiến hành tìm tòi, thể nghiệm táo bạo trên thể loại tiểu thuyết, sáng tạo ra thể tiểu
thuyết liên hoàn, tiểu thuyết tả thực mới, tiểu thuyết bút kí mới. Tuy đây là những
loại tiểu thuyết có những ưu thế nhất định trong việc tìm tòi, thể nghiệm, nhưng
tinh thần, ý thức tìm tòi ấy cần phải được chú ý gia công nghiên cứu thêm.
Căn cứ được phần đông chấp nhận là sự dày mỏng, ngắn dài của dung
lượng tiểu thuyết, từ đó phân tiểu thuyết thành: tiểu thuyết dài (trường thiên tiểu
thuyết), tiểu thuyết vừa (trung thiên tiểu thuyết), tiểu thuyết ngắn (đoản thiên tiểu
thuyết) và tiểu thuyết cực ngắn.
Và M. Bakhtin khẳng định rằng: “Quá trình biến đổi của tiểu thuyết chưa
kết thúc. Ngày nay, nó đang bước vào một giai đoạn mới. Nét đặc thù của thời
đại là thế giới trở nên phức tạp và sâu sắc phi thường, tính đòi hỏi cao, tính tỉnh
táo và óc phê phán của con người cũng tăng trưởng phi thường. Những đặc điểm
đó sẽ ấn định cả sự phát triển của tiểu thuyết” [5, 127].
1.1.2. Đặc trưng ngôn ngữ tiểu thuyết
Gorki đã viết: “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu
của nó và - cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống - nó là chất liệu
của văn học” /Dẫn theo [27,196]/. Nhưng trong thực tiễn văn học thế giới cũng
như ở Việt Nam, có thể nhận thấy, ngôn ngữ không chỉ là chất liệu nghệ thuật mà
ngôn ngữ còn là “sự phát ngôn thể hiện nhãn quan giá trị của những nhóm xã
hội khác nhau với tư cách là những chủ thể giao tiếp thẩm mĩ” [39]. Ngôn ngữ
từng thể loại sẽ mang sắc thái khác nhau. Theo M. Bakhtin “Nghiên cứu các thể
loại khác tựa hồ nghiên cứu những từ ngữ, còn nghiên cứu tiểu thuyết giống như
nghiên cứu những sinh ngữ mà lại là sinh ngữ trẻ” [5, 92].

phổ biến, giúp con người diễn đạt suy nghĩ, tình cảm, là công cụ trực tiếp của giao
tiếp, tư duy và là chất liệu của ngôn ngữ nghệ thuật. So với ngôn ngữ phi nghệ thuật,
ngôn ngữ nghệ thuật phức tạp hơn nhiều. Ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống tín hiệu
thứ hai, được tạo thành nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất.
- Về chức năng xã hội: Nếu ngôn ngữ phi nghệ thuật đảm nhận chức năng
giao tiếp và tư duy, và những phẩm chất thẩm mỹ nếu có thì chỉ đóng vai trò phụ,
thứ yếu, thì ở ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng,
chức năng thẩm mỹ luôn đóng vai trò chính yếu; nó đẩy chức năng giao tiếp
xuống bình diện thứ hai. Mặt khác, tính hệ thống đều có ở ngôn ngữ nghệ thuật
và ngôn ngữ phi nghệ thuật, song có sự khác nhau về chất. Tính hệ thống của một
yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật được xác định bởi vị trí và vai trò của nó trong hệ
thống các hình tượng của tác phẩm và phong cách cá nhân tác giả. Còn đối với
ngôn ngữ phi nghệ thuật, tính hệ thống gắn với sự khu biệt của xã hội đối với
ngôn ngữ.
- Về bình diện nghĩa: Nếu ngôn ngữ phi nghệ thuật chỉ có một bình diện
nghĩa thì ngôn ngữ nghệ thuật có hai bình diện nghĩa, một bình diện hướng vào
hệ thống ngôn ngữ văn học với ý nghĩa của các từ, của các hình thức ngữ pháp,
và mặt khác, hướng vào hệ thống các hình tượng của tác phẩm nghệ thuật. Phạm
vi sử dụng phương tiện ngôn ngữ của ngôn ngữ tiểu thuyết - nghệ thuật rộng hơn
ngôn ngữ phi nghệ thuật. Đặc biệt, ngôn ngữ tiểu thuyết - nghệ thuật đạt đến độ
chuẩn mực do hoạt động tìm tòi, sáng tạo ngôn từ của nhà văn.
Bên cạnh đó, ngôn ngữ tiểu thuyết mang những đặc trưng của thể loại: tính
văn xuôi, tính tổng hợp và tính đa thanh. Nếu ngôn ngữ sử thi dài dòng, lời nói
nhân vật chưa được cá thể hoá thì ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ gần gũi tới
mức tối đa với đời sống. Xoá bỏ khoảng cách sử thi, tiểu thuyết miêu tả hiện thực
như cái hiện tại đương thời của người trần thuật, với cách nhìn nhân vật như
những người bình thường, gần gũi cho phép người trần thuật có thái độ thân mật,
suồng sã với nhân vật: “Tác giả không chỉ mô tả cái ngôn ngữ ấy mà còn nói
bằng ngôn ngữ ấy” [5]. So với ngôn ngữ thi ca, ngôn ngữ tiểu thuyết có phạm vi
hoạt động tự do và linh hoạt hơn.

nhân vật được nhà văn quan niệm như một ý thức, một tiếng nói, một chủ thể độc
lập. Nhà văn không còn ở vị trí đứng trên, lấn lướt nhân vật, mà hoà nhập, tham
gia vào cuộc đối thoại của nhiều ý thức độc lập, qua hệ thống hình tượng.
Ở cấp độ nhân vật, mỗi nhân vật là một tiếng nói, một chủ thể độc lập, bình
đẳng với tác giả. Điều đáng nhấn mạnh ở đây, không phải là những đối thoại
thông thường mà là đối thoại về tư tưởng, về ngữ nghĩa, về quan điểm nằm trong
chính phát ngôn của họ. Bakhtin đã viết: “Chính sự định hướng đối thoại của lời
nói con người giữa những lời nói của người khác (với tất cả mọi mức độ tính
chất xa lạ) tạo cho ngôn từ những khả năng nghệ thuật mới và cốt yếu, tạo nên
tính văn xuôi nghệ thuật đặc thù mà biểu hiện đầy đủ nhất và sâu sắc nhất là ở
trong tiểu thuyết” [5, 143].
Trong những năm tiền đổi mới, ngôn ngữ đối thoại đóng vai trò quan trọng
trong các tiểu thuyết của Nguyễn Khải. Ông là một trong số hiếm hoi các nhà văn
hiện đại sử dụng một cách thuần thục nghệ thuật trần thuật thông qua đối thoại.
Ngôn ngữ đối thoại gần như chiếm hết văn bản tác phẩm của Nguyễn Khải. Lời
phát ngôn nào cũng thể hiện một đặc điểm tính cách cụ thể, luôn va đập, cọ xát.
Ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm của Nguyễn Khải được cá thể hoá, đầy cá tính
(Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người ).
Ý thức đối thoại trong tiểu thuyết thời đổi mới tiếp tục được triển khai và
phát huy trong bối cảnh lịch sử mới, trong không khí dân chủ hoá của đời sống
văn học. Dấu vết thời đại đã ảnh hưởng và quy định cách nói năng, đối đáp;
nhiều lớp từ mới được hình thành; quan niệm về lời nói cũng được bổ sung
những sắc thái biểu cảm mới. Ngôn ngữ tiểu thuyết gần với ngôn ngữ đời thường,
giàu tính khẩu ngữ (Thời xa vắng, Ngày hoàng đạo, Ngược dòng nước lũ, Ăn
mày dĩ vãng, Cơ hội của Chúa, Cõi người rung chuông tận thế, Cơn giông, Thoạt
kỳ thuỷ, Đi tìm nhân vật, Mười lẻ một đêm, Luật đời và cha con ).
Bên cạnh đối thoại, độc thoại nội tâm cũng đóng vai trò chủ yếu trong
phương thức trần thuật của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới. Độc thoại nội tâm trở
thành một thủ pháp nghệ thuật có hiệu quả trong quá trình tự ý thức của nhân vật,
đi sâu vào thế giới nội tâm đầy bí ẩn của nhân vật. Thông qua độc thoại nội tâm,

tiểu thuyết đã thể hiện những nỗ lực sáng tạo đáng kể của họ trong nghệ thuật sử
dụng ngôn từ, góp phần hiện đại hoá ngôn ngữ văn chương, thúc đẩy sự phát
triển của thể loại.
1.1.3. Vài nét về tiểu thuyết đương đại Việt Nam
1.1.3.1. Tiểu thuyết Việt Nam đương đại và chủ nghĩa hậu hiện đại
Hơn một thế kỉ hình thành và phát triển, nền văn học Việt Nam hiện đại đã
đạt nhiều thành tựu lớn qua hai thời kì cách tân văn học nổi bật: giai đoạn 1930-
1945 và 1986 đến nay. Các thành công của văn học Việt Nam hiện đại chịu sự tác
động của hoàn cảnh lịch sử xã hội và có liên quan đến các trào lưu hiện đại của
phương Tây.
Từ góc độ cấu trúc thể loại tiểu thuyết đã nêu rõ ở trên, có thể nhận định
tiểu thuyết đương đại Việt Namcó ba xu hướng chủ đạo như sau:
Thứ nhất, xu hướng duy trì hình thức thể loại truyền thống. Đó là các tác
phẩm: Cán cờ tre (Trịnh Đình Khôi); Cuộc đời dài lắm, Khúc bi tráng cuối
cùng (Chu Lai); Thượng Đức (Nguyễn Bảo - Trường Giang); Ngày rất dài (Nam
Hà); Những cánh rừng lá đỏ (Hồ Phương), v.v Các nhà văn thuộc dòng chảy
này không thể hoặc không có ý định vượt qua quán tính của quá khứ trong tác
phẩm của mình, cụ thể hơn là những “khung hình” quen thuộc của nền văn học
1945-1975 xét trên cả phương diện quan niệm nghệ thuật lẫn hình thức thể loại.
Chính điều đó đã chi phối đến “tính bất động” trong cả đề tài, chủ đề lẫn cấu trúc
tự sự của các tác phẩm so với những “tiểu thuyết cách mạng” của chính họ trước
đây.
Thứ hai, xu hướng tiểu thuyết vừa duy trì vừa cách tân hình thức thể loại
truyền thống với những tên tuổi đã thành danh từ các thập kỷ trước. Đó là những
tiểu thuyết có sự tiếp nối, phát huy mạnh mẽ quan niệm, tinh thần của văn học
thời kỳ đổi mới mặc dù chưa có những bứt phá rõ rệt về thi pháp và hình thức thể
loại: Dòng sông mía (Đào Thắng); Ba người khác (Tô Hoài); Hồ Quý Ly, Mẫu
thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh); Giàn thiêu (Võ Thị Hảo); Những bức tường
lửa (Khuất Quang Thụy); Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức); Gia đình bé mọn (Dạ
Ngân); Con ngựa Mãn Châu (Nguyễn Quang Thân); Tìm trong nỗi nhớ (Lê Ngọc

ngoài xã hội (các dấu hiệu lịch sử - xã hội bị xóa mờ). Tiểu thuyết đã xuất hiện
nhiều nhân vật phi tính cách, phi tâm lý, được làm cho “mỏng dẹt”, khó hiểu, phi
logic thông thường và được giải mã theo nhiều cách khác nhau. Không gian, thời
gian không xác định, được huyền ảo hóa, tâm linh hóa. Giọng đa âm, đa
thanh, lưỡng tính trở thành chủ âm. Tính nhất quán dần mất đi, thay thế vào đó là
tính đứt đoạn, thách thức, khó hiểu, v.v Tính giễu nhại, đùa bỡn cũng chiếm vị
trí chủ đạo. Tính đối thoại trở nên mạnh mẽ hơn.
Có thể nói, đó là những dấu hiệu “hậu hiện đại” của một nền tiểu thuyết
đang chuyển mình. Nhìn chung, những tiền đề của sự đổi mới quan niệm về hiện
thực và bản chất thể loại văn học (đặc biệt là thể loại tiểu thuyết - thể loại đặc biệt

Trích đoạn Tiểu kết chương 2 Cõu văn trong tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] Trớch dẫn (lời người xưa, mẩu tin nhắn, thụng tin bỏo chớ ) Tiểu kết chương 3
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status