đặc điểm nội dung trong tiểu thuyết phục sinh của lev nicôlaiêvits tônxtôi - Pdf 30



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN

NGUYỄN VĂN HIẾU
MSSV: 6106393

ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRONG TIỂU THUYẾT
PHỤC SINH CỦA LEV NICÔLAIÊVITS
TÔNXTÔI
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: ThS. TRẦN VĂN THỊNH

lĩnh vực.
2.2. Bức tranh bi thảm về số phận của hàng triệu người vô tội, đói khổ quằn quại trong
kiếp nô lệ cùng đường.
2.3. Hình tượng những người cách mạng dân túy và chủ trương cách mạng hòa bình
được đặt ra trong tác phẩm.
2.4. Ý nghĩa của bức tranh toàn cảnh xã hội Nga những năm 90 của thế kỉ XIX.
CHƯƠNG 3
PHỤC SINH – GIẢI PHÁP CHO NHỮNG VẤN ĐỀ BỨC THIẾT CỦA THỜI
ĐẠI VÀ ƯỚC VỌNG VỀ MỘT XÃ HỘI TỐT ĐẸP.
3.1. Bước đường “sống lại” của Nekhliudov – Ý thức sâu sắc về giai cấp và khát vọng
về một chế độ mới.
3.2. Bước đường “sống lại” của Maxlova - Ước vọng cao cả của L.Tônxtôi về một
mùa xuân hồi sinh của toàn thể loài người.

2

3.3. Ý nghĩa của sự “sống lại” trong Phục Sinh.
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA CBHD
MỤC LỤC

Lev Tônxtôi vẫn là một vấn đề thời sợ nóng hổi trên diễn đàn văn học nghệ thuật” [2;
tr 428]
Chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm nội dung trong tiểu thuyết Phục Sinh của ông
làm đề tài luận văn của mình cũng bởi một số lí do sau:
Thứ nhất: “Tônxtôi là một con người phức tạp nhất trong số các danh nhân chủ
yếu nhất của thế kỉ XIX”. [2; tr 428]. Maxim Gorki cho rằng Tônxtôi đã nói lên một
khối lượng về cuộc sống bằng khối lượng mà toàn bộ nền văn học Nga còn lại đã nói
lên. Như vậy tìm hiểu về Tônxtôi cũng như các sáng tác của ông là tìm hiểu về một
huyền thoại có một không hai đã có công lớn nhất trong tiến trình hình thành nên nền
văn học Nga đồ sộ và vĩ đại. Tônxtôi là “nhà sáng lập nên phương pháp hiện thực xã
hội chủ nghĩa. Tônxtôi là bậc thầy của những nhà văn xô viết bắt đầu sự nghiệp của
họ sau cách mạng tháng mười”.[9; tr 43].
Thứ hai: Tiểu thuyết Phục Sinh là tác phẩm vĩ đại nhất trong sáng tác cuối đời
của tôixtoi lúc ông đã chuyển hẳn sang lập trường nông dân gia trưởng. Phục sinh là
tác phẩm tổng kết bước đường phát triển tư tưởng nghệ thuật của Tônxtôi, tổng kết
con đường tìm tòi lí tưởng gian khổ của nhiều ưu tú của Tônxtôi từ Nicolenca
Iectenaep qua Pie Bêdukhop đến Kôn Tan Tu Lêvin. [4; tr 305].
Thứ ba: Cuộc gặp gở với các tác phẩm của Tônxtôi đầu thế kỉ XX đã để lại dấu
ấn sâu sắc trong bộ phận trí thức Việt Nam. Tác phẩm đầu tiên của L.Tônxtôi được
dịch ra tiếng việt phải kể đến tiểu thuyết Phục Sinh đăng tải trên báo Tiếng Dân từ số 9
đến số 83, của cụ Huỳnh Thúc Kháng vào năm 1927 – 1928. Như vậy tác phẩm đã
được độc giả Việt Nam đón nhận từ rất sớm và dành những tình cảm sâu sắc. Bên cạnh
đó tác phẩm còn ảnh hưởng rất lớn đến các sáng tác của văn sĩ thời bấy giờ: “Giới trí

4

thức buổi ấy tiếp xúc với Phục Sinh đã rung động sâu sắc bởi những “luồng ánh sáng
đặc biệt” toát ra từ nội dung nhân đạo của tác phẩm”. [9; tr 87]
Thứ tư: Tônxtôi là đỉnh cao hùng vĩ của văn học Nga và văn học thế giới. Tài
năng của ông đã thể hiện ở nhiều thể loại khác nhau như chính luận, kịch, truyện ngắn,


kể đến các giáo trình đại học. Nghiên cứu Lev Tônxtôi như là tác giả cổ điển Nga chỉ
thật sự được đặt ra trong công trình nhiều tập của Hoàng Xuân Nhị: Lịch sử văn học
Nga. Sự ra đời của bộ sách là mốc quan trọng có giá trị mở đầu cho việc nghiên cứu
văn học Nga ở Việt Nam. Tiếp đó là bộ giáo trình Lịch sử văn học Nga thế kỷ XIX và
bộ Lịch sử văn học Nga gồm ba cuốn Qua các bộ giáo trình này, người đọc thấy rõ
hơn, cụ thể hơn tư tưởng nghệ thuật của Lép Tônxtôi: “Tôi yêu thích tư tưởng nhân
dân”, “lịch sử, sinh hoạt gia đình luôn gắn bó với tư tưởng nhân dân”, “Tôi cố gắng
viết lịch sử dân tộc” [18] trong hình thức nghệ thuật tiểu thuyết chưa từng có ở châu
Âu và ở nước Nga.
Sau năm 1975, giới nghiên cứu tiếp tục khám phá, tiếp cận một cách bản chất
hơn với sáng tác của Tônxtôi. Năm 1978, kỷ niệm 150 năm Ngày sinh L.Tônxtôi
(1828 - 1978) được coi là một sự kiện văn hóa trong đời sống tinh thần xã hội Việt
Nam. Tiếp đó, việc nghiên cứu Tônxtôi được tiến hành trên quy mô ngày càng phong
phú, đa dạng cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Năm 1986, sau nhiều năm nghiên cứu, giảng
dạy, Nguyễn Trường Lịch cho ra mắt chuyên luận L.Tônxtôi. Chuyên luận phản ánh
cái nhìn bao quát về nhà văn Nga, từ tiểu sử, sự nghiệp sáng tác đến tầm ảnh hưởng
thế giới lớn lao của Tônxtôi trong thế kỷ XX.
Những năm gần đây, giới nghiên cứu văn học Việt Nam tiếp thu các thành tựu
của khoa nghiên cứu văn học Nga, ngày càng có thêm những đóng góp quan trọng
trong xác định phong cách tác giả, thể nghiệm và ứng dụng các phương pháp nghiên
cứu mới, nhất là thi pháp học hiện đại. Hướng tiếp cận đó thể hiện trong các chuyên
luận Thi pháp tiểu thuyết L.Tôn-xtôi (Ðọc Chiến tranh và hòa bình) của Nguyễn Hải
Hà, Tiểu thuyết L.Tônxtôi của Nguyễn Trường Lịch. Các công trình này đề cập những
vấn đề cơ bản của lý luận văn học và thi pháp học như: thể loại, tư duy tiểu thuyết và
tư duy sử thi, kết cấu, cốt truyện, tính chân thật và sự thật trong văn học, quan hệ giữa
nguyên mẫu và nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật, biện chứng của tâm hồn,
độc thoại nội tâm, so sánh văn học
Quyển Lịch sử văn học Nga thế kỉ XIX đã khẳng định vị trí đặc biệt lớn lao của
đại thi hào Tônxtôi cũng như vị trí của tiểu thuyết Phục Sinh trong toàn bộ sự nghiệp

niềm đam mê yêu thích sẽ cố gắng phân tích và cảm nhận sâu sắc hơn về nội dung của
tác phẩm. Mặt khác kết quả từ việc nghiên cứu sẽ góp một phần nhỏ vào việc nghiên
cứu tiểu thuyết vĩ đại Phục sinh nói riêng và rút ra những kiến thức bổ ích cho việc
nghiên cứu học tập nói riêng của bản thân chúng tôi.
3. Mục đích, yêu cầu
Luận văn với đề tài “Đặc điểm nội dung trong tiểu thuyết Phục Sinh của
L.Tônxtôi” nên trong tập luận văn này chúng tôi tìm hiểu khái quát về văn học Nga thế
kỉ XIX, về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Tônxtôi để làm nổi bật vị trí quan trọng

7

của tiểu thuyết Phục sinh trong sự nghiệp văn chương của ông. Phục Sinh là một trong
ba quyển tiểu thuyết vĩ đại nhất trong sáng tác của thi hào Tônxtôi cũng như trong nền
văn học thế giới, từ lâu tác phẩm luôn là đề tài nóng hổi cho giới nghiên cứu và phê
bình văn học bởi chất nhân đạo của nó.
Chúng tôi tập trung tìm hiểu những vấn đề lớn mà tác giả đã đặt ra trong tác
phẩm như tố cáo chính quyền Nga hoàng thối nát trên các lĩnh vực làm cho nhân dân
rơi vào cảnh khốn cùng, đứng trước tình hình đó thì điều cấp bách đặt ra là phải thay
đổi, đứng lên đấu tranh vì một xã hội mới. Bên cạnh đó chúng tôi nghiên cứu bước
đường hồi sinh của hai nhân vật chính là Maxlova và Nekhliudov, nhằm thấy được
niềm ao ước cũng như giải pháp mà Tônxtôi đặt ra để xây dựng một xã hội Nga không
còn áp bức, nghèo khó mà chế độ hiện hành đã gây nên. Hơn thế nữa chúng tôi muốn
một lần nữa khẳng định lại một lần nữa giá trị hiện thực cũng như giá trị tư tưởng
trong tác phẩm.
Người viết cần có những tìm tòi, nghiên cứu và phát hiện ra những đặc điểm
chung trong nội dung hầu hết các tác phẩm của Tônxtôi cũng như những đặc điểm
khác nổi bật trong tác phẩm Phục sinh. Qua tập luận văn này, chúng tôi muốn một lần
nữa khẳng định những đóng góp to lớn của Tônxtôi cho nền văn học nhân loại cũng
như giá trị đặc biệt quan trọng của tác phẩm trong nền văn học hiện thực Nga cuối thế
kỉ XIX và mãi về sau.

thông qua quá trình nghiên cứu.
9

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ THỜI ĐẠI, TÁC GIẢ, TÁC PHẨM VÀ MỘT
SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 . Khái quát tình hình xã hội và văn học Nga thế kỉ XIX
Văn học hiện đại Nga thế kỷ XIX là một trong những nền văn học phong phú
và tiên tiến của nhân loại, là một trong những thành tựu rực rỡ nhất của lịch sử phát
triển nghệ thuật thế giới. Nó ra đời và trưởng thành trong cuộc đấu tranh lâu dài gay
gắt của nhân dân Nga chống lại chế độ nông nô chuyên chế tàn bạo và phản động.

tính văn học, vấn đề thơ balat của Catenin, vấn đề trường ca của Puskin và nhiều vấn
đề khác. Sự xuất hiện của trường ca Ruxlan và Liumila và những bản trường ca
phương Nam của Puskin đã cho thấy sự thắng thế trước chủ nghĩa lãng mạn của chủ
nghĩa hiện thực và có thể nói Puskin là người đã đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện thực
ở Nga. Năm 1825 có một số tác phẩm đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực tiêu
biểu là tiểu thuyết bằng thơ Epghenhi Ogheghi.
Cùng với Puskin, Gôgôn, Lecmontop và Bêlinxki đã đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa
hiện thực về phương diện lí luận, phê bình và sáng tác. Thành tựu văn xuôi của Gôgôn
rất có ý nghĩa, ông đã tập hợp những người xung quanh mình là những nhà văn trẻ như
Ghecxen, Dôxtoiepxki, tuôcghenhep, Gônsandrop tạo nên trường phái Gôgôn với
những tác phẩm như: Những người cùng khổ (1846), Bút kí người đi săn (1847), Ai có
tội (1846- 1847) đã khẳng định sự toàn thắng của chủ nghĩa hiện thực.
Đến nửa sau thế kỉ XIX là thời kì chủ nghĩa hiện thực phát triển rực rỡ với
nhiều tên tuổi vĩ đại như Sécnưsepxki, Tuôcghênhep, Đôxtôiepxki, Tônxtôi, Sêkhốp.
Mâu thuẫn sâu sắc giữa giai cấp thống trị và quần chúng bị trị diễn ra trong suốt thế kỉ
XIX đã tạo nên cơn khủng hoảng gay gắt trầm trọng chỉ cần cơ hội là bùng nổ dữ dội.
Ngay lúc này vấn đề giải quyết ruộng đất cho nông dân trở thành vấn đề trung tâm của
thời đại và nó cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của tư tưởng xã hội và văn học nghệ
thuật. cuộc cải cách nông nô 1861 đã mở ra thời đại mới trong lịch sử Nga. Sản sinh ra
hai trào lưu tư tưởng lớn: một bên là phái tự do chủ nghĩa vào những năm 1860 –
1870, họ muốn thoát khỏi bế tắc khủng hoảng nhưng không muốn hủy bỏ chế độ nông
nô mà chỉ nhượng bộ. Họ sợ cách mạng vì đa số họ là nhà tư tưởng thuộc giai cấp tư
sản. Đại biểu cho trào lưu này là Tuôcghênhep, Tônxtôi, Ôxtropxki, Gônsarop, …
Trào lưu thứ hai chủ trương dùng bạo lực tiêu diệt chế độ nông nô. Họ là những người
thuộc tầng lớp thanh niên, trí thức bình dân. Tiêu biểu là Bêlinxki, Secnưsepxki,
Xêdrin…

11

Bên cạnh sự phát triển của đội ngũ nhà văn, đề tài, chủ đề của hiện thực Nga

cuốn này sang cuốn khác các tác phẩm văn học trong thư viện của cha mình có tới

12

hàng vạn cuốn. L.Tônxtôi đã được nuôi dưỡng trong cái nôi văn chương này, cùng với
tài năng thiên bẩm và với một nhân cách lớn - để rồi ông trở thành một đại văn hào của
nước Nga và thế giới. Tuy nhiên trong hoàn cảnh ông lớn lên và giáo dục thì có một
khía cạnh đặc biệt đã ảnh hưởng đến sự hình thành ý thức và tính tình của văn hào sau
này đó chính là sự tiếp xúc mật thiết của ông với thiên nhiên và với nhân dân Nga giản
dị.
Năm 1837 cha Tônxtôi qua đời khi ông mới 9 tuổi. Tônxtôi cùng anh em mình
lớn lên nhờ sự nuôi dạy và chăm sóc của bà bá tước Ôxten Xaken là cô ruột của ông.
Năm 1844, Tônxtôi vào học trường đại học Kazan. Ban đầu học ở khoa triết, hệ
ngữ văn phương Đông, được ít lâu, chuyển sang khoa luật. Đang ở độ trưởng thành,
cậu sinh viên quý tộc mải mê chạy theo đủ mốt chơi bời cùng bè bạn hưởng thụ lạc thú
mong sao cho xứng đáng một công tử hào hoa. Tuy nhiên chẳng bao lâu ông chán
ngán cuộc sống phóng đãng ấy và cảm thấy vô cùng hối hận về lỗi lầm vướng vào.
Ông ngán ngẫm cái xã hội thượng lưu trống rỗng và chua xót khung cảnh trì trệ bảo
thủ của trường đại học. Tônxtôi bắt đầu chú ý đến những vấn đề lịch sử và hướng về
nông thôn và khát khao làm cái gì đó có ích cho xã hội. Tuy vậy thời gian ở trường đại
học do tiếp xúc nhiều với lớp sinh viên dân chủ cách mạng nên tư tưởng đạo đức và
nhận thức xã hội của Tônxtôi đã chuyển biến tích cực hơn. Ông tìm thấy phong cách
sống giản dị, lành mạnh và niềm đam mê học tập nghiên cứu ở họ.
Năm 1847, Tônxtôi bỏ học trở về trại ấp, lập ra chương trình học trong hai năm
và tiến hành công việc cải cách đời sống nông nô trong trại ấp.
Năm 1851, Tônxtôi theo anh trai đến Kapca, được bổ nhiệm tạm thời vào quân
đội và đến đóng quân tại làng Xtara Glacoopxcaia cái làng nhỏ của người Kadắc nằm
bên bờ sông Tê rêch. Những ngày tháng ở Kapca nhà văn đã bắt đầu sáng tác tác phẩm
nổi tiếng đầu tiên của mình Thời thơ ấu, gửi đăng tạp chí Người đồng thời vào tháng 9
– 1852. Thời thơ ấu cùng với Thời thiếu niên (1854) và Thời thanh niên (1857) hợp

sản quý tộc đồng thời tuyên truyền cho học thuyết của mình. Với các tác phẩm nổi bật
như Sám hối (1870 – 1882), Đâu là đức tin của tôi (1884). Cái chết của Ivan Ilich
(1886) Vở kịch Quyền lực bóng tối (1886) và Thành quả giáo dục (1890).
Năm 1892, Tônxtôi tuyên bố từ bỏ bản quyền văn học những tác phẩm do ông
viết sau năm 1882. Tích cực tham gia cứu đói ở Riadan, Tula, Oren trong những năm
1891 – 1893. Tác phẩm vĩ đại thứ ba của ông đã ra đời trong những năm 90 (thế kỉ
XIX) là tiểu thuyết Phục Sinh (1889 – 1899). Tác phẩm ra đời đã gây nên phản ứng
dữ dội từ phía Giáo hội và đã khai trừ ông vào năm 1901.
Ngòi bút của Tônxtôi càng về già càng sung sức dù sức khỏe không được tốt
nhưng ông vẫn tiếp tục sáng tác không mệt mỏi. Năm 1898 ông viết truyện Chaxecghi,

14

Vở kịch Cái thây sống (1900). Tônxtôi cho xuất bản truyện Khatdogi Murat (1896 –
1904), Sau lễ hội (1903),
Những năm cuối đời Tônxtôi sống tại trại ấp của mình, tên tuổi ông càng ngày
lan rộng trên khắp thế giới. Tônxtôi trở thành trung tâm tinh thần của nước Nga. Từ
lâu Tônxtôi đã muốn bỏ nhà ra đi bởi ông thấy đau lòng trước hiện thực xã hội, ông
thấy rằng dù sao mình vẫn là một địa chủ và có khoảng cách với nhân dân. Vinh quang
cũng khiến Tônxtôi đau lòng. Hơn thế nữa hoài bão về một xã hội tự do bác ái, bình
đẳng đã vấp phải xã hội tư sản quý tộc bất công nên ông rơi vào tình trạng khủng
hoảng tư tưởng. Sự bất hòa giữa ông và vợ làm bi kịch ấy trầm trọng hơn .
Cuối cùng vào lúc 5h sáng ngày 28/10/1910 ông cùng người bác sĩ thân tính bỏ
nhà ra đi để tìm lại chính mình. Tônxtôi lên thuyền đi về hướng nam, về hướng sông
Đông dọc đường đi vì tuổi cao sức yếu nhà văn bị cảm và qua đời tại nhà ga Axtapovo
vào ngày 1/11/1910. Theo nguyện vọng, Tônxtôi được mai táng ở trại ấp Axanaia
Poliana, ngôi mộ chỉ là một mô đất vuông dưới bóng râm của những vòm cây lớn, trên
mộ không có thánh giá. Nhà văn vĩ đại đã yên nghỉ giữa thiên nhiên Nga mà ông yêu
thương tha thiết.
1.3. Tóm tắt tiểu thuyết Phục Sinh

tỉnh khi thấy mọi tội lỗi mà chàng đã gây ra cho Maxlova. Chàng cảm thấy mọi thứ
đều “đáng ghê tởm và hổ thẹn”. Chàng đến nhà tù để tìm cách xin ân xá cho Maxlova,
sao cho nàng được phục hồi nhân phẩm và chính chàng cũng phải tự tu thiện để cảm
thấy bớt hổ thẹn với lương tâm. Chàng đi đến một quyết định vô cùng táo bạo đó là
phân phát hết ruộng đất cho nông dân và sẽ cùng đi đày với Maxlova ở Xibia.
Tác phẩm đã miêu tả rất chi tiết con đường Phục sinh của Nekhliudov, chàng đã
có lúc cảm thấy hối hận và đắn đo về con đường đã chọn khi việc ân xá không thành
nhưng rồi trên con đường ấy chàng đã thấy tất cả thảm cảnh mà dân chúng phải chịu,
dân chúng đang chết dần chết mòn còn địa chủ thì hả hê trong phú quý ra sức cướp đất
đai về tay mình. Chàng ra sức giúp cho những người tù bị oan tuy chỉ giúp được một
số ít nhưng chàng thấy rất vui và càng nhận rõ bản chất của bộ máy chính quyền xấu
xa bạc nhược. Trong thời gian đi đày, tiếp xúc với những người tù chính trị Maxlova
đã tỉnh ngộ và phục sinh về mặt tinh thần vốn bị chà đạp của mình. Nàng yêu thiết tha
cuộc sống mới, tuy có đôi chút chạnh lòng vì đoạn tuyệt tình cảm với Niukhliudop và
chung sống với Ximonxơn – người chiến sĩ cách mạng nhưng nàng rất vui vì được
sống theo ý mình. Tác phẩm với kết thúc mở không ai biết cuộc sống của Nekhliudov
rồi sẽ ra sao vì điều đó “chỉ có tương lai mới chứng thực được” [14; tr 631]
1.4. Một số vấn đề lý luận chung

16

Cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, mỗi tác phẩm văn học đều bao gồm
phần nội dung và hình thức. Trong phần này, vì đề tài nghiên cứu về “đặc điểm nội
dung” nên chúng tôi chỉ tìm hiểu về những vấn đề lí luận liên quan đến nội dung của
tác phẩm văn học.
Nội dung của tác phẩm bắt nguồn từ mối quan hệ giữa văn học với hiện thực.
Đó là mối quan hệ nhất định của con người đối với hiện tượng đời sống đã được phản
ánh. Đó vừa là cuộc sống đã được ý thức, vừa là sự ý thức cảm xúc – đánh giá đối với
cuộc sống đó. Nói cách khác, nội dung tác phẩm văn học là một thể thống nhất giữa
khách quan và chủ quan, trong đó có phần nhà văn khái quát, tái hiện đời sống khách

tượng, hệ thống nhân vật nhất là các nhân vật chính, hình tượng chính.
Tư tưởng tác phẩm là sự đánh giá và bộc lộ ý nghĩa của những gì đã được thể
hiện, là cách giải quyết vấn đề đã được đặt ra trong tác phẩm theo một khuynh hướng
nhất định vốn có ở lập trường quan điểm của tác giả. [6; tr 122] Đoàn Đức phương
trong quyển Lí Luận Văn Học đã khẳng định “trong tất cả các yếu tố tạo thành tác
phẩm, tư tưởng có vai trò quan trọng nhất vì nó có tác dụng chỉ đạo đối với toàn bộ
tác phẩm. Bêlinxki đã viết “trong những tác phẩm nghệ thuật chân chính, tư tưởng
đâu phải là một khái niệm trừu tượng thể hiện một cách giáo điều, mà nó là linh hồn
của chúng, nó chan hòa trong chúng như ánh sáng chan hòa trong pha lê” [6; tr 123].
Nhà văn Kôrôlen cô đã nói một cách ngắn ngọn hơn “Tư tưởng là linh hồn của tác
phẩm văn học” [6; tr 123]

18

CHƯƠNG 2

19

Tônxtôi thẳng thừng lên án cái chính phủ hiện tại đã đẩy biết bao nhiêu thân
phận phụ nữ như Maxlova vào con đường mãi dâm chuyên nghiệp. Bởi công việc mãi
dâm ấy được chính phủ bảo trợ hẳn hoi thì không việc gì khi người ta lại lao vào đó để
tìm con đường để tồn tại khi gặp bế tắc trong cuộc sống. Maxlova cũng vậy nàng đã
phải sống “một cuộc sống được chính phủ - một chính phủ hằng ngày chăm lo hạnh
phúc cho quốc dân – chẳng những cho phép mà còn bảo trợ, cuộc sống đọa đày của
hàng vạn phụ nữ, kết quả là cứ mười người thì chín người bị ác bệnh giày vò, cằn non
chết yểu” [14; tr 16].
Ngòi bút của Tônxtôi rất tôn trọng và thẳng thắng nêu lên sự thật. Liệt kê những
hạng người thường lui đến chốn sa đọa trụy lạc ấy, Tônxtôi không loại trừ thành phần
nào mà nêu lên hầu như tất cả mọi tầng lớp từ “trẻ mới choai choai đến già khọm đế,
người không vợ, người có vợ, dân buôn, dân thày, cả Acmeni, Do Thái, Tacta, sang có
hèn có, khỏe có, ốm có, người say, người tỉnh, người thô lỗ cục cằn, người hào hoa
phong nhã, lính có, dân có, công chức, sinh viên, học sinh thôi thì đủ hạng người, đủ
lứa tuổi, đủ loại tính nết trên đời” [14; tr 16-17]. Không chỉ không nghiêm cấm mà
chính quyền còn cấp giấy thông hành cho họ để họ có thể hành nghề một cách chính
đáng hơn và mỗi tuần họ phải đến sở nhà nước, sở cảnh sát để trình diện. Thực chất
việc trình diện ấy chỉ là cơ hội để chúng - những bọn công chức, thầy thuốc có cơ hội
đùa nghịch một cách trơ tráo. Tất cả đều cấu kết với nhau, cùng đồng lõa nhau trong
công cuộc sa đọa hóa xã hội một cách công khai. Rõ là xã hội Nga lúc bấy giờ đã sa
đọa và mục nát thế nào. Nguyên nhân ở đây cũng chính vì có một chính quyền thối nát
đứng sau chống lưng để cổ vũ và khuyến khích nhân dân vào chốn tha hóa như thế.
Tônxtôi còn cho chúng ta thấy bộ mặt giả dối của quan lại thượng lưu với cuộc
sống nhàn hạ, đầy đủ vật chất xa hoa khác xa với hàng vạn hàng triệu người đang sống
trong địa ngục trần thế tù túng và nghèo đói. Giữa lúc Maxlova đang mệt nhoài sau
chặng đường cuốc bộ mệt nhọc thì những người thuộc tầng lớp thượng lưu như
Nekhliudov lại đang hãy còn nằm trên chiếc giường lò xo, trải đệm lông tơ. Maxlova
phải chịu cảnh cái đói đang cào xé ruột gan thì Nekhliudov lại được cung phụng như

tù” là hoàn toàn xác đáng. Họ được ở không, được rảnh rỗi, được cấp thức ăn mỗi bữa
không thiếu thứ gì chỉ thiếu tự do và sẽ chết sớm. Hóa ra ở tù lại sướng hơn được tự
do. Thật đáng nực cười cho chế độ hiện thời.
Miêu tả những con người trong bộ máy chính quyền mục nát Tônxtôi quyết liệt
nêu lên những việc làm mang danh chính nghĩa nhưng thực chất là đốn mạt họ đối với
xã hội. Tônxtôi cho ta thấy con đường để bọn giới chức này đi đến địa vị như thế là rất
khó khăn, mờ ám và có khi đẫm máu. Tiêu biểu như hình tượng tên phó tổng đốc
Maxlenicop lấy được vợ giàu, bị vợ đùa giỡn như đùa thú nuôi trong nhà, khi thấy
quan trên để ý đến thì khúm núm, co dáng như con cún được chủ vuốt ve mà không

21

biết làm gì. Hay bá tước cựu bộ trưởng Ivan Mikhailovitr thì sống phè phỡn, suốt đời
lấy ăn ngon mặc đẹp làm lẽ sống, tuy không có tài cáng gì nhiều nhưng được cái khéo
ăn nói nịnh hót các quan lớn nên dần đần được thăng quan tiến chức.
Nguyên lão nghị viện Vol lịch thiệp một cách giả dối, tìm cách bòn rút của cải
của vợ và chị vợ và đã kiên quyết từ bỏ đứa con trai hư hỏng nhưng vẫn tự phụ là đã tổ
chức gia đình êm đẹp nhất thế giới. Y cho rằng trung thực không có nghĩa là hối lộ
ngầm. Y coi việc đàn áp những người yêu nước Ba Lan là trung quân ái quốc.
Nekhliudov đã thấy rõ hết những thói sống xa hoa của nhà Corsaghin, thói ghê sợ lao
động của bà dì cùng những buổi thuyết giáo vô bổ về sự chuộc lỗi của bọn người
thượng lưu. Cảnh tượng ấy trái ngược biết bao với cảnh sống đau khổ của nông dân và
tù nhân. Với bọn cai trị quyền hành bị thao túng như thế mà bao nhiêu bất công đã và
đang diễn ra hằng ngày
Việc xin ân xá cho Maxlova không được như mong muốn cũng thói quan liêu
của bộ máy tư pháp cũng như toàn bộ bộ máy cai trị dưới chế độ Nga hoàng ấy gây ra.
Và mặc dù Nekhliudov có đầy đủ tiền và các mối quan hệ song cũng khó có thể can
thiệp vào quá trình kháng án. Chàng đã phải chạy đến khắp nơi có thể nhờ vã được
nhưng cuối cùng kết quả đơn kháng án bị bác vì lí do kháng án không đầy đủ cuối
cùng Maxlova chỉ được giảm từ án đày khổ sai xuống án đày thường.

Dưới ngòi bút của Tônxtôi tòa án xét xử chẳng khác gì một trò hề, một trò vui
hay tán gẫu của những người vốn được xem là người làm chủ công lí. Viên lục sự đọc
bản cáo trạng một cách to và nhanh vô tình làm lẫn lộn cái vần l và r nên các tiếng dồn
lại thành một chuỗi âm thanh đơn điệu, khiến người nghe buồn ngủ. Lão chánh án thì
nói như đọc thuộc lòng. Viên phó biện lí thì giả vờ ghi ghi chép chép và thích lắm cái
việc hùng biện sáo rỗng của mình. Ai ai cũng tỏ vẻ chán ngán ra mặt khi phải tham dự
phiên tòa “Các thẩm phán hết tì khuỷu tay lên tay ghế bên này lại tì tay lên ghết bên
kia, khi thì tì lên mặt bàn, khi ngả người vào lưng ghế, họ nhắm mắt lại rồi lại mở mắt
ra, thì thầm với nhau. Một tên hiến binh đã mấy lần cố nén một tiếng ngáp dài”. [14;
tr 48].
Hơn thế nữa tên luật sư bào chữa cho bị cáo thì ngượng ngùng đọc bản bào
chữa cho Maxlova như đánh vần. Rồi các thẩm phán tranh nhau biểu quyết, kết quả
được kết luận một cách vội vã và người vô tội đã bị kết án oan uổng. Điều đó cho thấy
các cơ quan xét xử cấp trên cũng không khác gì ngoài các cơ quan cấp dưới, họ cũng
chỉ làm công việc máy móc duyệt y bán án mà cấp dưới đã phán quyết. Điều khác biệt
duy nhất là ở chỗ: “chiếc bàn trước mặt các nguyên lão nghị viên ngồi xét xử không
phủ dạ xanh lá mà phủ nhung đỏ” [14; tr 271].
Với bộ máy tòa án bạc nhược được tạo nên từ những con người mất hết tình
người ấy nên Maxlova vốn dĩ vô tội đã trở nên có tội và bị đày khổ sai bốn năm vì

23

những tên quan lại của tòa án ấy mỏi mệt tâm tư rối bời nên không một ai nghĩ đến
phải thêm vào câu trả lời điều này: “Có tội, những không có ý định giết người”[14; tr
115]. Giá như có thêm câu ấy thì tình cảnh đã khác, Maxlova đã được vô tội. Bởi theo
lời của lão chánh án thì trường hợp của Maxlova: “chỉ có một trong hai khả năng:
hoặc là gần như trắng án, tức là ngồi tù, nhưng có thể chỉ tính vào thời hạn bị giam
hay bị bắt thôi là đã mạn rồi; hoặc là tù khổ sai chứ không có nửa chừng” [14; tr
122].
Toàn khung cảnh trong tòa án xét xử được hiện lên với những sự lười biếng và

trong tù, rồi tốn tiền công quỷ để đày hắn từ nơi này đến nơi khác cùng với những kẻ
hư hỏng nhất đời.
Tônxtôi vô cùng tỏ ra đau đớn và chua xót khi những điều vô lí, tàn bạo ấy sao
lại có thể hiên ngang mà tung hoành mà không ai thấy động lòng mà lên án nó sao?
“Khủng khiếp biết mấy khi nghĩ rằng có những kẻ chẳng có lý do gì hết, có thể làm
nhục, bắt bớ một người đồng loại của mình, khoác lên người họ một bộ quần áo tù và
giam cầm họ vào cái nơi rùng rợn này”.[14; tr 248]. Những điều lạ lùng và vô lí như
thế đã đang và hằng ngày diễn ra trên khắp nơi của đất nước Nga bởi một lẽ chính
quyền Nga hoàng đang thực hiện một âm mưu khủng khiếp nhằm biến nước Nga
thành một nhà tù khổng lồ để dễ dàng cai trị. Những ai đi ngược lại những kẻ có tiền
và có quyền chức lập tức sẽ bị tống giam, sống trong cảnh địa ngục trần gian chờ ngày
bị chém hoặc bị đày đi biệt xứ. Nekhliudov thấy được điều đó và chàng ngạc nhiên
rằng tại sao trước đây không ai thấy được điều đó. Chàng nghĩ rằng cái tàn nhẫn và vô
lí ở đây đã đạt đến mức tột cùng.
Tônxtôi còn lên án cả những bọn quan lại cấp dưới ở cái quận huyện bé nhỏ
nhưng cũng thủ đoạn và vô đạo đức chẳng khác gì cấp trên ở các thành phố hay thủ đô.
Người ta đã lầm khi nghĩ rằng những người ấy sẽ có những tư tưởng mới, tư tưởng tự
do bởi bọn biện lí, thẩm phán đều là những người mới. Đúng thật là họ rất tốt và rất tự
do nhưng sau một thời gian làm việc thì khác hẳn. “Họ chỉ còn là những viên chức
chăm chăm đợi đến ngày hai mươi mỗi tháng để lĩnh lương, họ tùy tiện muốn buộc tội,
xét xử, kết án ai, tùy ý thích của họ”[14; tr 335].
Bọn luật sư cũng vậy, điển hình là tên luật sư cải cho Cartinkin và Botscova đã
ăn của họ số tiền ba trăm rúp để được hắn cải cho trắng án và đổ mọi tội lỗi lên đầu
Maxlova. Là những người trí thức nhưng có lẽ những toan tính thiệt hơn, những cám
dỗ của đồng tiền đã khiến họ mất bản tính trung thực vốn có. Hơn thế nữa là những
người nắm quyền trong tay thì họ có thể dùng đủ mọi cách để đổi trắng thành đen và
chuyện một người vô tội mà không có tiền thì cũng trở nên tội danh chồng chất.
Những tiêu cực ấy còn được bộc lộ qua chuyện tòa án nào sẽ xử vụ án như thế nào.
Tên phó chưởng lí vì mục đích kiếm thêm món hời từ bị cáo mà đã không xét xử trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status