đặc điểm ngôn ngữ trong nghi thức chào, mời, chúc mừng của người việt - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
…..o0o…..

PHẠM THỊ KIM TRUNG

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG NGHI THỨC
CHÀO, MỜI, CHÚC MỪNG CỦA NGƯỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh, 2003


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
…..o0o…..

PHẠM THỊ KIM TRUNG

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG NGHI THỨC
CHÀO, MỜI, CHÚC MỪNG CỦA NGƯỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn: Dư Ngọc Ngân

Thành phố Hồ Chí Minh, 2003


QUI ƯỚC TRÌNH BÀY
[ ; ] : Tên tài liệu tham khảo và số trang trích dẫn được ghi bằng số thứ thự đặt

- Nxb HNV : Nhà xuất bản Hội Nhà văn
- Nxb VH : Nhà xuất bản Văn học
- Nxb VHDT : Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc.
- T/c : tạp chí
*/ Tên tác phẩm và tác giả được sử dụng làm ngữ liệu tham khảo được viết tắt
bằng các chữ cái đầu tiên . Chẳng hạn :
+ VN, KL : viết tắt tên tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân


+ BTX,HD : viết tắt tên tác phẩm Biệt thự xanh của Hoàng Dân.


DANH MỤC NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN
1- AMDV, CL : An mày dĩ vãng, Chu Lai, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001.
2- BĐH, HP :
3- BKH, DH:

Bà Đốc Huệ, Học Phi, Nxb QĐND, Hà Nội 1993.
Bến không chồng, Dương Hướng, Nxb HNV, Hà Nội ,
1998.

4- BS,OVT :

Bóng sao, Ông Văn Tùng, Nxb Thanh niên, Hà Nội 2001.

5- BTX, HD :

Biệt thự xanh, Hoàng Dân, Nxb Lao động, 2002.

6- BV, NH :

15- ĐSSS,NHT: Đưa sáo sang sông II, Nguyễn Huy Thiệp ,
16- ĐTNV,TDA : Đi tìm nhân vật, Tạ Duy Anh, Nxb Văn hoa Dân tộc,
2002.
17- GĐM, TL :
18- HN, LL :

Gió đầu mùa, Thạch Lam, Nxb Tp HCM, 1994.
Hai nhà, Lê Lựu, Nxb Thanh niên, Hà Nội 2000.

19- HBMT, KH : Hồn bướm mơ tiên, Khái Hưng, Nxb VN Tp HCM , 1999.
20- LNCV,NCH : Lá ngọc cành vàng, Nguyễn Công Hoan, Nxb HNV, 1997.
21- M, ĐH :

Mưa , Đỗ Hoàng , Nxb LĐ, Hà Nội 2002.

22- MĐLNNM,NKT : Mảnh đất lắm người nhiều ma , Nguyễn Khắc Trường
, Nxb HNV, Hà Nội 1999.


23- MGPT,LL:

Một góc phố Tàu, Lý Lan, Nxb HNV, Hà nội 2001.

24- MTCR, NMC : Mảnh Trăng cuối rừng, Nguyễn Minh Châu, VH lớp 12,
tập 1.
25-SM, NC :

Sống mòn, Nam Cao Nxb Đồng Tháp , 1997.

26-NCttl :

35-TngNCH :

Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan , Nxb Hà Nội, 1993.

36-TngTL :

Truyện ngắn Thạch Lam, Nxb HNV, Hà Nội, 1996.

37-TngVNQĐ: Truyện ngắn hay và đạt giải tạp chí VNQĐ (1957-2002) ,
Nxb VH 2002.
38-TXV,LL :

Thời xa vắng, Lê Lựu, Nxb HNV, 1994.

39-TT, NHT :

Thần tượng, Nguyễn Hương Trâm, Nxb HNV, 2000.

40-TT,KH :

Thừa tự, Khái Hưng, Nxb VN Tp HCM, 1999.

41-VBMT, NT: Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân , Nxb TH Đồng Nai,
2000.
42-VN, KL :

Vợ nhặt, Kim Lân, Sách VH lớp 12, tập 1.

43-VNVT,HBC : Vì nghĩa vì tình, Hồ Biểu Chánh, Nxb TH Tiền giang,
1988.

2. Vai trò của ngôn ngữ trong chức năng giao tiếp và hình thành văn hoá giao tiếp : ..42
3. Các đác trưng cơ bán trong văn hóa giao tiếp của người Việt. .................................43
4. Đặc trưng cơ bản trong giao tiếp của người Viêt. .....................................................45

III. Nghi thức lời nói của người Việt. ...................................................................... 47
1. Khái niệm nghi thức lời nói. ......................................................................................47
2. Những phương tiện giao tiếp kèm theo. ....................................................................49
3.NTLN và lý thuyết hành động ngôn từ. .....................................................................51
4. Đặc trưng nghi thức lời nói của người Việt...............................................................54

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA NGHI THỨC CHÀO, MỜI,
CHÚC MỪNG CỦA NGƯỜI VIỆT....................................................... 58
I. Khái niệm về nghi thức chào, mời, chức mừng. ................................................. 58
1. Nghi thức chào...........................................................................................................58
2. Nghi thức mời. ...........................................................................................................60
3. Nghi thức chúc mừng. ...............................................................................................62


II. Yêu cầu của hành vi chào, mời, chúc mừng của người Việt. ........................... 65
1. Người tiến hành các nghi thức này phải có tri thức về đời sông, văn hóa, xã hội. ...65
2. Người thực hiện các nghi thức này phải có sự hiểu biết về vị thế xã hội của người
tiếp nhận và tình huống phát ngôn. ...............................................................................66
3. Người thực hiện các nghi thức này phải nắm được cách xưng hô cua người Việt. ..66

III. Giá trị của các nghi thức chào, mời, chúc mừng về mặt văn hóa – giao tiếp.
..................................................................................................................................... 69
1. Ngôn ngữ và văn hoá. ................................................................................................69
2. Giá tri của các nghi thức chào, mời, chúc mừng về mát văn hóa giao tiếp. ..............72

IV. Yếu tố lịch sự trong nghi thức chào, mời, chúc mừng của người Việt. ......... 81

khác nhau. Dân gian chúng ta thường nói : "Lời nói chẳng mất tiền mua ; Lựa lời mà
nói cho vừa lòng nhau". Ngôn ngữ có tác động to lớn đến đời sống tình cảm, xã hội
của con người.
Chính từ tác dụng của ngôn ngữ đến đời sống tâm hồn tình cảm mà con người
trong quá trình sử dụng ngôn ngữ đã xây dựng nên những qui tắc, chuẩn mực ngôn
ngữ. Những qui tắc, chuẩn mực ấy có thể là những qui định về ngữ âm, ngữ pháp, các
biện pháp tu từ,... cũng có khi là những phong cách chức năng cụ thể như phong cách
khẩu ngữ, phong cách chính luận, ngôn ngữ nghệ thuật, ... Nó có thể được qui định
thành văn bản như cách viết hoa, cách viết tên riêng, ... cũng có khi là những qui định
bất thành văn như các qui tắc hội thoại mà mỗi người sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp
phải biết tuân theo để hiệu lực giao tiếp của ngôn ngữ được phát huy hiệu quả cao
nhất.
Giao tiếp là vấn đề của phép "đối nhân xử thế" trong mọi thời đại của con người.
Thường ở mỗi thời đại, mỗi dân tộc, trong nền văn hóa của mình đều có những nghi
thức giao tiếp giữa người với người trong các lĩnh vực của cuộc sống.
Chính trong hoạt động giao tiếp, nhiều cái mới được hình thành, nảy sinh, nhiều
từ mới được tạo ra, nhiều nét nghĩa mới được bổ sung. Những cái mới đó là động lực,
là mầm mống cho quá trình vận động và phát triển của ngôn ngữ. Tất yếu, mọi sự vận
động và chuyển hóa, ứng dụng của ngôn ngữ diễn ra theo những đường hướng chung.
Ngôn ngữ ấy trong quá trình sử dụng tuân theo những qui tắc nhất định. Tuy nhiên
đối với mỗi cá nhân, trong giao tiếp trên cơ sở của những nguyên tắc chung, mỗi


người tùy từng hoàn cảnh, tâm trạng, mục đích, ... mà có những cách ứng xử ngôn
ngữ khác nhau.
Ngôn ngữ có quan hệ vô cùng chặt chẽ với văn hóa. Bản sắc riêng của mỗi dân
tộc cũng luôn luôn được thể hiện qua ngôn ngữ. Ngôn ngữ là nơi bảo lưu tinh thần,
văn hóa dân tộc, sức mạnh dân tộc.
Vốn từ vựng của một ngôn ngữ tàng ẩn trong thế giới quan của cả cộng đồng, đó
là một mạng câu trúc có tổ chức cao, trong đó mỗi từ riêng lẻ, trong hầu hết các

mới thực sự thực hiện các chức năng xã hội của chúng - chức năng làm công cụ tư
duy và giao tiếp. V. Humbold -nhà văn hóa lớn của nhân dân Đức, từng nói : " Ngôn
ngữ là linh hồn của một dân tộc". Nhìn vào tiếng Việt, chúng ta có thể thấy rõ dấu
vết linh hồn, tính cách của người Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của nền văn
hóa Việt Nam.
Theo chiều dài lịch sử phát triển của đất nước và con người Việt Nam, ngôn ngữ
có sự giao lưu, với các ngôn ngữ nước ngoài và có sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau
giữa ngôn ngữ các vùng miền, nhưng nhìn chung vẫn giữ những nét đặc thù riêng
biệt. Cùng nói tiếng Việt, nhưng văn hóa của mỗi vùng Bắc, Trung, Nam có những
điểm khác nhau. Cùng một khu vực miền Trung nhưng ngôn từ của người Quảng
Bình có điểm khác người Quảng Ngãi, Bình Định. Mỗi thời kỳ lịch sử lại có những
sắc thái hình thức, đặc điểm ngôn ngữ riêng.
Trong khả năng và phạm vi cho phép, chúng tôi sử dụng các ngữ liệu là các mẩu
đối thoại trong các tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại và trong khẩu ngữ. Tuy
nhiên việc thu thập, ghi chép lại những phát ngôn trong sinh hoạt hàng ngày có khó
khăn về máy móc, dụng cụ như máy ghi âm, băng từ nên sự thu thập các mẫu đối
thoại minh họa còn hạn chế. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cố gắng quan sát và ghi chép
lại ở những cuộc đối thoại trong xã giao hàng ngày, trên đài phát thanh, truyền hình,
trong phim, kịch ...
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung ở " nghi thức chào, mời, chúc
mừng của người Việt ". Mặt khác, như tên của đề tài, luận văn cũng không giới hạn
chỉ nghiên cứu các nghi thức trên ở một vùng miền cụ thể mà trên cái nhìn khái quát
theo chiều dài đất nước.


2.2.Đối tượng nghiên cứu.
Nghi thức lời nói (viết tắt : NTLN) có thể nói là một vấn đề vừa thuộc lĩnh vực
ngôn ngữ, vừa thuộc lĩnh vực giao tiếp ứng xử. Nếu xét về mặt ngôn ngữ thì tất yếu
NTLN phải tuân theo những qui định chuẩn mực của ngôn ngữ. Nếu xét về mặt giao
tiếp ứng xử thì NTLN phải tuân theo những qui định chuẩn mực của văn hóa giao

kỷ sau đó một ngành nghiên cứu mới đã ra đời, đó là : Ngữ dụng học (linguistic
pragmatics).
Ngữ dụng học là bộ môn nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, tức
là cách sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh cụ thể để đạt được những mục đích
cụ thể. Lời nói là ngôn ngữ trong hoạt động hành chức. Ngôn ngữ trong quá trình
tham gia hoạt động giao tiếp bị biến đổi ở nhiều mặt: ngữ âm, ngữ nghĩa và cả từ
vựng.
Ngữ dụng học đã mở ra cách nhìn mới, một cách nghiên cứu mới về ngôn ngữ,
đặc biệt là những hoạt động hành chức của ngôn ngữ trong đời sống. Từ 1983 với
ngòi nổ lớn là Geoffrey Leech (với cuốn "Principles of pragmatics"-Các nguyên lý
ngữ dụng), ngữ dụng học đã phát triển mạnh mẽ không chỉ về lý thuyết mà còn cả
những nghiên cứu cụ thể.
Đề tài của luận văn đề cập trực tiếp đến các nghi thức lời nói tiếng Việt. Trong
thời gian vừa qua có rất nhiều công trình nghiên cứu về vân đề này. Chẳng hạn như
Phạm Thị Thành (1995) có nghiên cứu về đề tài "Nghi thức lời nói tiếng Việt hiện đại
qua các phát ngôn : chào, cám ơn, xin lỗi" , hay Hoàng Trọng Phiến (1991) có đề cập
đến "Nghi thức lời nói tiếng Việt Nam" trong Art and Culture Studies , hay như một
số" bài nghiên cứu đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, Ngôn ngữ và đời sống của tác giả
Nguyễn Văn Lập, Chu Thị Thanh Tâm, Nguyễn Thị Lương, Hoàng Tuệ, Phạm văn
Thâu, ... Nhìn chung hiện nay chưa thấy một công trình qui mô nào đề cập trực tiếp
và đầy đủ về các nghi thức lời nói của người Việt. Các công trình nghiên cứu về ngữ
dụng học, về ngữ nghĩa và hành vi ngôn ngữ, về diễn ngôn của các giáo sư Đỗ Hữu
Châu, Diệp Quang Ban, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp, tuy chưa đi sâu vào


miêu tả về các nghi thức chào, mời, chúc mừng của người Việt nhưng cũng đã nêu
lên những vân đề lý thuyết mà chúng tôi lấy làm cơ sở.
Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa các thành tựu nghiên cứu về NTLN người Việt
của những người đi trước, luận văn sẽ khảo sát nghi thức chào, mời, chúc mừng trên
phương diện cấu trúc và trong mối liên hệ với văn hóa.

học xã hội như: thu thập tài liệu, phân tích, miêu tả, ... luận văn còn sử dụng phương
pháp có tính chất bao trùm đó là phương pháp quan sát, thống kê và hệ thống,
phương pháp ngữ nghĩa - ngữpháp - ngữ dụng.
Ngôn ngữ trong quá trình phát triển có những biến động về nhiều mặt như từ
vựng , ngữ âm ... Nghi thức lời nói là cái biến động tương đối lớn so với các hiện
tượng ngôn ngữ khác trong giao tiếp xã hội. Do vậy, trong quá trình nghiên cứu,
chúng tôi cơ bản dựa trên ngôn ngữ giao tiếp, cách sử dụng của người Việt trong giai
đoạn hiện tại (đồng đại). Từ đó, góp phần tìm hiểu, làm rõ thêm sự biến đổi mang đặc
tính xã hội hóa, dân chủ hóa và hiện đại hóa của NTLN chứ không nhằm nghiên cứu
lịch đại tức là diễn tiến phát triển của các NTLN trong từng thời kỳ lịch sử. Việc khảo
sát, thống kê giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát về sự phong phú, đa dạng của
NTLN, của ngôn ngữ và về văn hóa dân tộc trong giao tiếp. Phương pháp hệ thống
cũng giúp chúng tôi xác định vị trí của NTLN trong tiếng Việt, đó là : một thành tố
không thể tách rời của tiếng Việt, vừa thể hiện sự biến đổi và phát triển của ngôn
ngữ, vừa thể hiện văn hóa và văn hóa giao tiếp của người Việt.
5. Đóng góp của luận văn.
Nghi thức chào, mời, chúc mừng của người Việt là một vấn đề tuy không phức
tạp lắm nhưng trong nó không chỉ biểu hiện đặc điểm của ngôn ngữ mà còn biểu hiện
đặc điểm văn hóa của một dân tộc. Cách hành xử văn hóa mang tính nghi thức này
được chắt lọc, bổ sung và biến đổi theo thời gian. Xét về mặt lịch đại hay về mặt
đồng đại cũng đều có những sự cải biến phù hợp với nhu cầu giao tiếp của con người,
của tư duy, tâm lý, tập quán, phong tục.
Thực tế như phần "Lịch sử vấn đề" đã trình bày với sự ra đời của bộ môn Ngữ
dụng học thì vấn đề ngôn ngữ trong hành chức đã được các nhà ngôn ngữ học quan
tâm nhiều hơn. Ngôn ngữ khi được con người sử dụng trong lời nói, thì chúng thiên
biến vạn hóa cho phù hợp với các nhân tố cụ thể của từng hoạt động giao tiếp để


nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất. Lúc này ngôn từ mới thực sự bộc lộ
những thuộc tính và đặc điểm vốn có của chúng trong hệ thống ngôn ngữ, mới hiện

thầy cô, bạn bè, người thân, luận văn bước đầu xin được góp một cái
nhìn mang tính tổng quát về "Đặc điểm ngôn ngữ trong nghi thức
chào, mời và chúc mừng của người Việt" trong thế kỷ XX . Những
nghi thức này chỉ là một phần rất nhỏ trong hệ thống nghi thức lời nói
của người Việt, việc nghiên cứu đầy đủ hơn về diễn tiến phát triển của
các nghi thức này còn là cái đích lâu dài.


6. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần Dẩn nhập, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục ngữ
liệu trích dẫn, Danh mục thuật ngữ sử dụng trong luận văn, nội dung chính của Luận
văn gồm có :

CHƯƠNG 1:
Giao tiếp ngôn ngữ, văn hóa giao tiếp và nghi thức của lời nói.

CHƯƠNG 2:
Đặc điểm nội dung của nghi thức chào, mời, chúc mừng của người Việt.

CHƯƠNG 3:
Đặc điểm hình thức của nghi thức chào, mời, chúc mừng của người Việt.


Chương 1: GIAO TIẾP NGÔN NGỮ, VĂN HÓA GIAO TIẾP VÀ
NGHI THỨC CỦA LỜI NÓI
I. Giao tiếp ngôn ngữ.
1. Giao tiếp ngôn ngữ và vai trò của nó trong xã hội.

1.1.Bản chất của giao tiếp ngôn ngữ.
Cùng với tư duy, ngôn ngữ được hình thành trong quá trình con người đã thoát

thuật khác căn cứ vào trình độ kĩ thuật khác căn cứ vào trình độ phát triển của xã hội
cụ thể. [88, 101].
1.2.Vai trò của giao tiếp ngôn ngữ.
Con người sử dụng nhiều phương tiện khác nhau để tiến hành giao tiếp xã hội.
Cụ thể hơn, mỗi người phải có khả năng sử dụng lời nói, các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt
để giao tiếp với người khác. Trong quá trình giao tiếp, đối tượng giao tiếp cũng là đối
tượng điều khiển : tác động đến tư duy nhận thức của những người tham gia giao tiếp
từ đó chi phối việc sử dụng ngôn ngữ và các diễn ngôn.
Lời nói là hoạt động nói năng của người sử dụng ngôn ngữ như một công cụ
giao tiếp với các thành viên khác trong cộng đồng ngôn ngữ, là hình thức tồn tại của
ngôn ngữ.1 Lời nói là hành động của cá nhân, có tính chai nhất thời và luôn luôn đổi
mới. Nếu coi ngôn ngữ là một hệ thông ký hiệu tồn tại trong bộ óc của những người
cùng nói một thứ tiếng, là một cái mã chung cho cả cộng đồng ngôn ngữ thì lời nói là
sự vận dụng cái mã này của người nói và chỉ là cái biểu hiện cụ thể của cái hệ thống
ký hiệu tiềm ẩn trong bộ óc của từng người.
Lời nói là phương tiện tồn tại của ngôn ngữ. Lời nói là cái cần thiết để cho ngôn
ngữ xác lập và phát triển. Tính đa dạng, tính tự do sáng tạo của lời nói làm cho ngôn
ngữ trở thành một công cụ tinh vi, tế nhị để diễn đạt mọi tư tưởng tình cảm của con
người trong những hoàn cảnh rất khác nhau! [87, 134]
Lời nói và các yếu tố phi ngôn ngữ (như điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ...) có quan hệ
khăng khít với nhau. Chúng mang tính xã hội và được hình thành trong quá trình giao
lưu - giao tiếp xã hội. Như vậy, quá trình giao tiếp phải được xem xét trên 2 bình diện


: cá nhân và xã hội. Trong quá trình giao tiếp mỗi người phải tuân theo những nguyên
tắc nhất định mà mỗi cá nhân buộc phải tuân theo mới đạt được hiệu quả là điều
khiển được nhận thức thái độ và hành vi của người khác. Đối với mỗi cá nhân trong
từng thời điểm, từng hoàn cảnh cần có những hành vi ứng xử-giao tiếp phù hợp.1
1.3. Giao tiếp ngôn ngữ trong xã hội.
Trong thực tế của xã hội, việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp phụ thuộc vào

Những chuẩn mực giao tiếp ngôn ngữ cũng luôn biến động và có thể thay đổi
theo từng thời đại. Chẳng hạn, vào thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám trong xã hội
Việt Nam khi xưng hô những người có vị trí tháp thường dùng " bẩm" ở đầu câu
nói (Bẩm cậu, có bà Phán đến chơi ạ ! Bẩm ông, mợ cháu vừa đi khỏi ) còn ngày nay
chúng ta ít dùng như vậy mà nếu có thì thường dùng "thưa".'
Vì vậy, trong xã hội luôn vận động và phát triển như hiện nay, giao tiếp ngôn
ngữ đóng một vai trò quan trọng về mặt ngôn ngữ, văn hóa và xã hội. Nói một cách
khái quát thì giao tiếp ngôn ngữ biểu hiện cụ thể đặc trưng văn hóa, ngôn ngữ và
trình độ của phát triển văn hóa, ngôn ngữ của cá nhân và dân tộc.
2. Các nhân tố giao tiếp và hai quá trình trong hoạt động giao tiếp.

2.1. Các nhân tố giao tiếp.
Một quá trình giao tiếp phải hội tụ đầy đủ những điều kiện thông tin cần thiết thì
mới diễn ra. Kết quả nghiên cứu của nhiều công trình về ngôn ngữ học nói chung và
ngữ dụng học nói riêng (như Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu,...
) quá trình giao tiếp có năm nhân tố cơ bản là : hoàn cảnh giao tiếp, nhân vật giao
tiếp, hiện thực được nói tới (nội dung, vấn đề, đối tượng được đề cập), phát ngôn
(ngôn bản) , ngôn ngữ được sử dụng.
- Hoàn cảnh giao tiếp : là nơi chốn, thời gian, điều kiện trong đó cuộc giao tiếp
diễn ra. Có hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp. Hoàn cảnh giao tiếp
rộng là hoàn cảnh xã hội, lịch sử, địa lý, ...chung của dân tộc, quốc gia. Hoàn cảnh
giao tiếp hẹp là nơi chốn cụ thể, thời gian cụ thể trực tiếp trong đó cuộc giao tiếp
được thực hiện.


- Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn
ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau. Đó
là những người tương tác bằng ngôn ngữ. Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai
giao tiếp và quan hệ liên cá nhân
Trong giao tiếp luôn có sự phân vai: vai người nói (người viết - là vai tạo ra văn

ngữ cảnh. Đây là những nhân tố nằm ngoài ngôn bản (diễn ngôn) nhưng có vai trò
quan trọng trong việc tác động và ảnh hưởng, chi phối đến nội dung ngôn bản (diễn
ngôn).
2.2.Hai quá trình trong hoạt động giao tiếp.
a) Chức năng giao tiếp.
Xuất phát từ nhu cầu trao đổi mà con người tiến hành giao tiếp. Trong giao tiếp
các nhân vật tác động lẫn nhau. Giao tiếp là tương tác (interaction) giữa các nhân vật
giao tiếp. Vậy, giao tiếp có những chức năng gì và cái gì xác định đích của giao tiếp ?
Theo các nhà ngôn ngữ học (như Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban), giao tiếp có các
chức năng sau đây :
- Thông tin (còn gọi là chức năng thông báo) : Khi giao tiếp, nhân vật giao tiếp
thu nhận được những hiểu biết, những tri thức mới về thế giới khách quan.
- Tạo lập quan hệ : Qua giao tiếp quan hệ liên cá nhân thay đổi. Có thể qua
giao tiếp những quan hệ thân hữu giữa người với người được xây dựng, bồi đắp hoặc
mất đi.
- Biểu hiện (còn gọi là chức năng biểu lộ) : Giao tiếp giúp con người bày tỏ
được suy nghĩ, tình cảm, cá tính, nhân cách, thái độ, quan điểm, ..V.V.. đối với
những vấn đề được nói tới, đối với mọi người.
- Giải trí : Giao tiếp giúp con người được trao đổi, trò chuyện với nhau, giúp
mọi người tiêu khiển, giải toa những bức xúc, thư giãn đầu óc vơi nhẹ tâm hồn. Giao
tiếp bằng lời là một hình thức giải trí cần thiết mà ai cũng có thể sử dụng.
- Hành động : Thông qua giao tiếp chúng ta thực hiện hành động và thúc đẩy
nhau hành động.


Các chức năng trên được thực hiện đồng thời trong quá trình giao tiếp. Tuy vào
mục đích giao tiếp, hoàn cảnh mà chức năng này là chủ yếu và chức năng kia là thứ
yếu hoặc ngược lại.
Như vậy nhân tố đầu tiên tạo lập văn bản là ngôn ngữ. Ngôn ngữ tạo nên các
ngôn bản (văn bản). Nội dung của các ngôn bản đó sẽ tác động đến người nghe để
Trích đoạn Quan hệ giao tiếp (vai xã hội và vai giao tiếp) Lý thuyết về hànhđộng ngôn từ Các đác trưng cơ bán trong văn hóa giao tiếp của người Việt Đặc trưng cơ bản trong giao tiếp của người Viêt Khái niệm nghi thức lời nói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status