TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
LẠI THỊ THU THANH
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG THƠ
HỒ XUÂN HƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
LẠI THỊ THU THANH
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG THƠ
HỒ XUÂN HƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. ĐỖ THỊ THU HƯƠNG
Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn trách
nhiệm về nội dung.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Lại Thị Thu Thanh
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Lý do lựa chọn đề tài ..................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 5
6. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 5
7. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
8. Bố cục khóa luận ........................................................................................... 6
B. NỘI DUNG................................................................................................... 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ............................................................................ 7
1.1. Các bình diện của ngôn ngữ ....................................................................... 7
1.1.1. Bình diện ngữ âm................................................................................. 7
1.1.2. Bình diện từ vựng ................................................................................ 7
1.1.3. Bình diện ngữ pháp .............................................................................. 8
1.1.4. Bình diện phong cách .......................................................................... 9
1.2. Đặc điểm của ngôn ngữ văn chương ........................................................ 10
1.2.1. Khái niệm tác phẩm văn chương ....................................................... 10
1.2.2. Các đặc điểm của ngôn ngữ văn chương ........................................... 11
1.3. Vài nét về nhà thơ Hồ Xuân Hương ........................................................ 15
1.3.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương ....................... 15
1.3.2. Một số đặc điểm thơ Hồ Xuân Hương .............................................. 18
năng nghệ thuật lừng danh như thi hào Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… Hơn thế
nữa, tên tuổi của nữ sĩ họ Hồ còn vượt ra khỏi biên giới quốc gia để sánh vai
cùng các thi sĩ đại tài nổi tiếng trên thế giới khi thơ bà được chọn và dịch ra
nhiều thứ tiếng nước ngoài. Hồ Xuân Hương xuất hiện trên thi đàn như một
thứ ánh sáng khác lạ, không bị hòa lẫn với những ánh sáng thông thường bởi
sự mới lạ, độc đáo, mang chất riêng mà chỉ có ở nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Có thể nói Hồ Xuân Hương có một phong cách rất riêng, rất độc đáo và
vô cùng tài hoa. Vì thế mà từ trước đến nay khó có nhà thơ nữ nào vượt qua
tên tuổi của bà. Phong cách thơ của Hồ Xuân Hương không thể lẫn với bất kì
nhà thơ nào khác, thơ Hồ Xuân Hương chiếm một vị trí đặc biệt trong lòng
người đọc, làm say mê, rung động biết bao thế hệ.
Mặc dù sự nghiệp sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương không mấy đồ sộ so
với các sáng tác của một số nhà thơ đương thời. Sáng tác của bà chủ yếu là
mảng thơ Nôm truyền tụng, ngoài ra còn có các tập Lưu Hương kí, Xuân
Hương đàm thoại…
Tìm hiểu thơ Hồ Xuân Hương chúng tôi rất ấn tượng với thơ của bà, một
hồn thơ dung dị, đời thường, dễ hiểu, dễ nhớ và mang đậm âm hưởng, màu
sắc của văn hóa dân gian. Đọc thơ của bà, người đọc dễ có sự cảm mến và
đồng cảm sâu sắc với nhà thơ bởi một cuộc đời éo le, bất hạnh, nhiều gian
truân, ngang trái.
1
Thơ Hồ Xuân Hương luôn là nguồn cảm hứng dồi dào, bất tận khơi gợi
hứng thú cho các nhà nghiên cứu khoa học đi sâu tìm hiểu, khám phá và
nghiên cứu thơ của bà. Với những nét độc đáo đó, thơ Hồ Xuân Hương đã
được giới nghiên cứu khai thác ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Thơ
Nôm của Hồ Xuân Hương được nghiên cứu dưới góc độ phê bình văn học,
tiếp nhận văn học, nhiều khuynh hướng như phân tâm học, xã hội học, văn
Đặc trưng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương là một đề tài có rất ít các
công trình nghiên cứu.
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương trên
phương diện ngôn ngữ.
Tác giả Đỗ Đức Hiểu trong “Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương” in
trong cuốn Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm, Nxb GD (2003) đã nhận
xét: “...Nghệ thuật ngôn từ là một cơ thể sống phức tạp, vận động, nhiều âm
thanh, nhiều màu sắc: mỗi tiếng là một “con kỳ nhông”, đứng chỗ này thì màu
xanh, đứng chỗ khác thì màu nâu, hoặc vàng úa. Thơ là một thể loại thật kỳ
ảo. Nhà thơ nói một sự việc, bài thơ mang một ý nghĩa khác...Đó là những
điệp trùng của tiếng của câu, của các hệ thống đồng nghĩa, phản nghĩa, ẩn
dụ...nhằm diễn đạt ý tưởng (tình cảm, suy tư...) dưới nhiều dạng, ngày càng
cao, càng sâu. Cho nên, có thể thấy chiều cao và chiều sâu ấy là một đặc trưng
của thơ...” [18,389].
Đặng Thanh Hòa trong bài viết “Thành ngữ và tục ngữ trong thơ Nôm
Hồ Xuân Hương” in trong tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 4 (2001), đã nhận
xét như sau: “Người ta thường bảo “nôm na là cha mánh khóe” thế nhưng đến
với thơ Hồ Xuân Hương thì đó là một ngoại lệ, bởi vì người đọc nhớ đến Hồ
Xuân Hương, yêu Xuân Hương lại chính từ cái “mánh qué” ấy. Nếu không có
chất “nôm na”, “mánh qué”, “xỏ xiên” đầy tinh quái này thì có lẽ đã không có
một Hồ Xuân Hương để cho người đời chiêm ngưỡng và tôn vinh bà thành bà
chúa thơ Nôm trong làng thơ Việt Nam. Chính cái chất nôm na trong thơ của
3
bà đã tạo nên một chất men xúc tác mãnh liệt trong lòng người đọc. Người ta
ngây ngất, hỉ ha, khoái trá với cái thứ ngôn ngữ “nhà quê”, “mánh qué”... Tất
cả những cái đó hoàn toàn xa lạ với sự chau chuốt, gọt giũa, khuôn sáo mà
người ta thường bắt gặp trong ngôn ngữ thơ” [10,22].
những hướng nghiên cứu mang lại nhiều giá trị nghệ thuật đồng thời thấy
được tài năng, sự sáng tạo trong cách sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ.
3. Mục đích nghiên cứu
Từ việc phân tích những đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương,
khóa luận nhằm khẳng định những sáng tạo độc đáo, mới lạ của Hồ Xuân
Hương trên phương diện ngôn từ. Những sáng tạo đó góp phần làm cho tiếng
Việt trở nên giàu đẹp, phong phú và sinh động hơn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp những vấn đề lý thuyết.
- Khảo sát những đặc điểm ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương.
- Phân tích, miêu tả những sáng tạo của Hồ Xuân Hương trên phương
diện ngôn từ.
5. Đối tượng nghiên cứu
Sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương tuy không nhiều so với nhiều nhà thơ
cùng thời. Tuy nhiên, trong đó mảng thơ Nôm là mảng thơ sáng tác chủ yếu
và có nhiều đặc sắc hơn cả. Chính vì lẽ đó mà khóa luận tập trung, xoáy sâu
vào đối tượng là thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương.
6. Phạm vi nghiên cứu
Vì là thơ Nôm truyền tụng nên vẫn xuất hiện một số dị bản thơ. Cho nên
hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất trong giới nghiên cứu. Qua tham khảo và
tuyển chọn, chúng tôi chủ yếu khảo sát những bài thơ Nôm trong cuốn “Hồ
Xuân Hương thơ và đời” - Lữ Huy Nguyên, NXB văn học, 2012. (in lần thứ
sáu).
5
7. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê phân loại. Phương pháp này được sử dụng
sự kiện ngôn điệu như: thanh điệu, trọng âm. Do đó có người gọi nó là điệu vị.
Cấu tạo của một âm tiết tiếng Việt ở dạng đầy đủ nhất gồm 5 thành tố và
mỗi thành tố có một chức năng riêng. Thanh điệu có tác dụng khu biệt âm tiết
về cao độ: hoa - hòa; âm đầu có những cách mở đầu âm tiết khác nhau (tắc,
xát, rung), có tác dụng khu biệt âm tiết: hoa - khoa; âm đệm có tác dụng biến
đổi âm sắc của âm tiết sau lúc mở đầu, có chức năng khu biệt các âm tiết:
khoán - khán; âm chính mang âm sắc chủ đạo của âm tiết và là hạt nhân của
âm tiết: túy - túi; âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết với nhiều cách khác
nhau làm thay đổi âm sắc của âm tiết và do đó để phân biệt âm tiết này với âm
tiết khác: màn - mài.
1.1.2. Bình diện từ vựng
Từ vựng là tập hợp các từ và các đơn vị tương ứng với từ của một ngôn
ngữ. Nó tập trung nghiên cứu các từ và các đơn vị tương đương với từ (cụm
7
từ cố định, thành ngữ, quán ngữ) trong các ngôn ngữ. Tuy nhiên trong các
đơn vị từ vựng, từ là đơn vị cơ bản.
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn
chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời
nói để tạo câu. Từ được phân loại theo các tiêu chí khác nhau. Theo đặc điểm
cấu tạo thì từ gồm: từ đơn, từ ghép và từ láy.
Từ đơn là những từ được cấu tạo bằng một hình vị như: nhà, xe, bàn,...
Từ ghép là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau
dựa trên quan hệ ý nghĩa. Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể
chia từ ghép thành từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ.
Xét về nghĩa thì từ gồm từ đơn nghĩa và từ đa nghĩa. Từ đơn nghĩa là từ
chỉ có một nghĩa. Từ đa nghĩa (hay còn gọi là từ nhiều nghĩa) là những từ có
một số nghĩa biểu thị những đặc điểm, thuộc tính khác nhau của một đối
là câu đơn đặc biệt (ví dụ: trời nắng - câu đơn).
Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại (thường là hai vế), mỗi vế câu
thường có cấu tạo giống câu đơn và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý
của những câu khác. Câu ghép bắt buộc phải có hai cụm chủ - vị trở lên. Hai
vế của câu ghép được nối với nhau bằng nhiều cách. Nhưng cơ bản nhất là nối
trực tiếp, nối bằng quan hệ từ và cặp từ hô ứng (ví dụ: mây đen kéo đến và gió
mỗi lúc càng giật mạnh hơn). Câu ghép còn được chia làm câu ghép đẳng lập
và câu ghép chính phụ.
Câu phức là loại câu có từ hai kết cấu chủ - vị trở nên, mỗi kết cấu chủ vị được gọi là mệnh đề. Tùy theo quan hệ giữa các mệnh đề mà ta có phân
biệt các loại câu phức như: câu phức đẳng lập và câu phức phụ thuộc.
1.1.4. Bình diện phong cách
Bình diện phong cách hay chính là phong cách chức năng của văn bản.
Tức là việc thực hiện những chức năng khác nhau, do được sử dụng trong các
lĩnh vực xã hội hoặc những giới nghề nghiệp khác nhau, dần dần hình thành
9
những phong ngôn ngữ khác nhau. Chẳng hạn, phong cách ngôn ngữ khoa
học, phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong
cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn
ngữ báo chí.
Bình diện phong cách còn nghiên cứu các biện pháp tu từ tiếng Việt.
Biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt ở một đơn vị ngôn
ngữ nào đó (từ, câu, văn bản) trong một ngữ cảnh cụ thể nhằm tạo ra những
hiệu quả nhất định với người đọc, người nghe như ấn tượng về một hình ảnh,
một cảm xúc, một thái độ,… So với việc sử dụng ngôn ngữ thông thường thì
việc sử dụng biện pháp tu từ sẽ tạo nên những giá trị đặc biệt trong biểu đạt
và biểu cảm. Trong một văn bản nghệ thuật có thể sử dụng một hoặc nhiều
biện pháp tu từ khác nhau để khai thác sức mạnh nghệ thuật mà nó đem lại
ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ
trong tác phẩm nghệ thuật được thể hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ (tức đặc
trưng ngữ nghĩa và đặc trưng âm thanh) trở thành yếu tố tạo thành của hình
tượng. Muốn thực hiện được chức năng thẩm mĩ, ngôn ngữ nghệ thuật phải có
được những đặc trưng chung: tính chính xác, tính hàm súc, tính hình tượng,
tính cá thể hóa, tính hệ thống.
1.2.2.1. Tính chính xác
Tính chính xác là miêu tả một cách chính xác, chân thật sự vật, hiện
tượng ngoài đời sống hiện thực.
Ví dụ: tác giả Tản Đà từng cân nhắc khi sử dụng từ “tuôn” và từ “khô”
trong câu thơ: Suối khô dòng lệ chờ mong bao ngày. Và tác giả đã quyết định
sử dụng từ “khô” vì ý sâu hơn, chính xác hơn, phù hợp với nội dung và có giá
trị biểu cảm cao, giàu sức gợi hơn. Cả hai từ nếu thay vào câu thơ đều nói lên
nỗi nhớ khôn nguôi, mòn mỏi nhưng khi dùng từ “khô” ta thấy nỗi nhớ mong,
chờ đợi ấy lên đến đỉnh điểm, con suối vì thương nhớ tháng ngày mà khóc
cạn cả nước mắt.
11
Tính chính xác là yêu cầu đầu tiên của việc sử dụng ngôn ngữ văn học.
Muốn miêu tả một mảng hiện thực nào đó hay biểu hiện những cảm nghĩ của
bản thân về một sự vật, hiện tượng nào đấy, nhà văn nói theo Maiacôpxki:
“Phải từ hàng ngàn tấn quặng từ tinh luyện chọn ra một từ để câu thơ, câu văn
đạt được hiệu quả nghệ thuật cao nhất” hay theo M. Gorki: “Ngôn ngữ của tác
phẩm phải gẫy gọn, chính xác, từ ngữ phải được chọn lọc kĩ càng. Chính các
tác giả cổ điển viết ngôn ngữ như vậy đã kế tục nhau trau dồi nó từ thế kỉ này
sang thế kỉ khác”.
Viết văn phải dùng từ chính xác mới tái hiện và tái tạo sự vật, hiện
tượng; miêu tả đúng cảnh vật; khắc họa đúng hình dáng, cá tính, tâm lý nhân
xuất hiện ở người đọc những hình ảnh, màu sắc, biểu tượng… được nói đến
trong văn bản để người đọc dùng vốn tri thức, vốn sống của mình liên tưởng,
suy nghĩ, rút ra bài học nhân sinh.
Ví dụ: trong bài ca dao:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Bài ca dao trên nói về hình tượng cây sen thông qua những hình ảnh,
chi tiết cụ thể như: lá xanh, bông trắng, nhị vàng. Hơn nữa, bao trùm lên tất cả
hình tượng hoa sen như một tín hiệu thẩm mĩ về phẩm chất thanh cao, đẹp đẽ
trong tự nhiên và cả trong xã hội loài người.
Tính hình tượng theo nghĩa rộng nhất có thể xác định là thuộc tính của
lời nói thơ (lời nói nghệ thuật) truyền đạt không chỉ thông tin logic mà còn cả
thông tin được tri giác một cách cảm tính nhờ hệ thống những hình tượng
ngôn từ.
Nhà văn phản ánh hiện thực và thế giới nội tâm bằng tư duy hình tượng
nên mượn ngôn ngữ hình tượng để xây dựng hình tượng nghệ thuật trong tác
13
phẩm nghệ thuật. Hình tượng không mang tính trừu tượng mà mang tính cụ
thể.
Tính hình tượng gắn với tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính chính xác và
tính biểu cảm trong ngôn ngữ văn học.
1.2.2.4. Tính cá thể hóa
Tính cá thể là cái riêng, là khả năng sáng tạo giọng điệu riêng, phong
cách riêng của mỗi nhà văn. Biểu hiện của tính cá thể được thể hiện ở đặc
điểm ngôn ngữ riêng của nhà văn và đặc điểm ngôn ngữ khi miêu tả người và
Ta nhận thấy đoạn thơ trên mang âm hưởng chủ đạo là niềm vui say, náo
nức của tác giả trước sự hồi sinh của dân tộc trong đất trời mùa thu. Điều đó
được thể hiện qua một loạt những từ ngữ như: vui nghe, phấp phới, áo mới,
nói cười, thiết tha,…
1.3. Vài nét về nhà thơ Hồ Xuân Hương
1.3.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nữ nổi tiếng nhất thời kì
văn học trung đại Việt Nam cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, bà được nhà
thơ Xuân Diệu vô cùng ái mộ và mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”. Cuộc đời
và con người Hồ Xuân Hương chủ yếu truyền bằng giai thoại và sách.
Đối với người Việt Nam, từ xưa và đến cả thời điểm hiện tại tên tuổi
của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương quen thuộc không kém bất cứ nhà thơ nào.
Nhưng điều đáng tiếc về cuộc đời của bà chúng ta còn biết quá ít, và những
điều đã biết thì lại chưa được rõ ràng và chưa lấy gì làm chắc chắn. Bởi lẽ, khi
nhắc đến Hồ Xuân Hương thì đây còn là một vấn đề còn bỏ ngỏ, xoay quanh
vấn đề Hồ Xuân Hương còn nhiều dấu chấm hỏi chưa được giải đáp một cách
thỏa đáng, rõ ràng nên cần tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu. Hiện nay vẫn chưa
một ai có thể khẳng định chắc chắn năm sinh, năm mất của bà và nếu có thì
cũng chỉ là phỏng đoán.
15
Từ những gì tìm hiểu được, chúng tôi nhận thấy một số điểm chung như
sau: thân phụ Hồ Xuân Hương là người xứ Nghệ lấy cô gái xứ Bắc họ Hà làm
vợ lẽ. Cuộc đời của Hồ Xuân Hương gắn bó sâu sắc với mảnh đất Thăng
Long. Thuở nhỏ Hồ Xuân Hương ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận
gần Hồ Tây. Tại đây, Hồ Xuân Hương được mẹ cho học hành. Sau đó gia
đình rời về thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xuân (nay là phố Lý
Quốc Sư, Hà Nội). Hồ Xuân Hương có một ngôi nhà riêng bên Hồ Tây lấy tên
sở dựa vào sự thống nhất về phong cách, các nhà nghiên cứu cho rằng có
khoảng trên dưới bốn mươi bài thơ chữ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân
Hương.
Có lẽ giờ đây ít người còn nghi ngờ Lưu Hương kí không phải là còn của
Hồ Xuân Hương mặc dù Lưu Hương kí có một phong cách khác hẳn thơ Nôm
truyền tụng. Lưu Hương Kí là tập thơ có nội dung tình yêu gia đình, đất
nước, nó không thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ, táo bạo của Hồ Xuân Hương
như ở thơ Nôm. Tiếng nói tình yêu trong Lưu Hương kí là tiếng nói tình yêu
của một con người với các cung bậc buồn, nhớ thương, ước nguyện gắn bó
thủy chung. Hơn nữa tiếng nói tình yêu trong Lưu Hương kí có lúc là lời tự
thoại và có lúc là lời đối thoại qua hình thức xướng họa có lúc thật sâu lắng,
nhẹ nhàng song nhiều khi cũng không kém phần táo bạo. Về mặt nghệ thuật,
dù là hình thức Đường luật hay thể cách luật có phần tự do thì những bài thơ
trong Lưu Hương kí vẫn có những nét chung là mực thước và tao nhã. Lưu
Hương kí mang dáng dấp của nhiều áng thơ cổ, điều đó dường như đã gói Hồ
Xuân Hương vào một thế giới nhỏ hơn, vào một “không gian” hẹp hơn.
Không gian ấy với Hồ Xuân Hương không thỏa sức để bà vùng vẫy, thỏa mãn
tính cách con người bà. Ở không gian thơ ấy cái tôi, cái cá tính mạnh mẽ, độc
đáo của bà không được thể hiện rõ. Cho nên, việc nghiên cứu giá trị thơ Hồ
Xuân Hương chủ yếu được thực hiện trên những bài thơ Nôm truyền tụng của
bà.
17
Nói tóm lại, mặc dù sự nghiệp sáng tác của nhà thơ không mấy đồ sộ, số
lượng tác phẩm để lại cũng không nhiều nhưng với tài năng, cá tính độc đáo
của một thiên tài kỳ nữ bậc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, Hồ Xuân
Hương đã khiến những tác phẩm của mình mãi trường tồn với thời gian và
sống mãi trong lòng độc giả cả trong và ngoài nước. Thơ của bà đã được dịch
chiếc bánh trôi thành sự gợi lên vẻ đẹp hình thức của người phụ nữ, một vẻ đẹp
tròn đầy, xinh xắn, duyên dáng, đầy phúc hậu “vừa trắng lại vừa tròn”. Cụm từ
“tấm lòng son” thường hay nói về tấm lòng thủy chung, son sắt đã chuyển từ đặc
điểm bánh trôi (bánh có nhân đường đỏ bên trong) thành biểu tượng cho vẻ đẹp
phẩm chất tâm hồn. Ở người phụ nữ, “tấm lòng son” là hệ số bất biến trong cái
nghịch biến của cuộc đời. Cho dù cuộc sống có nhiều khó khăn, sóng gió vùi dập
thân phận “bảy nổi ba chìm” thì cũng không thể làm mất đi những vẻ đẹp tâm
hồn, tấm lòng thủy chung của người phụ nữ Việt.
Khi viết về người phụ nữ Hồ Xuân Hương luôn hướng về những đau khổ
riêng của giới mình. Đối tượng mà bà lên tiếng cảm thương, bênh bực là
những người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, khổ đau, bất hạnh: người con gái
“cả nể cho nên hóa dở dang”, người phụ nữ “lấy chồng chung”, người đàn bà
chồng chết… Nhà thơ đồng cảm, thấm thía với cả nỗi khổ vật chất lẫn tinh
thần của người phụ nữ, nhưng sâu sắc hơn là nỗi khổ về tinh thần.
Hồ Xuân Hương đã mượn hình ảnh bánh trôi nước để nói về thân phận
của người phụ nữ:
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
(Bánh trôi)
Tác giả đã vận dụng thành công thành ngữ đảo “bảy nổi ba chìm” và hai
chữ “nước non” đã chuyển nghĩa tả thực (cách luộc bánh trôi) thành nghĩa
ngụ ý (chỉ thân phận người phụ nữ). Câu thơ gợi lên sự long đong, gian truân
19