Một số đặc điểm ngôn ngữ trong hồi kí tô hoài - Pdf 32

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờng đại học vinh
-----------***------------

Lê thị ninh

Một số đặc điểm ngôn ngữ trong
hồi ký tô hoài
Chuyên ngành: lý luận ngôn ngữ
Mã số

:

60.22.01

Luận văn thạc sĩ ngữ văn

Ngời hớng dẫn khoa học:
pgs. Ts. Phan mậu cảnh

Vinh - 2008

1


Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tô Hoài là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học
Việt Nam hiện đại. Ông vào nghề từ tuổi 20, nay ông đã ở tuổi 88. Gần 70
năm cầm bút, Tô Hoài đã có mặt đều đặn trên văn đàn, góp vào kho tàng văn
học dân tộc một khối lợng tác phẩm khá đồ sộ, với trên 160 đầu sách. Nói

đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm của Tô Hoài. Điểm lại
những công trình nghiên cứu, những bài viết về nhà văn, chúng tôi thấy các
nhà nghiên cứu đã tập trung vào hai hớng tiếp cận chủ yếu: đó là những
đánh giá mang tính tổng quan và những ý kiến cụ thể về từng tác phẩm ký
của Tô Hoài.
2.1. Những bài nghiên cứu tổng quan về các sáng tác của Tô Hoài
Với khối lợng tác phẩm đồ sộ trên nhiều thể loại v đề cập đến
nhiều phơng diện của hiện thực đời sống, sáng tác của nhà văn đã thực sự
trở thành đối tợng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phê bình văn học
trong và ngoài nớc.
Nhà nghiờn cu Vũ Ngọc Phan là ngời đầu tiên giới thiệu Tô Hoài từ
những năm 1942. Trong hồi ký văn học của mình, Vũ Ngọc Phan đã đa ra
cảm nhận đầu tiên khi gặp Tô Hoài: ở tài năng trẻ này, tôi yêu cái tính cẩn
thận về hành văn, dùng chữ. Anh có một lối riêng trong cách đặt câu và có
con mắt nhìn ngời địa phơng mình một cách dí dỏm, châm biếm, nhng vẫn
đợm tình thơng mến. Trong nghề văn, thấy ai mới vào nghề mà có năng
khiếu, dầu ít học, tôi cũng mến, vì ít học thì có thể học đợc, chứ không có
năng khiếu thì không thể trở thành nhà văn đợc [59, 514].
Sau này trong cụng trỡnh Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nhận định:
ông tỏ ra là một nhà tiểu thuyết có con mắt quan sát sâu sắc[88, 53];
Phải là một nhà văn có tài quan sát lại sống gần gũi ngời dân quê mới viết
đợc cái xã hội ấy Từ ngôn ngữ, cử chỉ, thói tục cho đến những cảnh sinh

3


hoạt của những ngời dân quê sống về nghề dệt ở vùng Bởi, Tô Hoài đều đã
tả với một nghệ thuật chân xác [88, 58].
GS. Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Khải luận ca cun Tổng tập
văn học Việt Nam, tp 30A đã khẳng định: Nhà văn có một năng khiếu

và t tởng tác phẩm. Câu văn của Tô Hoài hoàn toàn mới mẻ [22, 140].
Còn PGS. TS. Nguyễn Đăng Điệp trong bài vit Tô Hoài, sinh ra
để viết đã khái quát: Cái nhìn không nghiêm trọng hoá là nét trội trong
cảm quan nghệ thuật của Tô Hoài [18, 113]. Cũng đồng tình với quan
điểm ấy, GS. TS. Trần Đăng Suyền trong bài Khái quát về trào lu văn học
hiện thực phê phán 1930-1945 viết: Truyện ngắn và tiểu thuyết của Tô
Hoài dờng nh vắng bóng những xung đột xã hội gay gắt. Nhãn quan hiện
thực đời thờng và nhãn quan phong tục của ông đặc biệt nhạy cảm và tinh
quái khi phát hiện những chi tiết xoàng xĩnh, nhếch nhác, đời thờng của
những bức tranh phong tục đậm đà phong vị và màu sắc của thôn quê. Tô
Hoài có biệt tài quan sát sắc sảo, hóm hỉnh, tinh tế, nhất là về thế giới loài
vật [110, 135].
TS. Võ Xuân Quế trong bài viết Ngôn ngữ một vùng quê trong các
tác phẩm đầu tay của Tô Hoài in trờn Tạp chí văn học, số 5/1990 đa ra
những nhận xét: Đến với nghề văn từ trong thực tế cuộc sống lao động của
ngời dân nên Tô Hoài luôn luôn có ý thức học tập lời ăn tiếng nói hàng
ngày của ngời lao động để đa vào tác phẩm [91, 18].
Đặc biệt với văn phong, giọng điệu, ngôn ngữ của Tô Hoài, Phan Cự
Đệ trong Nhà văn Việt Nam 1945-1975 nhận xét: Tô Hoài đã chú ý học
tập ngôn ngữ nghề nghiệp và ngôn ngữ địa phơng Trong tác phẩm của Tô
Hoài, nhìn chung ngôn ngữ của quần chúng đã đợc nâng cao, nghệ thuật
hoá. Anh đã trải qua một quá trình lao động ngôn ngữ khá công phu nhất là
về mặt trau dồi cú pháp và hình tợng ngôn ngữ. Tô Hoài không đặt câu, tổ
chức kiến trúc câu theo một kiểu sẵn có, một công thức sẵn có [17, 702].

5


GS. Phong Lê trong bài viết: Tô Hoài - 60 năm viết đã tổng kết:
Nhìn chung với 60 năm viết, dẫu trong sôi nổi hoặc trong trầm lắng của d

Cỏ dại - cun hồi ký đầu tiên của Tô Hoài ra đời năm 1942 mặc dầu
không gây đợc tiếng vang nh các tập hồi kỳ sau này, song cũng đợc đánh dấu
bằng ý kiến nhà báo nhà nghiên cứu Võ Xuân Quế trong bài Ngôn ngữ một
vùng quê trong các tác phẩm đầu tay của Tô Hoài, Tạp chí văn học số
5/1990: Mặc dầu còn có một vài hạn chế nhất định về t tởng, song nó đã vẽ
lên đợc một bức tranh chân thực về một vùng quê ngoại thành Hà Nội. Đó là
cảnh sống nghèo khó, khốn khổ cùng cực, những phong tục tập quán cổ hủ với
những tâm tình u uất của ngời thợ thủ công Nghĩa Đô trớc cách mạng Tô
Hoài đã miêu tả thành công các mối quan hệ gia đình, bạn bè, trai gái, làng
xóm ở thôn quê Chính vì vậy trong nhiều tác phẩm ông sử dụng rất thành
công nhiều từ ngữ, nhiều lối nói của địa phơng [91, 18]. Nh vậy, Cỏ dại là
cuốn hồi ký đầu tiên đánh dấu bớc trởng thành về văn phong của Tô Hoài.
PGS. TS. Vân Thanh trong bài Tô Hoài qua Tự truyện, Tạp chí văn
học, s 6/1980 khẳng định: Sau Cỏ dại, Giăng thề, Nhà nghèo những
năm 70 Tô Hoài lại tiếp tục bổ sung để có Tự truyện nh hôm nay. Theo tôi,
nói Tô Hoài trong phần đặc sắc của ông là nói về mảng đề tài miền núi nh
ta đã thấy: nhng đến hôm nay không thể không nói đến phần ký ức tuổi thơ
và tuổi thanh niên của ông mà Tự truyện là một minh chứng đầy thuyết
phục [102, 403].
GS. Hà Minh Đức trong lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài thì nhận
xét tổng quan về hồi ký Tô Hoài: Hồi ký của Tô Hoài là dòng hồi tởng
chân thực với cách giới thiệu chắt lọc những sự việc tiêu biểu trong quá
khứ. ông tôn trọng và tạo đợc niềm tin ở bạn đọc. Ông không bịa đặt thêm
thắt vào những sự việc đã xảy ra trong quá khứ và biết tôn trọng tính xác

7


thực của ngời và việc. Ông biết giữ đúng mức mối quan hệ riêng chung. Nói
về mình, đó là điều tự nhiên, nhng mục đích của hồi ký, tự truyện của nhà

tuyệt! Bây giờ qua Tô Hoài, chúng tôi đợc nhìn gần - một khoảng cách
khá tàn nhẫn, nhng chính vì thế mà chân thực và sâu sắc [59, 413].
Trần Đình Nam trong bài viết Nhà văn Tô Hoài, Tạp chí văn học số
9/1995 lại viết: ở tuổi 72 ông hiến cho độc giả một Cát bụi chân ai mà với
nó, ông trở thành nhà văn thợng thặng trong thể hồi ký. Cha nói đến đóng
góp về nghệ thuật viết hồi ký, đến cái chất Tô Hoi rất đặc biệt trong cuốn
sách này, riêng phần t liệu đã là vô giá. Nếu Tô Hoài sống để dạ chết mang
theo không kể lại những câu chuyện sau đây ra thì bạn đọc sẽ thiệt thòi
lắm Cát bụi chân ai có lối hành văn thật tự nhiên, biến hoá phức tạp một
cách thú vị. Phải là một nhà văn bậc thầy mới viết đợc những trang đẹp đẽ
nhờng ấy [75, 168].
GS. Phong Lê trong bài Tô Hoài- 60 năm viết có những nhận xét thiên
về ấn tợng đối với cuốn hồi ký này: Đọc Cát bụi chân ai rồi đọc Chiều
chiều ngời đọc luôn luôn đợc cuốn hút bởi những gì mới mẻ, không trùng
lặp, không nhạt mờ, không kém sút trong cái kho kỉ niệm của nhà văn.
Chẳng lên giọng, cũng không cần phải ra bộ khiêm nhờng, Tô Hoài cứ tự
nhiên mà kể về những gì mình đã biết, đã trải. Trên cái kho ít thấy giấu hiệu
vơi cạn đó, Tô Hoài cứ nhẩn nha dắt bạn đọc cùng đi với mình, đến với
những gì lạ mà quen hoặc quen mà lạ. Và chính với khả năng hoán đổi vị
thế ấy mà làm nên sức hút của văn hồi ức Tô Hoài [59, 41].
PGS. TS. Đặng Thị Hạnh với bài viết: Viết về một cuộc đời và những
cuộc đời (cấu trúc thời gian và ngôn từ trong Cát bụi chân ai) cũng đã nêu
khái quát đợc những nét độc đáo về kết cấu cũng nh ngôn từ trong Cát bụi
chân ai: Dòng hoài niệm trong cát bụi chân ai chạy lan man, rối rắm nh
36 phố phờng, thời gian hồi tởng nh ngẫu hứng cũng chạy lông bông
nh dòng hoài niệm sắc thái ngôn từ thật đa dạng [31, 417].

9



-

Cát bụi chân ai (1990)

-

Những gơng mặt - chân dung văn học (1998)
Đợc in trong tuyển tập Hồi ký Tô Hoài (2005)

10


Ngoài những tác phẩm trên, chúng tôi có tham khảo một số tác phẩm
khác:
-

Chiều chiều

-

Sổ tay viết văn

-

Một số kinh nghiệm sáng tác của tôi.
4. Nhiệm vụ, phơng pháp nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.1 Khảo sát, tìm hiểu những đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật nổi bật

trong Hồi ký Tô Hoài.

thời sự, giàu biểu cảm, nhạy bén kịp thời, ký là một hình thức biểu hiện của
cuộc sống trong trạng thái trôi chảy vận động và đã phát huy đợc sức mạnh
của thể loại vào những khúc quanh, bớc ngoặt của lịch sử, thời đại. Chính vì
vậy, trong đời sống văn học Việt Nam hiện đại, so với các thể loại khác nh
tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, thơ, thì ký là loại gây nhiều tranh cãi bàn luận
về những vấn đề liên quan đến nó nhiều nhất.
Ngay từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX, trên diễn đàn văn học Việt
Nam đã xuất hiện một loạt những vấn đề về thể ký nh: ký có phải là văn học
không? ặc trng của ký? Vấn đề phân biệt giữa ký văn học và ký báo chí?
Vấn đề thể ký và vấn đề viết về ngời thật việc thật? Ký có h cấu không?...
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Ký là một thể văn tự sự viết về ngời
thật việc thật có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao nhất
[111, 520].
Từ điển thuật ngữ văn học xác định: Ký là một loại hình văn học
trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể văn xuôi, tự sự ( )
không nên căn cứ vào cách gọi tên của nhà văn đối với tác phẩm để xác định
thể loại () ký không nhằm vào việc miêu tả quá trình hình thành tính cách
của các cá nhân trong tơng quan với hoàn cảnh () đối tợng nhận thức thẩm
mĩ của ký thờng là một trạng thái đạo đức phong hoá xã hội (thể hiện qua
những cá nhân riêng lẻ), một trạng thái tồn tại của con ngời hoặc những vấn

12


đề xã hội nóng bỏng. Vì thế, có rất nhiều tác phẩm ký gần gũi với truyện
ngắn. Nhng khác với truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, ký có
quan điểm thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống và h cấu. Nhà
văn viết ký luôn phải chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống
đợc phản ánh trong tác phẩm. Ký thờng không có cốt truyện, có tính h cấu. Sự
việc và con ngời trong ký phải xác thực hoàn toàn, có địa chỉ hẳn hoi. Đó là vì

liên hệ giữa nó với đặc điểm của kết cấu và cốt truyện. Nói cách khác, đặc
điểm khác biệt của ký so với các thể loại văn học khác là ở chỗ: ký viết về
những cái có thực trong đời sống, có ý nghĩa thời sự hoặc trực tiếp hoặc gián
tiếp. Giống nh ngời viết báo, ngời viết ký phải đặc biệt tôn trọng, phải truyền
đạt trung thực, chính xác những sự kiện của đời thực, việc thực, cảm xúc thực.
Ngời viết ký phải chuẩn bị nghiêm túc nh làm một công trình khoa học vậy.
Ký bao giờ cũng viết về ngời thật, việc thật, thờng đợc viết nh là một
sự phản ứng trực tiếp với những biến cố thời sự trớc những vấn đề nóng bỏng
đợc đặt ra trong cuộc sống. Thể ký, thuyết phục bằng cái có thật. Xuân Diệu
ngợi ca các thể loại ký văn học và xem đó là những thể loại từ trong sự sống
trực tiếp mà ra, nó mang theo tất cả sự mới mẻ và chất xanh tơi của cuộc đời.
Sự giàu có vô hạn của đời sống khơi nguồn sáng tạo cho tất cả các thể
loại văn học, nhng riêng với thể loại ký thì sức tác động trực tiếp hơn, mạnh
mẽ hơn. Nhiều đối tợng miêu tả chứa đựng nội dung xã hội và tính thẩm mĩ
phong phú đã trở thành những nguyên mẫu hoàn chỉnh cho sáng tạo nghệ
thuật. Sự chuyển hoá trực tiếp nhiều điển hình xã hội thành điển hình nghệ
thuật là hiện tợng phổ biến của tác phẩm ký. Nói đến thể loại này, nhà văn Tô
Hoài cho rằng: "Nhà văn là th ký của thời đại. Tôi nghĩ danh hiệu cao quý ấy,
mệnh lệnh chiến đấu ấy, trớc nhất chúng ta trân trọng tặng những ngời viết
ký... Đó là những tay súng trờng, cũng nh những ngời cầm cày cầm cuốc, họ
đông nhất và bao giờ cũng đi hàng đầu và có mặt ở khắp nơi trên trận tuyến
văn học và trong đời sống [43, 71].

14


Ký bao gồm nhiều thể loại khác nhau nh: bút ký, hồi ký, du ký, ký
chính luận, nhật ký, phóng sự, tản văn... Có thể nói ký là một thể loại nằm
giữa văn báo chí và văn học. Ký gần với văn báo chí ở chỗ nó viết về cuộc
sống thực tại ngời thật việc thật. Ký thờng đợc viết nh là sự phản ứng trực tiếp

đến Thợng kinh kí sự, Vũ trung tùy búttrong thời trung đại. Từ sau Cách
mạng tháng Tám thể loại ký phát triển gắn liền với những chuyển động lớn
của xã hội qua hai cuộc chiến tranh và những năm tháng xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Nhiều tác phẩm có giá trị nh: Truyện và kí của Trần Đăng, Nhật ký ở
rừng của Nam Cao, Tùy bút kháng chiến và Sông Đà của Nguyễn Tuân, Vỡ
tỉnh của Tô Hoài, Rất nhiều ánh lửa của Hoàng Phủ Ngọc Tờng, Hà Nội ta
đánh Mĩ giỏi của Nguyễn Tuân
Nh vậy, ta có thể xác định đặc điểm bao quát cho các thể ký(theo GS.
Hà Minh Đức): Các thể ký văn học chủ yếu là những hình thức ghi chép
linh hoạt trong văn xuôi với nhiều dạng tờng thuật miêu tả, biểu hiện, bình
luận về những sự kiện và con ngừơi có thật trong cuộc sống, với nguyên tắc
phải tôn trọng tính thời sự của đối tợng miêu tả [24, 16].
1.1.1.2. Phân loại
Ký là một thể loại khá động. Giữa các thể loại của ký luôn luôn có tình
trạng chuyển hoá thâm nhập lẫn nhau. Do vậy, việc phân loại là rất khó và chỉ
có thể có tính chất tơng đối. Tạm thời có thể chia ký thành một số tiểu loại cơ
bản sau đây:
a. Phóng sự
Đây là một tiểu loại của thể ký mà đặc trng của nó chính là sự nổi bật
bằng những sự thật xác thực, dồi dào và nóng hổi. Mục đích của phóng sự là
cung cấp cho công chúng những tri thức phong phú đầy đủ, chính xác, để họ
có thể nhận thức, đánh giá đúng ngời đúng việc mà họ đang quan tâm theo
dõi. Vì thế ngời viết phóng sự thờng sử dụng những biện pháp nghiệp vụ báo

16


chí nh điều tra, phỏng vấn, đối thoại, ghi chép tại chỗ Việc sử dụng một số
phơng tiện biểu đạt của văn học nh các biện pháp tu từ, ngôn ngữ giàu hình
ảnh, hớng vào thế giới bên trong (ở trong một chừng mực nhất định) của nhân

đoạn: ký sự là bức tranh toàn cảnh, trong đó sự việc và con ngời đan chéo
nhau, gơng mặt của nhân vật thật rõ nét. Ký sự cũng có những điểm chung với
bút ký nh viết ngời thật việc thật mà tác giả trực tiếp chứng kiến, cốt truyện
không chặt chẽ nh trong truyện, sử dụng nhiều biện pháp và phơng tiện biểu
đạt nghệ thuật Song ở ký sự, phần bộc lộ cảm nghĩ của tác giả và những yếu
tố liên tởng, nghị luận thờng ít hơn ở bút ký, tuỳ bút. Trong các tiểu loại của
ký thì ký sự gần với truyện hơn cả.
d. Truyện ký
Truyện ký thờng tập trung cốt truyện vào việc trần thuật một nhân vật
xoay quanh một nhân vật, truyện ký dễ triển khai những tình tiết thành một
cốt truyện hoàn chỉnh. Đây là một thể loại có tính chất chung gian giữa truyện
và ký. Khi sự h cấu vợt ra khỏi phạm vi và mức độ cần thiết, nó trở thành tiểu
thuyết (hoặc truyện vừa hoặc truyện ngắn) viết về ngời thật việc thật.
e. Tuỳ bút
Nét nổi bật của thể loại này là qua việc ghi chép những con ngời và sự
kiện cụ thể có thực, tác giả đặc biệt chú trọng đến việc bộc lộ cảm xúc, suy t
và nhận thức đánh giá của mình về con ngời và cuộc sống hiện tại. So với các
tiểu loại khác của ký, tuỳ bút vẫn không ít những yếu tố chính luận và chất
suy tởng triết lý. Cấu trúc của tuỳ bút nói chung không bị ràng buộc bởi một
cốt truyện cụ thể, nội dung của nó đợc triển khai theo một cảm hứng chủ đạo,
một t tởng chủ đề nhất định. Ngôn ngữ tuỳ bút giàu hình ảnh và chất thơ. Có
thể nói, đây là một tiểu loại có lối viết tơng đối phóng khoáng. Nhà văn tuỳ
theo ngòi bút của mình mà di chuyển, có thể từ sự việc này sang sự việc kia, từ
liên tởng này sang liên tởng khác, để bộc lộ những cảm xúc, tâm tình, phát

18


biểu những nhận xét về ngời và cảnh. Tuỳ bút giàu chất trữ tình nhất trong các
tiểu loại của ký.

tham dự hoặc chứng kiến... Ngời viết hồi ký chỉ tái hiện cái phần hiện thực
thờng nằm trong tầm nhìn của mình... căn cứ chủ yếu vào ấn tợng và hồi ức
của bản thân mình... là cái nhìn của anh ta vào tất cả những gì đợc kể lại...
nên hồi ký thờng đậm tính chủ quan... [3, 155].
Hồi ký là một thể loại mang một số đặc điểm riêng của ký tự sự. Đó
là những trang ghi chép dựa trên sự hồi tởng lại những việc đã lùi vào quá
khứ. Nếu câu chuyện xảy ra trong quá khứ còn cha xa, thì việc hồi tởng có
thể chân thực, cụ thể, sinh động đến từng chi tiết. Ví dụ nh hồi ký cách mạng
của đại tớng Võ Nguyên Giáp Những năm tháng không thể nào quên hoặc
của Nguyễn Đức Thuận với tập hồi ký Bất khuất... Các tập hồi ký văn học
nh Nửa đêm sực tỉnh của Lu Trọng L, Những ngày thơ ấu của Nguyên
Hồng... Song có những trờng hợp câu chuyện đã lùi sâu vào quá khứ mà ngời
kể đã quên đi những sự kiện cụ thể, những chi tiết, chỉ còn lại cái khung của
sự việc. Ngời viết buộc phải tởng tợng để bồi đắp cho sự sống có da thịt với
điều kiện không phá vỡ khuôn khổ của sự thật đời sống nh trờng hợp viết hồi
ký về phong trào cách mạng. Bởi vì lúc này, nửa thế kỷ đã trôi qua, nhiều sự
kiện cụ thể, nhiều chi tiết dễ bị quên đi với thời gian. Ngời viết không thể
không vận dụng trí tợng tởng và h cấu là điều có thể có trong hồi ký, song
cũng chỉ với điều kiện là góp phần tạo nên không khí màu sắc chân thực cho
câu chuyện mà không đợc phép phá vỡ khuôn khổ của sự thật lịch sử. Có trờng hợp khi ngời đọc phát hiện thấy những khác biệt do sự tô điểm của ngời
viết làm cho đối tợng miêu tả thiếu tính chính xác, cái thực và cái h lẫn lộn
thì cảm hứng của ngời đọc giảm sút, lòng tin cậy bị tổn thơng. Đối với ngời
viết hồi ký, phải vận dụng năng lực tởng tợng để hồi tởng lại, tái tạo lại hiện
thực nhằm phản ánh đầy đủ diện mạo của đời sống với tất cả tính đa dạng và
bề dày lịch sử của nó. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận của ngời viết với đời

20


sống là hữu hạn và bị giới hạn trong từng phạm vi hẹp của không gian và thời

Sự thuyết phục lay động của ngôn ngữ hồi ký trớc hết ở tính sự kiện. Ngôn
ngữ của thể loại hồi ký phải thể hiện đợc mối quan hệ giữa "tính truyện và
nghiên cứu. Trong thể loại này vừa có sự tham gia của truyện vừa có sự
tham gia của t duy nghiên cứu. Những yếu tố của truyện tựu trung là những
hình ảnh thổi hồn vào đối tợng đợc miêu tả. Còn t duy nghiên cứu chủ yếu
cung cấp những dữ liệu, những tri thức nhằm thoả mãn nhu cầu ý thức của
con ngời. Ngôn ngữ thể loại hồi ký thể hiện sự "nhức nhối của trí tuệ". Tác
giả viết về những điều mình trông thấy, mình nghiền ngẫm, và viết không chỉ
nêu lên những điều trông thấy mà còn phải tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu,
lý giải do đâu mà có nh vậy. Hơn nữa còn phải thuyết phục ngời đọc. Một
bài ký hay, thuyết phục là một bài ký mà ở đó ngôn ngữ thể hiện chính xác,
xác thực. Và phản ánh đợc sự nóng hổi, tính thời sự của vấn đề mà mình hớng đến.
Theo các nhà nghiên cứu phơng Tây có nhiều dạng hồi ký, nh hồi ký
của các nhà văn, hồi ký chính khách kể về cuộc đời hoạt động chính trị, hồi
ký của các tác giả là chứng nhân cho một sự kiện chính trị xã hội quan trọng.
Trong đó hồi ký văn học của các nhà văn cũng phân nhiều tiểu loại nh: hồi
ký chân dung, hồi ký tự truyện Đây là thể tài mà những năm gần đây phát
triển một cách mạnh mẽ. Hồi ký cung cấp cho độc giả những t liệu quý giá
về đời t của các nhà văn, về bộ mặt tinh thần của xã hội ở một thời kỳ nhất
định, về nhiều lĩnh vực văn hoá - t tởng - văn học... đồng thời cung cấp
những thông tin về sự nghiệp sáng tác và cuộc đời của từng nhà văn cũng nh
cá tính - phong cách của mỗi tác giả. Điều đó có thể thấy qua hàng loạt hồi
ký xuất sắc nh: Bớc đờng viết văn - Nguyên Hồng; Đời viết văn của tôi Nguyễn Công Hoan; hồi ký - Đặng Thai Mai; Nhớ lại một thời của Tố Hữu;
hồi ký cỏ dại - tự truyện - cát bụi chân ai - chiều chiều của Tô Hoài...

22


Điểm qua một số đặc điểm nhận diện về thể ký và thể tài hồi ký là
điểm tựa căn bản giúp chúng tôi đi sâu tìm tòi và khám phá những đặc trng

miền quê đang đi vào sự bần cùng túng đói thất nghiệp và ly tán, và một bên
là sự theo đuổi một thế giới riêng của trẻ thơ, thế giới loài vật với những ớc
mơ tởng tợng và khái quát trong Dế mèn phu lu ký. Trong sáng tác của Tô
Hoài đã hình thành hai mảng đề tài tởng nh tách bạch nhau nhng cuối cùng
hội vào nhau thống nhất trong một thế giới nghệ thuật của Tô Hoài. Dẫu cho
ông viết về mình hay viết về ngời thì tất cả đợc hiện lên một cách đầy đủ sinh
động mang tính khái quát cao về số phận con ngời và cuộc sống. Đó là chủ
nghĩa hiện thực kiểu riêng của Tô Hoài trong văn xuôi trớc cách mạng.
Có thể nói đặc sắc của Tô Hoài trớc 1945 là truyện ngắn, gồm truyện
ngắn về loài vật và truyện ngắn về cảnh và ngời ở một vùng quê ven đô - quê
ngoại và cũng là quê sinh - nơi tác giả sinh sống từ nhỏ và cho đến hôm nay.
Đối với Tô Hoài cách mạng tháng Tám đánh dấu một bớc chuyển biến
trong t tởng và sáng tác. So với nhiều nhà văn hiện thực khác Tô Hoài nhanh
chóng nắm bắt kịp thời các vấn đề mới của đời sống, xác định đợc đối tợng
nghệ thuật cho nên ông đã sáng tác nhiều thể loại: Ký, truyện ngắn, tiểu
thuyết, đã góp vào bớc chuyển biến chung của nền văn xuôi dân tộc.
Từ 1945, là phóng viên báo Cứu quốc, Tô Hoài đã có mặt ở nhiều
nơi nh ở Vĩnh Yên, Việt Trì rồi vào mặt trận phía Nam đến Nha Trang, lên
Tây Nguyên. Từ đó mà có Nhớ quê, Lên Củng Sơn, ở mặt trận Nam Trung
Bộ Giữa năm 1947, Tô Hoài lên Việt Bắc và từ đây bắt đầu một dòng chảy
mới và lớn trong nguồn văn Tô Hoài.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status