Đặc trưng ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương - Pdf 30

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ trước đến nay đã có rất nhiều quan điểm đánh giá khác nhau về
thơ Hồ Xuân Hương. Có người cho rằng ở thơ bà : "Thi trung hữu quỷ"
(trong thơ có quỷ) – Tản Đà, Xuân Diệu thì gọi bà là : "Bà chúa thơ nôm",
nhà thơ Hoa Bằng thì gọi bà là "nhà thơ cách mạng" Tựu chung các nhà
nghiên cứu đều cùng gặp nhau ở một quan điểm đó là thơ Hồ Xuân Hương
có một phong cách riêng, khác thường, tài hoa.
Hồ Xuân Hương là một hồn thơ giàu giá trị nhân văn, nhân bản, một
chất giọng lạ và giàu sắc thái sáng tạo. Đến với thơ Hồ Xuân Hương là đến
với một tài năng và sự độc đáo – một hiện tượng lạ của nền văn học Việt
Nam. Một con người độc đáo cả về tính cách lẫn thơ văn, mà kể về sự độc
đáo thì từ trước đến nay chưa có một nhà thơ nữ nào sánh bằng. Điều làm
nên sự độc đáo nổi tiếng của bà chúa thơ Nôm chính là đặc trưng ngôn từ
trong thơ Hồ Xuân Hương.
So với các sáng tác của một số nhà thơ đương thời, sự nghiệp sáng tác
thơ của Hồ Xuân Hương không nhiều, chủ yếu là mảng thơ nôm truyền tụng,
bên cạnh đó còn có sự xuất hiện của Lưu Hương Kí, Xuân Hương đàm
thoại với một phong cách thơ không xen lẫn với ai được. Thơ Hồ Xuân
Hương chiếm một vị trí đặc biệt trong lòng người đọc, làm say mê, rung
động biết bao thế hệ
Tôi rất ấn tượng với thơ Hồ Xuân Hương, một chất thơ dung
dị dễ hiểu, dễ nhớ và mang đậm âm hưởng của dân gian, mặt khác tôi
có một sự đồng cảm đặc biệt với một nhà thơ cùng quê hương với mình, nên
phần nhiều tôi đã hiểu rất sâu sắc tiếng nói chân chất, mộc mạc trong thơ bà,
đó cũng là ngôn ngữ của người dân xứ Nghệ quê tôi.
Trên cơ sở tiếp thu những công trình của các nhà nghiên cứu,
phê bình, và các tài liệu có liên quan, chúng tôi quyết định chọn đề tài: Đặc
trưng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương với mong muốn đóng góp thêm
một tiếng nói bé nhỏ của mình bên cạnh những công trình nghiên cứu về
cuộc đời, sự nghiệp thơ của "Bà chúa thơ nôm" – Hồ Xuân Hương.

"người lạ mặt" này là một cuộc hành trình không biên giới, đây vẫn là đề tài
mở cho những ai có ý muốn khám phá cuộc đời và sự nghiệp thơ bà.
Đặc trưng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương là một đề tài có rất ít
các công trình nghiên cứu. Phải chăng các nhà nghiên cứu muốn tìm rõ
tường tận chân dung, thân thế hơn là đi sâu khai thác cái sâu sắc, độc đáo
trong ngôn ngữ thơ, các phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa dân gian của
người Việt thông qua cái nhìn và cảm nhận của hồn thơ Hồ Xuân Hương!
Sau đây, tôi xin đưa ra một số phát hiện mới về đặc trưng ngôn từ mà một số
nhà nghiên cứu đã đề cập tới trong một số các công trình sau:
- Đỗ Đức Hiểu trong "Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương" in trong
cuốn Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm, Nxb GD (2003) đã nhận xét:
" Nghệ thuật ngôn từ là một cơ thể sống phức tạp, vận động, nhiều âm
thanh, nhiều màu sắc: mỗi tiếng là một "con kỳ nhông", đứng chỗ này thì
màu xanh, đứng chỗ khác thì màu nâu, hoặc vàng úa. Thơ là một thể loại
thật kỳ ảo. Nhà thơ nói một sự việc, bài thơ mang một ý nghĩa khác Đó là
những điệp trùng của tiếng của câu, của các hệ thống đồng nghĩa, phản
nghĩa, ẩn dụ nhằm diễn đạt ý tưởng( tình cảm, suy tư ) dưới nhiều dạng,
ngày càng cao, càng sâu. Cho nên, có thể thấy chiều cao và chiều sâu ấy là
một đặc trưng của thơ "[18,tr.389].
- Trương Tửu trong "Hồ Xuân Hương - Thiên tài huê nguyệt" in trong
cuốn Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm, Nxb GD (2003) đã nhận xét:
" Về ngôn ngữ, Hồ Xuân Hương còn có đặc điểm nữa là hay dùng những
chữ tục, nạc, ngọt sớt, người bình dân ưa nói : Ai về nhắn nhủ phường lòi
tói, Muốn sống đem vôi quét trả đền Đầu sư há phải gì bà cốt. Bá ngọ con
ong bé cái nhầm Quân tử có thương thì bóc yếm, Xin đừng ngó ngoáy lỗ
chôn tôi Ong non ngứa nọc châm hoa rữa, Dê cỏn buồn sừng húc dậu
thưa Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ
không Kìa cái diều ai nó lộn lèo. Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài, Mỏi gối
chồn chân vẫn muốn trèo Ta có thể nói về cách dùng chữ, đặt câu, xếp ý
của Hồ Xuân Hương để trào phúng thói đời hay bộc lộ tình tự " [11,tr 84].

Xuân Hương có một sức biểu hiện rất mạnh, bao giờ cũng xúc tích, hình ảnh
sinh động, nói như ngày xưa thì mỗi một tiếng là đắc một tiếng" [24, tr.
172].
- Nguyễn Đăng Na trong "Thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian"
in trong cuốn Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm, Nxb GD (2003) đã
nhận xét: " Chủ nghĩa nhân đạo thù địch với chủ nghĩa cấm dục tôn giáo,
thù địch với thói đạo đức giả đã khiến Xuân Hương đưa những cảm hứng
dân gian không được giai cấp thống trị thừa nhận vào thơ chính thức. Đó
cũng là nét riêng của Hồ Xuân Hương, bà tiếp tục tiếng cười dân gian một
cách thành công. Tuy nhiên văn học dân gian không phải là nguồn duy nhất
tạo nên Hồ Xuân Hương " [11,tr.363].
- Đỗ Lai Thúy trong bài viết "Đi tìm phong cách thơ Hồ Xuân Hương"
in trong cuốn Hồ Xuân Hương, Nxb Văn Nghệ TP HCM (1997) đã nhận xét
như sau: " Thơ Hồ Xuân Hương có một kiến trúc ngôn từ khác lạ, một
ngôn ngữ khác lại. Đọc thơ bà hoặc bằng sự mẫn cảm, hoặc bằng phương
pháp thống kê, có thể chia ra những nét đặc biệt trong cách sử dụng ngôn
từ "[11, tr. 90].
- Đào Thái Tôn trong bài "Xuân Hương đàm thoại – Một nhịp nối
trong tiến trình dân gian hóa" in trong cuốn Hồ Xuân Hương về tác gia và
tác phẩm, Nxb GD (2003) đã nhận xét: " Như một phương tiện quan trọng
trong nghĩa của hai chữ "nhân quyền". Có điều là một tiếng nói như thế, ở
một thời điểm lịch sử cụ thể, ở một con người cụ thể, lại là một phụ nữ có
hoàn cảnh chắc chắn không phải sống trong nhung lụa như một nàng Mai
Am nào đó, thì phương tiện chủ yếu để bảo tồn tiếng nói ấy cho đến nay,
không còn gì khác hơn là lòng người "bia miệng". Đó là phương tiện thường
thấy trong văn học dân gian; phương tiện không biết tự bao giờ đã giữ lại
cánh cò cánh vạc, từng tiếng ru xao động lòng người ". [11,tr.263].
- Đỗ Lai Thúy trong bài "Đi tìm phong cách thơ Hồ Xuân Hương" in
trong cuốn Hồ Xuân Hương, Nxb Văn nghệ Tp HCM (1997) đã nhận xét:
" Nhiều người cho rằng công lao của Hồ Xuân Hương chỉ giới hạn ở sự

- Jean Ristat cũng nhận xét : "Tình yêu thân xác (trong thơ bà) là tình
yêu toàn vẹn. Nó bao gồm cả thiên nhiên trong đó. Tất cả đầy ăm ắp những
thần linh, tất cả đều xoáy về tình yêu”[18, tr. 441].
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều có một tiếng nói chung là thống
nhất với nhau trên những vấn đề cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn.
Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó vẫn có những thái độ khen chê khác nhau
thậm chí còn có một số ý kiến mâu thuẫn nhau và cho đến nay vẫn chưa có
một sự giải quyết thỏa đáng. Thơ Hồ Xuân Hương thật sự có một sức quyến
rũ mạnh giống như "Lược trúc chải cài trên mái tóc / Yếm đào trễ xuống
dưới nương long / Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm / Một lạch đào nguyên
nước chửa thông”. Những phát hiện, tìm tòi mới về thân thế, sự nghiệp thơ
bà vẫn sẽ là vấn đề nóng hổi thu hút nhiều công trình tham gia nghiên cứu
giành cho những ai say mê, muốn khám phá thơ bà thì hãy tìm về với ngọn
nguồn của thơ ca truyền thống mà chiêm nghiệm.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Chúng tôi đã tiến hành so sánh các
sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương với các sáng tác thơ của các nhà thơ cùng
thời với bà, qua đó làm nổi bật đặc trưng ngôn từ trong thơ "bà chúa thơ
nôm" - Hồ Xuân Hương.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở phân tích, nhận xét,
đánh giá từ đó rút ra các kết luận cần thiết có liên quan đến đặc trưng ngôn
từ trong thơ Hồ Xuân Hương
- Phương pháp thống kê, phân loại: Trích ra một số bài thơ tiêu biểu
của từng giai đoạn và phân loại chúng theo từng mốc thời gian nhất định.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài của chúng tôi gồm có ba
chương chính:
Chương 1. Hồ Xuân Hương - Thời đại, cuộc đời và thơ
Chương 2. Đặc trưng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương
Chương 3. Ý nghĩa biểu đạt qua cách sử dụng ngôn từ trong

hơn là ngôn từ, đều không phải là bản thân vật chất mà chỉ là kí hiệu của nó
mà thôi. Chất liệu của văn học dùng ngôn ngữ theo nghĩa gốc, nghĩa là chỉ
một hệ thống tiếng nói của một cộng đồng người nhất định, phân biệt với
các cộng đồng khác, và có thể khái quát lại trong từ điển và sách ngữ pháp.
Ngôn từ là ngôn ngữ trong vận động, tức là lời nói được thể hiện qua những
chủ thể phát ngôn khác nhau. Nhưng nói văn học là nghệ thuật của ngôn từ,
song không phải là những ngôn từ logic chỉ tác động chủ yếu vào lý tính như
trong chính trị, triết học , mà phải là ngôn từ giàu hình ảnh và tình cảm, tác
động chủ yếu vào tâm hồn con nguời.
1.1.2. Đặc trưng của tác phẩm trữ tình
Trước hết ta biết rằng tác phẩm trữ tình là tác phẩm văn học chủ yếu
dùng phương thức trữ tình để miêu tả, nghĩa là thông qua bộc lộ tình cảm
của tác giả mà phản ánh hiện thực. Ở đây tác giả trực tiếp bộc lộ những cảm
xúc của mình trước hiện thực đời sống. Có tác phẩm được viết bằng văn
xuôi ( tức là một loại thơ trữ tình, có cấu trúc thơ giống văn xuôi, câu nọ
cách câu kia không xuống dòng và dường như không có vần và nhịp điệu,
không mang tính chất cố định và không theo niêm luật nào), có tác phẩm trữ
tình thuộc loại thơ như thơ trữ tình. Có thể khẳng định rằng, trong tác phẩm
trữ tình thì thơ chiếm bộ phận lớn nhất đồng thời tiêu biểu nhất.
Tác phẩm trữ tình bộc lộ cảm xúc một cách trực tiếp. Đây là đặc điểm
nổi bật nhất của tác phẩm trữ tình. Nếu như tác phẩm tự sự thiên về miêu tả,
tác phẩm kịch tập trung miêu tả hành động thì tác phẩm trữ tình lại thiên về
bộc lộ cảm xúc của nhà thơ, nhà văn. Ví dụ tinh thần lạc quan, yêu đời của
Tố Hữu trong những năm 1960 :
Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước,
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.
Cũng là tinh thần hăng say, quên mình của cả một thế hệ thanh niên
Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ gian khổ nhưng hào hùng.
Nhân vật trữ tình thường là hiện thân của tác giả nhưng cũng có khi
là nhân vật được tác giả mượn để thể hiện tâm trạng. Nhân vật trữ tình tuy

phân biệt tác phẩm văn học với tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật khác là
nó được sáng tạo nên bằng nghệ thuật ngôn từ.
1.1.3. Ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương
Về ngôn ngữ, có thể nói "văn học cổ không ai giản dị dễ hiểu và mộc
mạc như Xuân Hương. Ngôn ngữ của Xuân Hương không khác gì ngôn
ngữ của ca dao, tục ngữ. Thỉnh thoảng trong thơ bà có một đôi từ Hán Việt,
thì hầu hết đã được Việt hóa, đã đi vào kho từ vựng phổ biến của Tiếng
Việt" [18, tr.187]. Cá biệt như trong bài Bỡn bà lang khóc chồng, nhà thơ
dùng nhiều từ Hán Việt, thì đó là một dụng ý. Bởi vì đây là một bài thơ
"bỡn", Xuân Hương có ý dùng rất nhiều tên thuốc bắc thì cho đến bây giờ
chúng ta vẫn còn gọi bằng từ Hán Việt như thế
Thơ Hồ Xuân Hương là một lối thơ rất tự nhiên, thật gần gũi với đời
sống thường nhật, với lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân lao động.
Lời thơ không cầu kỳ, gọt dũa mà vẫn thiết tha, nhẹ nhàng rót vào lòng
người những cung bậc rất thánh thót, ngân vang. Thơ bà đã thoát ra ngoài
khuôn sáo, ít dùng điển cố Hán văn, lời thơ thường dùng theo lối ca dao, tục
ngữ.
Trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương, bên cạnh tiếng cười giòn giã,
lạc quan, thách thức, còn có cả tiếng thở dài ngậm ngùi, xót xa giữa đêm
khuya thanh vắng về thân phận long đong chìm nổi, cho số kiếp hẩm hiu,
bạc bẽo của người phụ nữ. Cái "tục" trong thơ bà nhiều khi là con dao hai
lưỡi, nó vừa phản ánh cái tục của cuộc đời trần tục vừa cái “tục” theo ý
nghĩa phồn thực. Trong quá trình phát triển của lịch sử, Hồ Xuân Hương đã
có cống hiến lớn lao trong việc nêu lên vấn đề về quyền sống và nhân phẩm
của người phụ nữ, chống lại những tập tục, những quan điểm bất công vô
nhân đạo của lễ giáo phong kiến. Tiếng nói mạnh bạo, thống thiết của Hồ
Xuân Hương sẽ mãi mãi vang vọng nhờ giá trị lịch sử và nhân văn của nó.
Nhìn chung, có thể nói "ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương phần
lớn là một ngôn ngữ thuần túy Việt Nam. Xuân Hương có tài khai thác vốn
ngôn ngữ súc tích, cô đọng của ca dao, tục ngữ. Trong cấu trúc chung của

1.2.2. Cuộc đời Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ kỳ tài, điều đó có lẽ không cần phải
bàn cãi gì nhiều. Nhưng xét đến tiểu sử của bà thì thật là mờ mịt. Xung
quanh vấn đề này còn rất nhiều giả thuyết khác nhau. Người ta biến những
câu chuyện kể về bà thành những huyền thoại, mỗi người nói một cách khác
nhau khiến cho giới nghiên cứu đau đầu, lúng túng bởi đứng trước tình cảnh
không thể biết đích xác về cuộc đời của một nữ sĩ như Hồ Xuân Hương,
nghi vấn cả một số bài thơ không biết có phải là của Hồ Xuân Hương hay
không nữa. Đi tìm dấu tích văn tài này, chúng ta chỉ có thể dõi theo dòng
lịch sử, dõi theo những dấu ấn được khắc hoạ trong chính thơ ca của bà.
Cho đến tận bây giờ, người ta vẫn không biết đích xác nữ sĩ Hồ Xuân
Hương sinh và mất vào đúng năm nào. Trước nhiều giả thuyết khác nhau,
thì đã có nhiều tác giả đã đi đến cùng một kết luận. Nguyễn Hữu Tiến trong
cuốn Giai nhân di mặc (in năm 1915), Song An trong bài Thân thế và văn
chương cô Hồ Xuân Hương (in trên báo Đông Tây số 12/1929), Dương
Quảng Hàm trong Việt văn giáo khoa thư (in năm 1940) đều thống nhất ở
một số điểm sau: Hồ Xuân Hương là con gái của Hồ Phi Diễn, một thầy đồ
xứ nghệ, quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Dạy học ở
Hải Dương rồi kết bạn với một cô gái xứ Đông, sinh ra Hồ Xuân Hương.
Gia đình này sau lên Thăng Long, khi thì ở vùng Khán Xuân bên Hồ Tây,
khi thì ở phường Tiên Thị bên bờ Hoàn Kiếm. Hồ Xuân Hương đã từng lấy
lẽ một cai tổng (Tổng Cóc) và một tri phủ (Vĩnh Tường). Bà còn là bạn thơ
của Chiêu Hổ tức Phạm Đình Hổ (1768 – 1839). Như vậy Hồ Xuân Hương
sống khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.
Nhưng đến năm 1957, trên Tạp chí văn học, Hồ Tuấn Niêm căn
cứ vào sáu bộ gia phả của các chi họ Hồ ở Nghệ An rút ra một thông tin cực
kỳ hấp dẫn: Xuân Hương là cùng một họ và bằng vai với Quang Trung
– Nguyễn Huệ. Với việc công bố tài liệu này, gốc gác Xuân Hương xem ra
sáng tỏ hơn. Rồi đến năm 1963, tình hình có khác. Trên Tạp chí Văn học số
4 – 1963, Trần Thanh Mại phát hiện một tập thơ chữ Hán với nhan đề Lưu

Thị…
Hồ Xuân Hương là con của Hồ Phi Diễn nhưng lại là con của một
người thiếp. Như thế ta thấy nàng không hề có một địa vị may mắn nào. Cái
cảnh vợ lớn, vợ bé xưa nay chắc ai cũng có thể hình dung là nó kinh khủng
đến mức nào! Tránh sự thù ghen tuông thù ghét, người cha dù thương con
đến mấy cũng không dám bênh vực, chỉ biết yên lặng cho “trong ấm ngoài
êm”. Nhưng một khi cái sợi dây liên lạc đó mất đi, người cha mất đi thì ôi
thôi! cảnh địa ngục trần gian diễn ra như một tất yếu vậy! Hồ Xuân Hương
đã sống trong cảnh ngộ đó. Khi cha nàng mất đi, hẳn nàng đã phải sống
những tháng ngày đen tối, tủi nhục nhất. Cái đen tối ấy theo đuổi nàng mãi:
Sinh làm con một người thiếp, sống cuộc đời làm kiếp vợ lẽ. Cả cuộc đời
nàng không có lấy một ngày hạnh phúc, chưa bao giờ thấy nàng cười, nàng
có cười vả chăng chỉ là cái cười mỉa mai, chua xót cho thân phận của mình.
Như thế đời nàng vui sao được, như thế bảo nàng không hận đời sao được.
Đã thế nàng lại sinh ra vào cái thời xã hội rối loạn, nhố nhăng ấy nữa.
Con người Hồ Xuân Hương bị ném vào cái xã hội đó và rồi ta thấy đời nàng
đã phải giãy giụa trong truỵ lạc lụt ngập của xã hội. Người ta nói: tất cả các
yếu đuối của xã hội đương thời đã kết tinh lại ở nàng, nhào nặn với cá tính
nàng mà làm nên một thi sĩ độc đáo. Xã hội Việt Nam thời ấy không hề chờ
đợi có một người như Hồ Xuân Hương đến, nhưng nàng đã đến trong cái xã
hội ấy ngay giữa lúc bọn đồ gàn ít chờ đợi nhất. Nàng đã đến với một trái
tim và một đầu óc trọn vẹn nhất, với tất cả mọi giác quan còn tinh khôi, và
đặc biệt là với đôi mắt tinh đời ấy, ta cứ tưởng tượng như chỉ cần một cái
nhìn nàng đã thấy được tận gan ruột. Nữ sĩ đã vạch rõ cái chân tướng của cả
những kẻ hiền nhân quân tử, những bậc trượng phu, anh hùng và đã đặt họ
lại những chỗ ngồi đúng với giá trị thực của họ giữa lúc cả bọn đang múa
máy quay cuồng, tâng bốc bợ đỡ nhau.
1.3. Thơ Hồ Xuân Hương
1.3.1. Sự nghiệp thơ Hồ Xuân Hương
Tác phẩm của Hồ Xuân Hương không có di cảo, những tác

phong phú của ngôn ngữ dân tộc và đã mài sắc ngôn ngữ dân tộc của thời
đại mình.
1.3.2. Chất liệu trong thơ Hồ Xuân Hương
"Thơ Hồ Xuân Hương mang đậm sắc thái của dân gian" [11, tr. 98].
Ở đây không chỉ bó hẹp ở phạm vi văn học dân gian mà còn mở rộng sang
cả nghệ thuật dân gian, sinh hoạt văn hóa dân gian, lời ăn tiếng nói trong
thơ Hồ Xuân Hương cũng rất dân gian. Vậy ta cần tìm hiểu thế nào là chất
liệu. Theo như Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì chất liệu là cái
dùng làm vật liệu, tư liệu để sáng tạo nên các tác phẩm nghệ thuật.
Trên đây là cách hiểu của chúng tôi về chất liệu trong tác phẩm nghệ
thuật, song điều mà chúng tôi muốn đề cập sâu hơn ở đây là chất liệu dân
gian trong văn học. Từ xưa, mặc dầu sống trong một trạng thái văn hóa thấp
kém, con người luôn có khát vọng thể hiện trong các tác phẩm nghệ thuật tất
cả những tư tưởng, sinh hoạt, tình cảm của mình, đồng thời phản ánh tất cả
những phong tục, tập quán, quan niệm hình thành dân tộc, những cuộc chiến
đấu với thiên nhiên hay cả những ước mơ của mình. Dù bị áp bức bóc lột thế
nào đi nữa thì quần chúng lao động vẫn sản sinh được một nền văn hóa trong
đó có dòng văn học dân gian. Bắt nguồn từ quá trình lâu đời trong sản xuất
và chiến đấu. Từ khi xã hội chưa có giai cấp cho đến khi xã hội có giai cấp,
dòng văn học dân gian được khơi gợi, lan truyền và phát triển để phục vụ
sản xuất và chiến đấu, sinh hoạt hàng ngày của người dân lao động. Trong
văn học dân gian, ngôn ngữ được sử dụng là lời ăn tiếng nói trong cách sinh
hoạt hàng ngày của người dân. Sản phẩm dân gian được đưa vào tác phẩm
dân gian rất phong phú. Có khi là những món ăn dân dã như: bánh chưng,
bánh giày, bánh trôi nước. Có khi là những phong tục tập quán: tục ăn trầu,
tục thờ cúng thần linh cầu cho mùa màng bội thu, có khi nó là những trò
chơi dân gian đã có rất lâu đời: Đấu vật, đánh đu, bịt mắt bắt dê, nặn tò he
Tổng hợp lại là phong cách dân gian, cái hồn dân gian. Nó chân chất mộc
mạc, chân tình, thực tế nhưng giàu hình tượng. Nó tạo thành một giọng điệu
riêng khác hẳn với văn học viết. Tất cả đều là sản phẩm của dân gian, đều

chơi truyền thống dân gian thì trong thơ Hồ Xuân Hương cũng có. Hay
những ngôn ngữ bình dân, những lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân:
- Này của Xuân Hương đã quyệt rồi.
- Lại đây cho chị dạy làm thơ.
- Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
- Này chị em ơi chớ vội cười
Tất cả đều là mạch nguồn của dân gian mà ra cả, điều đó chứng
tỏ rằng Hồ Xuân Hương đã tiếp nhận một cách sâu sắc nguồn mạch dân
gian. Thơ Hồ Xuân Hương đã hòa chung vào dòng chảy của văn hóa dân
gian. Có người nhận định thơ Hồ Xuân Hương dâm và tục, có người cho
rằng thơ bà chỉ có tục thôi không có dâm, có người nhận xét nặng nề hơn
một chút là thơ Hồ Xuân Hương bị "khủng hoảng về tình dục" Chúng tôi
không nghĩ như vậy, thiết nghĩ rằng đó là cái tục trần thế, rất đỗi đời thường.
Vả chăng chính vì sống trong một xã hội bị bóp nghẹt mọi quyền sống của
người phụ nữ nên Hồ Xuân Hương đã dám đứng lên phản kháng lại. Thơ bà
viết ra những lời nói tục mà thanh, cười mà đau đớn giàn giụa trong nước
mắt và tủi nhục cho số phận nổi trôi của mình.
Trong dân gian có nhiều truyện cười mang yếu tố tục như "Trời sinh
ra thế", "Trạng dâng chúa cây cải" Còn nói về nghệ thuật dân gian
thì những bức tranh như "Hứng dừa", "Đánh ghen" hoặc các biểu tượng
được khắc trên đá, trên gỗ ở chùa chiền, những nơi rất thiêng liêng cũng
mạnh dạn phô bày nét tinh tế của người phụ nữ. Vậy ta có sự lý giải thế nào
về điều này? Theo chúng tôi, những truyện như tiếu lâm, truyện cười, truyện
trạng đến những bức tranh dân gian bên cạnh những yếu tố gây cười còn có
một ý nghĩa cao hơn là phê phán, đả kích những thói hư tật xấu, những bất
công của xã hội đương thời. Đến với thơ Hồ Xuân Hương cũng thế, có thể
bà thấy được phần nào nỗi bất hạnh, thân phận bạc bẽo bởi tâm địa xảo trá
"xanh như lá bạc như vôi" của các đấng mày râu, quân tử khiến bà có một
thái độ gay gắt mà thốt ra những lời "tục" như vậy chăng ?!
Vào dịp lễ hội, các trò chơi dân gian là nét sinh hoạt phổ biến của

Chương 2
ĐẶC TRƯNG NGÔN TỪ TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG
2.1. Các dạng thức sử dụng từ ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương
2.1.1. Sử dụng từ láy
Ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương bình dị như chính cuộc sống đời
thường vậy. Ngôn ngữ trong thơ bà phần lớn dùng ngôn ngữ bình dân, rất
hạn chế sử dụng từ ngữ Hán Việt. Sở dĩ như vậy bởi vì bản thân Hồ Xuân
Hương chất chứa những tố chất thuần Việt của con người Việt Nam chất
phác, mộc mạc; không khoa trương, không xa lạ với thứ ngôn ngữ của quần
chúng nhân dân đa nghĩa, điêu luyện. Thật là tài tình, dân gian mà cổ điển,
điêu luyện mà rất đỗi hồn nhiên. Thực thực, hư hư, đùa mà như thật, thật mà
như đùa Tất cả đã kiến tạo nên một hồn thơ Hồ Xuân Hương mang đậm
phong vị quê hương, mang nhiều âm hưởng của ngôn ngữ dân gian truyền
thống.
Từ láy là từ loại được sử dụng rộng rãi trong dân gian nói chung
và trong thơ Hồ Xuân Hương nói riêng. Theo thống kê của Lã Nhân Thìn
trong tổng số 268 câu thơ có 79 từ láy (chiếm 29,4%). Từ láy trong thơ có
nhiều tác dụng, nó có chức năng hạn chế tính công thức ước lệ, làm cho câu
thơ trở nên biểu cảm hơn, đậm tính dân tộc hơn và góp phần thể hiện phong
cách tác giả. Thơ Hồ Xuân Hương là thơ của sức sống của chân đạp, tay
vung, thơ của nhịp điệu cơ thể và cuộc sống con người, thơ của tâm trạng.
Từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương thường có tác dụng biểu lộ tình cảm, thể
hiện con người tác giả.
2.1.1.1. Đặc điểm cấu tạo
a. Từ láy hai âm tiết hay láy đôi
a1. Từ láy phụ âm đầu:
- Da nó xù xì, múi nó dày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status