PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌ ĐỀ TÀI
Văn học dân gian là phần lời của văn nghệ dân gian, một loại hình nghệ
thuật mang tính nguyên hợp, trong đó nghệ thuật ngôn từ đóng vai trò quan
trọng và luôn gắn liền với các thành tố nghệ thuật khác của nghệ thuật biểu diễn
dân gian.
Được thử thách qua không gian, thời gian và lòng người đọc, được gọt
dũa bởi hàng vạn nhà thơ dân gian nhân dân, ca dao Việt Nam đã trở thành
những viên ngọc óng ánh trong kho tàng văn học dân gian dân tộc. Có thể nói
hàng ngàn thế hệ người Việt Nam không ai không thuộc ít hơn một câu ca dao.
Điều đó cũng đủ cho ta thấy ca dao Việt Nam đi sâu vào đời sống tinh thần, tâm
hồn mọi người dân đất Việt.
Ca dao đã vận dụng mọi khả năng ngôn ngữ dân tộc để biểu hiện một
cách chính xác tinh tế cuộc sống và hơn thế nữa để biểu hiện một cách sinh
động và đầy hình tượng nguyện vọng của nhân dân về cuộc sống. Và sẽ thật
đáng tiếc cho những ai không biết cái hay vẻ đẹp toát ra từ những câu ca dao
như: hình tượng người phụ nữ, những lời tỏ tình mượt mà của các chàng trai cô
gái trong ca dao, hay những lời ru của bà của mẹ ru con vào giấc ngủ. Khi lớn
lên chúng ta tìm về tuổi thơ với lời ru thoang thoảng hiện về trong ký ức. Bởi ca
dao dùng một loại ngôn ngữ rất đặc trưng - ngôn ngữ thuần Việt ngôn ngữ rất
đời thường rất gần gũi.
Dù theo nhịp điệu của cuộc sống theo hướng phát triển của nhân loại
nhưng những câu ca dao xưa vẫn là những lời hát ru dành cho con trẻ hôm nay
càng ngày con người càng nghiên cứu và tìm ra được nhiều vẻ đẹp, nét độc đáo
đặc trưng của nó. Đó là tất cả những lý do để chúng tôi chọn đè tài: “Đặc trưng
ngôn ngữ trong ca dao”.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Những công trình nghiên cứu về ca dao trong mấy thập kỷ qua là vô cùng
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận nội dung của đề tài này gồm có hai
chương:
Chương 1: Khái quát chung
Chương 2: Đặc trưng ngôn ngữ trong ca dao
PHẦN HAI: NỘI DUNG
Chương một: KHÁI QUÁT CHUNG
của nhân dân về cuộc sống ấy.
Đặc trưng nghệ thuật ca dao: “ca dao cũng là thơ một loại thơ rất
riêng”(Xuân Diệu) điều đó nói lên rằng ca dao thuộc loại trữ tình dân gian, nó
có đặc trưng với tự sự và kịch. Mặt khác tuy giống thơ nhưng cũng khác thơ vì
nó không được sáng tạo ra để đọc mà để hát, nó gắn liền với môi trường ca hát,
nghệ nhân diễn xướng và các yếu tố âm nhạc tạo hình vũ đạo.
1.3Ngôn ngữ và ngôn ngữ trong ca dao.
“Ngôn ngữ là hệ thống trong đó mọi yếu tố khăng khít ,mà giá trị của yếu
tố này chỉ là sự tồn tại đồng thời của yếu tố khác” (Fde.Saussure). Ngôn ngữ là
công cụ là chất liệu cơ bản cuả văn học,vì vậy văn học được gọi là loại hình
nghệ thuật ngôn từ. M.Go-rơ-ki khẳng định : “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của
văn học.
Ngôn ngữ nhân dân là cuội nguồn của ngôn ngữ văn học được chọn lọc,
rèn dũa qua lao động nghệ thuật của nhà văn, đến lượt mình nó lại góp phần
nâng cao làm phong phú ngôn ngữ nhân dân.
Trong tác phẩm ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan trọng
thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn. Mỗi nhà văn lớn
bao giờ cũng là tấm gương sáng về mặt hiểu biết sâu săc ngôn ngữ nhân dân,
cần cù lao động để trao dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác.
Tính chính xác tính hàm súc tính đa nghĩa tính tạo hình và biểu cảm là
những thuộc tính của ngôn ngữ văn học .Căn cứ chủ yếu để phân biệt ngôn ngữ
văn học với các hình thái của hoạt động ngôn ngữ chính là ở chổ : ngôn ngữ văn
học là hình thái hoạt động mang ý nghĩa thẫm mỹ. Nó được sử dụng để phục vụ
nhiệm vụ trung tâm là xây dựng hình tượng văn học và giao tiếp nghệ thuật. Vì
vậy tính hình tượng, tính thẩm mĩ là thuộc tính bản chất xuyên thấm vào mọi
thuộc tính khác, quy định những thuộc tính ấy.
Ngôn ngữ ca dao vừa là ngôn ngư thơ vừa là ngôn ngữ giao tiếp, nó có
cấu trúc lời đôi và chính nó là ngôn ngữ đối đáp hội thoại. Vai giao tiếp và vị
thế giao tiếp sẽ ảnh hưởng đến hệ thống xưng hô và cách ứng xử. Kiểu nhân vật
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Đan sáng thiếp cũng xin vâng
Tre vừa đủ lá nên chăng hỡi chàng?
-Giếng Ngọc Hà vừa trong vừa mát
Vườn Ngọc Hà thơm ngát gần xa.
- Hỏi người xách nước tưới hoa
Có cho ai được vào ra chốn này.
Qua những lời ca dao trên ta thấy rằng: Đó là những lời tỏ tình thật dễ
thương, cách dùng từ thật trau chuốt, mượt mà đầy chất thơ.
Không chỉ có vậy, ở ca dao ta còn gặp cả những lời “dao to búa lớn” đầy
sức mạnh, mang tính khẩu ngữ:
- Chuột chù chê cú rằng hôi
Cú lại trả lời – Cả họ mày thơm.
- Chồng gì anh, vợ gì tôi
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây. Chính sự kết hợp giữa ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại (vốn phù hợp
với hình thức truyền miệng) với ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ gọt dũa đã tạo nên
những đặc điểm riêng biệt, độc đáo của ngôn ngữ ca dao.
2.1.2. Mang tính khẩu ngữ
Tính khẩu ngữ được thể hiện trong ca dao trước hết ở hiện tượng thêm
(bớt) âm tiết đối với những thể thơ truyền thống. Hiện tượng này rất hay gặp ở