Đặc điểm ngôn ngữ của ca dao tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động sản xuất - Pdf 26


1

TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ CHÂU
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CA DAO TỤC
NGỮ NÓI VỀ KINH NGHIỆM SẢN XUẤT

1. Lý do chọn đề tài và nhiệm vụ của luận văn 5
1.1. Lý do chọn đề tài 5
1.2. Nhiệm vụ 5
2. Tình hình nghiên cứu 6
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7
4. Phƣơng pháp nghiên cứu và vấn đề tƣ liệu 8
5. Bố cục của luận văn 10
Chƣơng I. TỔNG QUAN VỀ CA DAO TỤC NGỮ NÓI VỀ KINH NGHIỆM SẢN XUẤT 12
1. Quan niệm về ca dao, tục ngữ 12
1.1. Quan niệm về tục ngữ 12
1.2.Quan niệm về ca dao 19
2. Nội dung của ca dao, tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất 22
2.1. Về thời tiết 23
2.2. Trồng trọt 25
2.3. Chăn nuôi 29
2.4. Sự vất vả 32
3. Vị trí của ca dao, tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động sản xuất trong
kho tàng tục ngữ ca dao ngƣời Việt 33
4. Tiểu kết 35
Chƣơng II. ĐẶC ĐIỂM VỀ NGỮ ÂM CỦA CA DAO TỤC NGỮ NÓI VỀ KINH NGHIỆM SẢN XUẤT
36
1. Đặc điểm ngữ âm của ca dao nói về kinh nghiệm sản xuất 36
1.1. Quy tắc chung của thể thơ lục bát 36
1.1.1. Thơ lục bát 36
1.1.2. Vần trong thơ lục bát 36

3

1.1.3. Vần trong ca dao lục bát nói về kinh nghiệm sản xuất 37
1.2. Những bài ca dao viết theo các thể thơ khác 40


4

BẢNG QUY ƢỚC VIẾT TẮT 1. C: Câu
2. C
GH
: Câu ghép

3. C
A
: Câu A

4. C
B
: Câu B

5. Đ: Đề
6. T: Thuyết
7. Đ
A
: Đề A

8. T
A
: Thuyết A

9. Đ
5

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
1.1.Lý do chọn đề tài
a dao, tục ngữ là một bộ phận chiếm vị trí khá quan trọng trong
ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Ca dao, tục ngữ tự thân đã mang
trong mình những nét rất đặc trƣng của ngôn ngữ và văn hoá Việt
Nam. Tuy đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu ca dao, tục ngữ nhƣng
dƣờng nhƣ vẫn chƣa chỉ đƣợc hết những đặc điểm ngôn ngữ cũng nhƣ
văn hóa của chúng, đặc biệt là ở bộ phận ca dao, tục ngữ nói về kinh
nghiệm sản xuất.
Với tƣ cách là ngƣời nghiên cứu ngôn ngữ giảng dạy các môn
thuộc về văn hoá, ngôn ngữ và tiếng Việt tại Khoa Ngoại ngữ Trƣờng Đại
học Bách Khoa Hà Nội, thông qua đề tài nghiên cứu này, chúng tôi muốn
tìm hiểu những nét đặc trƣng cơ bản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cùng
những kiến thức liên quan đến khía cạnh văn hóa của những câu ca dao,
tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, phục vụ cho công việc
chuyên môn của mình.
1.2. Nhiệm vụ
Thông qua bảng tƣ liệu thống kê những câu tục ngữ và ca dao nói
về kinh nghiệm sản xuất, luận văn có nhiệm vụ:
- Tập hợp ca dao tục ngữ đƣợc sáng tác theo đề tài lao động sản xuất
nông nghiệp một cách có hệ thống. Đó chủ yếu là những bài ca dao,
những câu tục ngữ nói về kinh nghiệm trong lao động sản xuất nông

Tục ngữ phong dao (Nguyễn Văn Ngọc, xuất bản lần thứ nhất năm 1928)
đƣợc coi là công trình sƣu tập tục ngữ công phu nhất, có nội dung phong
phú nhất trong thời kỳ đó.
Sau cách mạng tháng Tám, thuộc loại công trình sƣu tập, biên soạn ca
dao, tục ngữ có quy mô có thể kể đến trƣớc tiên là bộ sách Tục ngữ và dân ca
Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (xuất bản lần thứ nhất vào năm 1956), Hợp
tuyển văn học Việt Nam tập I phần Văn học dân gian (1972)…

7

Trong những năm gần đây, có một số nhà nghiên cứu sƣu tầm tục
ngữ, ca dao đƣợc giới nghiên cứu cũng nhƣ công chúng biết đến nhƣ nhóm
tác giả cuốn Tục ngữ Việt Nam Chu Xuân Diên; Nguyễn Xuân Kính, Phan
Hồng Sơn cũng với cuốn Tục ngữ Việt Nam; Nguyễn Lân với Từ điển thành
ngữ tục ngữ Việt Nam; nhóm Vũ Dung với Từ điển thành ngữ và tục ngữ
Việt Nam; Nguyễn Xuân Kính với Kho tàng ca dao người Việt, Thi pháp ca
dao; Đinh Gia Khánh với Ca dao Việt Nam…
Trên đây là những nét sơ lƣợc về công tác sƣu tầm biên soạn ca
dao, tục ngữ Việt Nam từ trƣớc đến nay. Tuy nhiên, nhƣ chúng ta đã biết,
ca dao tục ngữ không chỉ dừng lại ở mức độ là đối tƣợng để biên soạn,
sƣu tầm mà ca dao, tục ngữ đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học khác nhau nhƣ văn học, ngôn ngữ học, xã hội học…
thậm chí đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về ca dao tục ngữ đƣợc
đánh giá cao. Công việc của chúng tôi là góp thêm một cái nhìn ngôn ngữ
học về kho tàng văn hóa phong phú này của dân tộc.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Ca dao, tục ngữ là tài sản tinh thần chung, là biểu hiện kinh nghiệm
sống phong phú của nhân dân lao động Việt Nam và đồng thời nó phản
ánh tâm hồn dân tộc. Do đó, kho tàng ca dao, tục ngữ ngƣời Việt đề cập
đến rất nhiều nội dung nhƣ tình yêu quê hƣơng đất nƣớc, tình yêu thiên

đáng tin cậy. Sở dĩ chúng tôi có ý kiến này là nhờ vào quá trình khảo sát
nguồn tƣ liệu phong phú về ca dao tục ngữ đã có hiện nay.
Để có đƣợc con số 150 bài ca dao nói về kinh nghiệm lao động sản
xuất, chúng tôi đã tiến hành khảo sát những cuốn sách sau đây:
1. Nguyễn Nghĩa Dân – Ca dao Việt Nam (1945 – 1975) – Nhà xuất bản
Văn học Hà Nội 1997.
2. Đinh Gia Khánh – Ca dao Việt Nam – Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội
1983.
3. Đinh Gia Khánh (chủ biên) – Ca dao Việt Nam – NXB Tổng hợp
Đồng Tháp, 1992.

1
Ở đây, chúng tôi sử dụng thống nhất khái niệm bài ca dao thay vì khái niệm câu vì thông
thƣờng một bài ca dao gồm rất nhiều câu thơ hợp thành và sẽ có những bài ca dao chúng tôi
chỉ trích dẫn sử dụng một số câu nhất định.

9

4. Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật (chủ biên) – Kho tàng ca dao
người Việt (tập 1) – Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội 1995.
5. Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật (chủ biên) – Kho tàng ca dao
người Việt (tập 2) – Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội 1995.
6. Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật (chủ biên) – Kho tàng ca dao
người Việt (tập 3) – Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội 1995.
7. Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật (chủ biên) – Kho tàng ca dao
người Việt (tập 4) – Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội 1995.
8. Trần Quang Nhật – Ca dao lao động – Nhà xuất bản Phổ thông 1974.
9. Nguyễn Văn Ngọc – Tục ngữ phong dao, Hà Nội 1928.
10. Vũ Ngọc Phan – Vũ Ngọc Phan tác phẩm (Tập 3) – Nhà xuất bản Hội
Nhà văn, Hà Nội 2000.

8. Ca dao tục ngữ - Nhà xuất bản Văn nghệ TP. HCM, 1995.
9. Tuyển tập tục ngữ ca dao Việt Nam – Nhà xuất bản Văn học 2/2003
Ngoài những tài liệu chính này, chúng tôi còn tham khảo một số
cuốn sách sƣu tầm ca dao, tục ngữ, sách lý luận và những bài báo liên
quan khi tiến hành luận văn (xin xem thêm ở Thƣ mục tài liệu tham khảo
ở cuối luận văn này).
Trên cơ sở nguồn tƣ liệu phong phú nhƣ vậy, chúng tôi tiến hành
chọn lọc và thống kê tất cả những câu, những bài có chủ đề về kinh
nghiệm sản xuất nông nghiệp để phục vụ cho luận văn. Sau khi đã dùng
phƣơng pháp thống kê để chọn lọc và dựng thành một bảng tƣ liệu tƣơng
đối đầy đủ, chúng tôi tiến hành mô tả, phân tích để chỉ ra những đặc điểm
về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của ca dao, tục ngữ nói về kinh nghiệm
sản xuất và qua đó phác họa nên những nét văn hóa lƣu giữ trong đó.
5. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn của chúng tôi gồm 3 phần chính:
- Phần mở đầu,
- Phần nội dung

11

- Phần kết luận.
Trong đó, phần nội dung gồm có ba chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan về ca dao, tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất
Chƣơng 2: Đặc điểm về ngữ âm của ca dao, tục ngữ nói về kinh
nghiệm sản xuất
Chƣơng 3: Đặc điểm từ vựng trong ca dao, tục ngữ nói về kinh
nghiệm sản xuất
Ngoài ra, luận văn còn gồm có bảng quy ƣớc chữ viết tắt, một mục
lục, một thƣ mục tài liệu tham khảo và hai phụ lục.


T

13

Ông cũng là ngƣời đầu tiên đƣa ra ý kiến phân biệt hai khái niệm
tục ngữ và thành ngữ. Theo ông thì “tục ngữ là những lời nói do nhiều
tiếng ghép lại đã lập thành sẵn, ta có thể mượn để diễn đạt một ý tưởng
của ta khi nói chuyện hay viết văn. Trong những câu người ta gọi là tục
ngữ, có rất nhiều câu chỉ là thành ngữ chứ không phải là tục ngữ thật.
Thí dụ: “Dốt đặc cán mai”, “Tiền rừng bạc bể”. Sự khác nhau của tục
ngữ và thành ngữ là ở chỗ này: một câu tục ngữ tự nó phải có một ý
nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là
những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn một ý gì hoặc tả một trạng
thái gì cho có màu mẽ” [11,9].
Nhƣ vậy, quan điểm của giáo sƣ Dƣơng Quảng Hàm rất rõ ràng:
tục ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại, dùng để diễn đạt một ý
tƣởng, và tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo
điều gì. Ngƣợc lại, thành ngữ là “có sẵn để tiện dùng” mà thôi. Tuy
nhiên, định nghĩa trên của giáo sƣ Dƣơng Quảng Hàm vẫn chƣa đƣa ra
đƣợc những tiêu chí để phân định một cách minh xác hai khái niệm tục
ngữ và thành ngữ.
1.1.2. Quan điểm của giáo sư Vũ Ngọc Phan
Mặc dù cũng tán thành ý kiến của giáo sƣ Dƣơng Quảng Hàm
nhƣng giáo sƣ Vũ Ngọc Phan lại cho rằng “định nghĩa nhƣ vậy là không
đƣợc rõ, vì nếu thế, tác dụng của thành ngữ cũng không khác gì tác dụng
của tục ngữ” [32,38]. Ông cho rằng cần phải căn cứ vào nội dung mới có
thể phân biệt đƣợc câu nào là tục ngữ, câu nào là thành ngữ. Quan điểm
của Vũ Ngọc Phan rất rõ ràng: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn
vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có
khi là một sự phê phán. Còn thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một

hoàn chỉnh mà muốn thành câu thì phải thêm vào thành ngữ những thành
phần khác. Trái lại, tục ngữ thì chắc chắn là một hay nhiều mệnh đề hoàn
chỉnh.
- Về nội dung, thành ngữ đƣợc thêm vào lời nói cho bóng bẩy
thêm, đó là lối nói ví von của nhân dân thƣờng dùng với tính chất chung

15

là ngắn gọn, cô đọng và chín chắn. Tục ngữ là câu nói hoàn chỉnh về một
vấn đề, một ý niệm đã đƣợc thể nghiệm và công nhận là một chân lý với
nội dung rất súc tích [30,275].
Từ những phân tích trên, hai ông đã đƣa ra kết luận:
Tục ngữ là câu nói thƣờng ngắn gọn có vần hoặc không có vần, có
nhịp điệu hoặc không có nhịp điệu đúc kết kinh nghiệm sản xuất hoặc đấu
tranh xã hội, rút ra một chân lý phổ biến, ghi lại một nhận xét về tâm lý,
phong tục tập quán của nhân dân. Tục ngữ do nhân sáng tác và đƣợc toàn
thể xã hội công nhận [30,275].
1.1.4. Quan điểm của giáo sư Chu Xuân Diên
Cùng quan điểm với giáo sƣ Vũ Ngọc Phan, trong cuốn Lịch sử
văn học Việt Nam – Văn học dân gian (tập 2), giáo sƣ Chu Xuân Diên đã
viết: “Sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ thường là sự khác nhau
cả về nội dung, cả về cấu tạo ngữ pháp của hai loại hình đó. Mỗi thành
ngữ là một tổ hợp từ nằm trong một vế câu hoàn chỉnh, là một bộ phận
cấu thành của câu. Bản thân mỗi thành ngữ thường không đưa ra một kết
luận gì, nó chỉ có nội dung trong khuôn khổ của câu mà nó là một bộ
phận cấu thành, trong khi bản thân mỗi câu tục ngữ đã có một nội dung
trọn vẹn được khuôn đúc lại trong một mệnh đề tuy rút ngắn nhưng hoàn
chỉnh” [17,13]
Ông cùng nhóm tác giả cuốn Tục ngữ Việt Nam cũng cho rằng:
“Cần phải xét thành ngữ và tục ngữ không phải chỉ như hai hiện tượng

Tác giả bài báo đã cho rằng có thể tìm ra đƣợc những đặc điểm khu
biệt rõ ràng giữa tục ngữ và thành ngữ ở cả phƣơng diện nội dung lẫn
hình thức. “Có thể nói nội dung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng
còn nội dung của tục ngữ mang tính chất quy luật. Từ sự khác nhau cơ
bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau về hình thức ngữ pháp, về năng
lực hoạt động trong chuỗi lời nói…. Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành
ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Tục ngữ thì
khác hẳn. Mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu”.

17

Cũng nhƣ giáo sƣ Vũ Ngọc Phan, tác giả Nguyễn Văn Mệnh cũng
đã phân biệt tục ngữ và thành ngữ dựa trên hai tiêu chí nội dung và hình
thức. Cái mới của Nguyễn Văn Mệnh ở đây là ông đã chứng minh đƣợc
rằng “nếu áp dụng hai tiêu chí đó một cách có phân tích trên cơ sở lý giải
những hiện tượng cụ thể, thì nhất định sẽ làm nảy sinh những yêu cầu đối
với việc xác định bản thân những tiêu chí ấy một cách khoa học, trước khi
dùng nó để lý giải các hiện tượng khoa học.” [25]
1.1.6. Quan niệm của Cù Đình Tú qua bài báo “Góp ý kiến về sự phân
biệt thành ngữ với tục ngữ”[39]
Theo Cù Đình Tú, cần phải có một tiêu chí khác để xác định ranh
giới giữa tục ngữ và thành ngữ vì “thực ra, xét về nội dung, tục ngữ cũng
như thành ngữ đều là sự đúc kết kinh nghiệm, là kết tinh trí tuệ của quần
chúng, đều từ sự khái quát hoá hiện thực để rút ra bản chất quy luật mà
có”. Ông đã viết trong bài báo của mình rằng: “Thành ngữ là một hiện
tƣợng ngôn ngữ. Tục ngữ xét về một mặt nào đó cũng là một hiện tƣợng
ngôn ngữ. Giải quyết các hiện tƣợng ngôn ngữ cần phải dựa vào những
căn cứ ngôn ngữ học. Một trong những thành tựu của ngôn ngữ học hiện
đại là chỉ ra sự khác nhau và mối quan hệ giữa kết cấu và chức năng.
Theo chỗ chúng tôi suy nghĩ, sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục

“ngữ mang chức năng thông báo” nhằm phân biệt với các quán ngữ là
những “ngữ mang chức năng nhấn mạnh, đƣa đẩy, rào đón” với thành
ngữ là “những ngữ mang chức năng định danh” [9,17]. Tuy nhiên trong
cuốn “Từ vựng học tiếng Việt” (1985) giáo sƣ Nguyễn Thiện Giáp đã có
những sửa đổi nhƣ sau: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính
hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm. Ví dụ: chó ngáp phải ruồi, hồn
xiêu phách lạc…Bên cạnh nội dung trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng kèm
theo các sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định…” [10,85]. Trong khi đó thì
“Các tục ngữ cũng được dùng lặp đi lặp lại nhiều lần trong lời nói như một
đơn vị có sẵn; nhưng khác với thành ngữ ở chỗ nghĩa của tục ngữ bao giờ
cũng là một phán đoán. Về mặt nội dung, nghĩa của tục ngữ gần với cụm từ

19

tự do, bởi vì nó không biểu thị một khái niệm như thành ngữ, mà biểu thị
một tổ hợp khái niệm” [10,80].
Nhƣ vậy để định nghĩa cho thật đầy đủ, thật triệt để khái niệm tục
ngữ không phải là việc làm giản đơn nếu không muốn nói là khá phức
tạp. Qua các quan điểm trên đây, chúng tôi thấy rằng đa số các ý kiến
không mâu thuẫn nhau, không loại trừ nhau mà chẳng qua chỉ là vì xuất
phát từ những tiêu chí mang tính chuyên môn khác nhau nên các nhà
nghiên cứu đƣa ra các định nghĩa khác nhau mà thôi. Thực ra, với hầu hết
ngƣời Việt Nam, dù không đƣợc biết đến những định nghĩa trên của các
nhà chuyên môn thì họ vẫn có thể hiểu đƣợc một cách cơ bản đâu là
thành ngữ đâu là tục ngữ. Có thêm những định nghĩa của các nhà chuyên
môn, ngƣời ta lại có đƣợc cơ sở khoa học dể căn cứ vào đó mà phân loại
thành ngữ tục ngữ một cách dễ dàng hơn. Đặc biệt, những định nghĩa này
đóng vai trò rất quan trọng đối các trƣờng hợp mà ranh giới giữa các khái
niệm khó xác định.
1.2. Quan niệm về ca dao

Trong giới nghiên cứu, trong các sách sƣu tầm, so với từ ca dao, từ
dân ca xuất hiện muộn hơn, khoảng những năm 50 của thế kỷ XX. Dân
ca đƣợc chính thức sử dụng bằng sự hiện diện trong cuốn “Tục ngữ và
dân ca Việt Nam” của Giáo sƣ Vũ Ngọc Phan in lần đầu tiên vào năm
1956.
Sau đây là quan niệm về ca dao của một số nhà nghiên cứu.
1.2.1.Định nghĩa của giáo sư Dương Quảng Hàm
Trong “Việt Nam văn học sử yếu”, giáo sƣ Dƣơng Quảng Hàm đã
định nghĩa về ca dao nhƣ sau: “ Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có
chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả
tính tình phong tục của người bình dân. Bởi thế ca dao cũng gọi là phong
dao (phong: phong tục) nữa. Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là
ai; chắc lúc ban đầu cũng do một người vì có cảm xúc mà làm nên, rồi
người sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi đến bây giờ” [11, 9-10].

21

1.2.2.Quan niệm của giáo sư Vũ Ngọc Phan
Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt. “Ca dao là những bài văn
vần do nhân dân sáng tác. Cũng như tục ngữ, ca dao không rõ tác giả là
ai, được lưu truyền bằng miệng và cũng được phổ biến rộng rãi trong
nhân dân”, còn “dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định. Dân ca
khác với ca dao là nó chỉ được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định,
trong những nghề nhất định hay trong những địa phương nhất định”
[35,140]. Tuy nhiên, theo ông, nếu “xét về nguồn gốc và bản chất, ca dao
và dân ca không khác nhau mấy. Có nhiều câu ca dao được phổ vào
nhạc, biến thành bài dân ca” [35,140] và ngƣợc lại, “có một số bài dân
ca biến thành ca dao. Khi ca dao và dân ca chuyển hình thức như vậy thì
nội dung của nó vẫn giữ nguyên, chỉ thêm hay bớt một số tiếng đệm và
tiếng láy” [35,141].

đƣợc phổ biến rộng rãi, đƣợc lƣu truyền qua nhiều thế hệ mang những
đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách. Và ca dao đã trở thành
một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian. Đối với ca dao, ngƣời ta
không chỉ hát mà còn ngâm, đọc, xem bằng mắt thƣờng (khi ca dao đã
đƣợc ghi chép, biên soạn từ cuối thế kỷ XVIII)
1.2.5. Tóm lại, có thể thấy, trong quan niệm của các nhà Nho có sƣu
tầm ghi chép ca dao cũng nhƣ trong quan niệm của giới nghiên cứu văn
học dân gian, thuật ngữ ca dao thƣờng đƣợc hiểu theo ba nghĩa rộng hẹp
khác nhau nhƣ sau:
a. Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lƣu hành
phổ biến trong dân gian, có hoặc không có khúc điệu.
b. Ca dao là danh từ chỉ những tác phẩm ngôn từ (phần lời ca) của
dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đƣa hơi).
c. Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó cứ
tƣớc bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đƣa hơi… thì sẽ đều là ca dao. Ca dao
là những sáng tác văn chƣơng đƣợc phổ biến rộng rãi, đƣợc lƣu truyền
qua nhiều thế hệ mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong

23

cách. Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân
gian [18, 11-12]
Trong luận văn này, chúng tôi tập hợp những bài ca dao hiểu theo
nghĩa thứ hai.
2.NỘI DUNG CỦA TỤC NGỮ, CA DAO NÓI VỀ KINH NGHIỆM SẢN XUẤT
Việt Nam là quốc gia nằm ở góc tận cùng phía đông nam châu Á.
Chính vị trí địa lý này đã quy định nƣớc Việt Nam là một nƣớc nông
nghiệp điển hình với hai nghề chủ đạo là trồng trọt và chăn nuôi.
Từ xa xƣa, khi mà cuộc sống còn rất nghèo nàn, lạc hậu, khi mà kỹ
thuật chƣa phát triển, chữ viết chƣa có… con ngƣời sinh sống và tồn tại

tinh tế của nhân dân Việt Nam. Nghề nông, nhất là nông nghiệp lúa nƣớc
sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều. Không chỉ phụ thuộc vào một
hai hiện tƣợng riêng lẻ nào mà là cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả: trời,
đất, nắng, mƣa,… Cho nên, ngƣời Việt có câu: “Người ta đi cấy lấy công,
Đây tôi đi cấy còn trông nhiều bề. Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm. Trông cho chân cứng đá
mềm. Trời êm bể lặng mới êm tấm lòng.”
Sống với thiên nhiên, dần dần ngƣời nông dân quen với mây mƣa,
sấm chớp, nóng rét… Tất cả những hiện tƣợng ấy đều đƣợc ghi chép
thành ca dao, tục ngữ. Trong đa số trƣờng hợp, nhân dân ta dự đoán thời
tiết qua việc chiêm nghiệm những triệu chứng báo trƣớc sự thay đổi của
thời tiết. Họ đã đúc kết những kinh nghiệm về mây “Mây kéo xuống bể
thì nắng chang chang”, “Mây kéo lên ngàn thì mưa như trút”, “Mây
thành vừa hanh vừa giá”, “Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa”…; về
gió: “Trống tháng bảy chẳng hội thì chay, Tháng sáu heo may chẳng
mưa thì bão”, “Tháng bảy heo may, Chuồn chuồn bay thì bão”’, “Tháng
tám gió may tưới đồng.”… Thậm chí về cả những hiện tƣợng điện trong
khí quyển và những hiện tƣợng quang học:“Tháng mười sấm rạp, Tháng
chạp sấm động”, “Ráng mỡ gà thời gió, ráng mỡ chó thời mưa”, “Ráng
vàng thời nắng, ráng trắng thời mưa.”, “Mống cao gió táp, mống rạp
mưa dầm”; có khi nhân dân lại xem phong vũ biểu qua những phản ứng

25

động trời của cây cỏ loài vật. Đây là những kinh nghiệm nhƣng cũng là
những nhận xét tinh vi của những khối óc thông minh: “Tua rua mọc:
vàng cây héo lá, Tua rua lặn: chết cá chết tôm”, “Kiến cánh vỡ tổ bay ra,
Bão táp mưa sa gần tới.”, “Mùa hè đương nắng, cỏ gà trắng thì mưa”…
Chính nhờ nắm bắt đƣợc quy luật của thiên nhiên nên con ngƣời
hoàn toàn khả năng chủ động trong việc chinh phục thiên nhiên. Chinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status