Đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác Hồ - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ THUÝ KIỀU ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA
CA DAO VỀ BÁC HỒ LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
TS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP

TP. HỒ CHÍ MINH - 2010
THƯ
VIỆN

LỜI CẢM ƠN

Chủ tịch Hồ Chí Minh là đề tài vô tận cho thơ ca. Tìm hiểu về Bác bao giờ cũng là một
nhu cầu lớn và khẩn thiết của nhân dân. Hàng loạt các bài viết, các công trình nghiên cứu về
cuộc đời Bác, tấm gương đạo đức của Bác, sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp thơ văn của
Bác…ra đời. Hình tượng Bác được xây dựng chân thật và đẹp đẽ trong nhiều loại hình nghệ
thuật như: hội họa, âm nhạc, điện ảnh, điêu khắc, sân khấu, …nhưng có lẽ thành công nhất là
thơ ca, trong đó có ca dao.
Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật lịch sử thời hiện đại được ca dao hướng đến
để nhận thức. Ca dao về Bác chiếm số lượng khá lớn trong mảng ca dao hiện đại. Thế nhưng,
hiện nay bộ phận ca dao về Người chưa được nghiên cứu bao nhiêu. Để hiểu sâu hơn mảng ca
dao này, chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác Hồ.
Ca dao bày tỏ tình cảm, nguyện vọng, suy nghĩ của nhân vật trữ tình nhưng không phải
chỉ bày tỏ tình cảm cá nhân mà còn đại diện cho quảng đại quần chúng nhân dân. Cho nên,
khảo sát đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tình cảm
của nhân dân đối với Bác.
Nghệ thuật ca dao nói chung và ca dao về Bác nói riêng rất đa dạng. Thể thơ, kết cấu,
ngôn ngữ, hình ảnh, thời gian, không gian…tất cả những đặc điểm ấy đã được các tác giả dân
gian vận dụng khá linh hoạt, góp phần làm nổi bật tình cảm của Bác đối với nhân dân cũng như
tình cảm của nhân dân đối với Bác.
Hơn nữa, đặc điểm nghệ thuật của ca dao thì hầu như đã được các nhà nghiên cứu chú ý
tới từ lâu, phân tích, mổ xẻ rất nhiều. Riêng về đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác thì rải
rác chỉ một số bài viết. Chính vì thế, người viết mong muốn với đề tài luận văn này có thể góp
một phần nhỏ vào việc nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật của bộ phận ca dao nói trên.
2. Lịch sử vấn đề
Việc tìm hiểu ca dao về Bác đã và đang được nhiều người quan tâm. Liên quan đến đề tài
“Đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác Hồ” có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau đây:
Thi Nhị có bài “Bác Hồ và nguồn ca dao mới” đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian số
4/1984. Bài viết chủ yếu nói về tình cảm mãnh liệt, sâu đậm của nhân dân đối với Bác Hồ kính
yêu qua ca dao. Tác giả cũng đề cập đến một đặc điểm về ngôn ngữ của mảng ca dao này, đó là
việc sử dụng phương pháp tỉ dụ quen thuộc của ca dao cổ truyền để khắc họa một cách chân
thực, gần gũi, mộc mạc hình ảnh của lãnh tụ. “ …với phương pháp tỉ dụ quen thuộc của ca dao

so sánh thứ hai là “so sánh công ơn của Bác với những gì thiêng liêng nhất, kì vĩ nhất trong
cuộc sống trần gian và trong thiên nhiên vũ trụ”[ 58, 17]. “Để tỏ rõ niềm tin của mình đối với
Bác Hồ, một lần nữa qua ca dao, nhân dân ta đã dùng thủ pháp nghệ thuật so sánh. So sánh
Bác như sao Bắc Đẩu, như vầng Thái Dương soi đường chỉ lối cho nhân dân ta đi lên” [58, 30]
Với bài viết “Tìm hiểu công thức truyền thống trong một số bài ca dao mới Nam Bộ về
hình ảnh Bác Hồ” đăng trên website
, Trần Tùng Chinh đã
cho thấy ca dao về Bác có sự kế thừa một số công thức truyền thống của ca dao cổ truyền. “Các
bài ca dao mới nói chung và ca dao về Bác nói riêng còn thiếu sự trau chuốt nhưng lại thừa sự
mộc mạc tự nhiên. Tuy nhiên, những công thức truyền thống quen thuộc của ca dao xưa vẫn in
dấu và làm nên chất dân gian trong những bài ca” [4]
Theo Hà Công Tài trong bài viết “Vấn đề sưu tầm nghiên cứu thơ ca dân gian hiện
đại” đăng trong cuốn “Một thế kỷ sưu tầm nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian”, Nxb Văn
hóa thông tin, Hà Nội – 2001, thì mảng ca dao về Bác chưa được nghiên cứu bao nhiêu, dù đây
là bộ phận có khối lượng lớn nhất trong ca dao hiện đại. Khi nghiên cứu về bộ phận này, Hà
Công Tài nhận thấy rằng chúng có nhiều đặc điểm rất tiêu biểu cho ca dao thời hiện đại, từ cách
cảm nhận và phản ánh cuộc sống tới đặc điểm thi pháp, từ hoàn cảnh lưu truyền tới sự gắn bó
với truyền thống ca dao của dân tộc trong suốt trường kỳ lịch sử.
Nhìn chung, ở các công trình nghiên cứu trên, bên cạnh việc bàn về nội dung thì cũng
bàn đến thi pháp của ca dao về Bác, trong đó có một số đặc điểm nghệ thuật như kết cấu, ngôn
ngữ, hình ảnh. Tuy nhiên, vẫn chưa có một chuyên luận nào về đặc điểm nghệ thuật của ca dao
về Bác, nếu có thì có lẽ chúng tôi chưa đọc được. Đa phần, khi bàn về nghệ thuật của mảng ca
dao này, các nhà nghiên cứu nói về sự kế thừa các công thức truyền thống trong kết cấu, các
biện pháp tu từ trong ngôn ngữ và các hình ảnh thiên nhiên đã trở thành biểu tượng. Còn các
đặc điểm nghệ thuật khác thì người nghiên cứu ít chú ý.
Kế thừa thành tựu của người đi trước, chúng tôi phát triển thành một chuyên luận về Đặc
điểm nghệ thuật của ca dao về Bác Hồ. Chúng tôi hi vọng đề tài sẽ góp thêm một tiếng nói
mới về đặc điểm nghệ thuật của bộ phận ca dao này.
3. Mục đích nghiên cứu
Đây là một đề tài chưa được nghiên cứu chuyên sâu, vì thế, mục đích của việc nghiên

5”,“ Ca dao chiến sĩ -tập 6”, “ Ca dao Đồng Tháp Mười”, “ Ca dao sưu tầm - Từ 1945 đến nay”,
ca dao Nam bộ, ca dao Nam Trung bộ, ca dao dân ca đất Quảng, ca dao Hải Hưng, ca dao ngoại
thành…
Sau khi tổng hợp, loại bỏ những bài trùng lặp, chúng tôi thống kê được tất cả 521 bài. Ở
luận văn này, người viết chỉ khảo sát ca dao về Bác Hồ của người Kinh không khảo sát ca dao
của dân tộc thiểu số.
5. Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, người viết sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: hệ thống,
so sánh, liên ngành, thống kê.
Mỗi bài ca dao được sản sinh và tồn tại theo hệ thống ca dao cùng thể loại. Do vậy,
phương pháp hệ thống và so sánh được tiến hành dựa trên nguyên lý về mối quan hệ giữa cái
chung và cái riêng, dùng cái chung (ca dao) để hiểu cái riêng (ca dao về Bác) và từ cái riêng (ca
dao về Bác) để hiểu cái chung (ca dao), thấy được sự phong phú đa dạng và hấp dẫn của ca dao.
Đặt ca dao về Bác trong hệ thống của nó để phát hiện ra các đặc điểm chung và nét độc đáo
riêng về nghệ thuật của nó. Cụ thể là đặt ca dao về Bác vào hệ thống ca dao nói chung, hệ thống
ca dao hiện đại nói riêng. Phương pháp này giúp xác định vị trí hay “tọa độ” của ca dao về Bác
trong mối quan hệ với các bộ phận ca dao khác như ca dao cổ truyền, ca dao hiện đại để giúp
đánh giá đầy đủ giá trị và ý nghĩa của bộ phận ca dao về Bác. Những đặc điểm chung của thể
loại chi phối bộ phận ca dao này rất nhiều về mặt nghệ thuật. Từ những đặc điểm nghệ thuật
của thể loại ca dao mà nhận ra được những đặc điểm nghệ thuật phổ biến nhất của bộ phận ca
dao về Bác (chẳng hạn về dung lượng, đề tài, thủ pháp nghệ thuật). Đồng thời bộ phận ca dao
này chắc chắn có những đặc điểm riêng về mặt nghệ thuật. Từ những điểm chung và điểm riêng
đó mà xác định vị trí của nó trong một hệ thống và đánh giá được ý nghĩa của nó trong hệ thống
đó. Ca dao về Bác không tồn tại biệt lập trong nền văn học dân gian nên không thể thiếu
phương pháo so sánh khi nghiên cứu. Người viết sẽ tiếp cận đa diện để hiểu rõ bản chất và vị
trí của bộ phận ca dao này trong mối tương quan đa chiều với các bộ phận ca dao khác. Nhìn từ
nhiều góc độ sẽ giúp đánh giá chính xác và toàn diện về đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác.
Trước hết người viết so sánh đặc điểm nghệ thuật giữa các bài ca dao về Bác với nhau để tìm ra
nét chung tiêu biểu. Sau đó, còn so sánh với ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại về mặt kết cấu,
thể loại và ngôn ngữ.

dao, đặc biệt là ca dao hiện đại. Lí giải vì sao bộ phận văn học này lại có sức sống mạnh mẽ
trong lòng quần chúng nhân dân hơn 70 năm qua. Đến nay, bộ phận ca dao này vẫn còn sống
động và giúp chúng ta hiểu thêm, yêu thêm đời sống tâm tư, cách nghĩ, lối sáng tác tài hoa của
nhân dân trong việc ca ngợi người anh hùng.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngòai phần Mở đầu, Kết luận, Nội dung luận văn có 3 chương:
Chương 1 : Khái quát về ca dao và ca dao về Bác Hồ.
Trong chương này, chúng tôi giới thiệu một cách chung nhất về khái niệm ca dao; giá trị
nội dung cũng như nghệ thuật của ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại; khái niệm ca dao về Bác
Hồ, nội dung, đối tượng sáng tác, hoàn cảnh sáng tác, số lượng tác phẩm của ca dao về Bác Hồ.
Chương 2 : Thể thơ và kết cấu của ca dao về Bác Hồ.
Đặc điểm thể thơ được triển khai với 3 nội dung: thể lục bát, thể song thất lục bát và thể
hỗn hợp. Đặc điểm kết cấu gồm 3 nội dung: kết cấu đối thoại và kết cấu trần thuật; kết cấu đối
lập và kết cấu song hành tâm lý; kết cấu thu hẹp dần hình tượng và kết cấu miêu tả trực tiếp.
Chương 3 : Ngôn ngữ của ca dao về Bác Hồ
Chúng tôi tiếp tục đề cập đến một số đặc điểm về ngôn ngữ: sự kết hợp giữa ngôn ngữ
toàn dân và ngôn ngữ địa phương; sự kết hợp giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời
thường; cách sử dụng tên riêng chỉ địa điểm; cách sử dụng ngôn ngữ trùng lặp và cách sử dụng
các biện pháp tu từ.
Cuối luận văn có Phụ lục gồm: giới thiệu đầy đủ các văn bản ca dao khảo sát và các bảng
thống kê số liệu có liên quan đến đề tài:
- Phụ lục 1 thống kê tổng số những bài ca dao về Bác Hồ, kết quả tổng số bài ca dao
không trùng lặp là 521 bài.
- Phụ lục 2 là bảng thống kê các số liệu về thể thơ của ca dao về Bác và ca dao hiện đại

- Phụ lục 3 là bảng thống kê tần số xuất hiện của ngôn ngữ trùng lặp trong ca dao về Bác
- Phụ lục 4 là bảng thống kê tần số xuất hiện các hình ảnh: tự nhiên, thực vật và nhân tạo
trong ca dao về Bác.
Chu Xuân Diên nhận định: “Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán -Việt. Theo cách hiểu
thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng
láy…hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca”[29, 436].
Nguyễn Xuân Kính cho rằng: “Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến
rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang những đặc điểm nhất định và bền vững về mặt
phong cách. Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian”[32, 79].
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học thì nhận
định: "dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân
ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi).” [24,26].
Ở mỗi tác giả, tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng cùng thống nhất nhau về quan điểm:
ca dao là tiếng hát tâm tình về cuộc sống của nhân dân lao động, là những sáng tác có vần điệu
được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Như vậy, giữa ca dao và dân ca không có ranh giới rõ rệt. Sự phân biệt giữa ca dao và
dân ca chỉ là ở chỗ khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đến những lời thơ dân gian, còn
khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến cả những làn điệu, những thể thức hát nhất định nữa.
Dựa vào thời điểm xuất hiện, có thể chia ca dao làm hai bộ phận chính: ca dao cổ truyền
và ca dao hiện đại.
Bàn về khái niệm ca dao cổ truyền, Chu Xuân Diên cho rằng: “…đó là bộ phận những
câu hát đã trở thành cổ truyền của nhân dân. Gọi là cổ truyền bởi vì những câu hát này được
phổ biến rộng rãi và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Gọi là cổ truyền, bởi vì những câu hát này
mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách…trở thành khuôn mẫu cho việc
sáng tác thơ ca của nhân dân ở các thế hệ sau”[29, 437]
Nguyễn Hằng Phương nhận định: “ ca dao cổ (hay ca dao cổ truyền) là khái niệm chỉ
riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ của dân ca (không kể tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)
được sáng tác từ cách mạng tháng Tám trở về trước”[71].
Tóm lại có thể nói: ca dao cổ truyền (hay còn gọi là ca dao cổ, ca dao truyền thống, ca
dao cũ, ca dao xưa) là những bài ca dao sáng tác trước cách mạng tháng Tám, mang những đặc
điểm nhất định trở thành khuôn mẫu cho việc sáng tác ca dao của nhân dân ở các giai đoạn sau.
Về khái niệm ca dao hiện đại, trong Vấn đề nghiên cứu văn học dân gian hiện đại, Chu
Xuân Diên cho rằng “Chúng tôi dùng khái niệm văn học dân gian hiện đại hay văn học dân

tháng tám lực lượng và hình thức sáng tác của ca dao có sự thay đổi. Sau cách mạng, công tác
diệt giặc dốt, bình dân học vụ phát triển làm cho hành chục triệu người dân biết đọc, biết viết
trong thời gian ngắn sau cách mạng cùng với truyền thống yêu thích thi ca vốn có lâu đời của
dân tộc, đã tạo khả năng và điều kiện sáng tác cho nhiều người trong mọi tầng lớp nhân dân.
Phần lớn người sáng tác ca dao sau thời kì này là nông dân, bộ đội. Bên cạnh đó là công nhân,
trí thức, các tầng lớp khác kể cả các em thiếu nhi, các cụ phụ lão, các bà mẹ chiến sĩ, các chị
dân quân du kích, tự vệ… Sáng tác ca dao được truyền miệng hoặc viết thành văn, có hoặc
không có tên tác giả viết trên báo liếp, báo tường, báo tay của bộ đội, của các đoàn thể nhân
dân hoặc in trên báo chí của Trung ương hoặc địa phương trong cả nước. Như vậy, hình thức
sáng tác khác biệt nhất của ca dao hiện đại và ca dao cổ truyền chính là có một số bài ca dao
được sáng tác dưới hình thức là chép lại rồi sau đó mới truyền miệng.
1.1.2. Giá trị nội dung
Ca dao cổ truyền là những sáng tác ca dao ra đời từ cách mạng tháng Tám trở về trước.
Trước cách mạng, đất nước ta chịu sự đô hộ nặng nề của chế độ phong kiến. Trong giai đoạn
đó, ca dao chủ yếu phản ánh tình yêu nam nữ, lên án tố cáo những mặt trái của xã hội cũ, không
có những bài ca ngợi lãnh tụ, người anh hùng. Còn ca dao hiện đại là những sáng tác ra đời sau
cách mạng tháng Tám. Thời kì này, dân tộc ta đã thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến phương
Bắc nhưng lại chịu sự đàn áp của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Cho nên, ca dao giai đoạn này
chủ yếu phản ánh cuộc kháng chiến chốnh Pháp, Mỹ của dân tộc và bước đầu tiến lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Tóm lại, vai trò của ca dao cổ truyền là nhằm giải tỏa nỗi lòng của người bình
dân. Từ đó, những con người lao động hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau hơn. Đồng thời, qua ca
dao, người bình dân cũng muốn lên án cái xấu, cái ác, đề cao cái tốt, cái thiện. Phải nói rằng,
đến giai đoạn ngày nay, mảng ca dao cổ truyền vẫn còn nguyên giá trị của nó. Ca dao hiện đại
tiếp tục kế thừa và phát huy ca dao cổ truyền nhưng lồng vào đó những nội dung mới phù hợp
với điều kiện và hoàn cảnh mới.
Ca dao cổ truyền phản ánh những sinh hoạt hằng ngày, những tâm tư, tình cảm của nhân
dân lao động bị áp bức bóc lột. Đó là tâm trạng đau khổ, uất ức, thái độ phản kháng của nhân
dân lao động bị đè nặng dưới ách thống trị nặng nề của giai cấp địa chủ và chính quyền phong
kiến: Gánh cực mà đổ lên non / Còng lưng mà chạy cực còn theo sau; Trời sao trời ở không
cân / Kẻ ăn chẳng hết người lần chẳng ra;…

ít người hay nhiều người; miền xuôi hay miền ngược; thành thị hay nông thôn; ở tiền tuyến hay
hậu phương,… ai ai cũng thể hiện lòng nồng nàn yêu nước, căm thù giặc sâu sắc: Thù nhà, thù
nước, thù chung / Chung vai đấu cật một lòng giết Tây; Bao giờ hết cỏ Tháp Mười / Thì dân
Nam mới hết người đánh Tây; Cho dù Mỹ Ngụy trăm tay / Quyết không chia được nước này
làm hai; Cho dù cạn nước Đồng Nai / Nát chùa Thiên Mụ không phai lòng vàng…
Cùng với phong trào chống giặc ngoại xâm, toàn dân ta còn chống giặc đói và giặc dốt.
Ca dao về tăng gia sản xuất cũng như ca dao về Bình dân học vụ trong giai đoạn kháng chiến
chống Pháp rất nhiều.
“Thống kê chưa đầy đủ, tỉ lệ ca dao về tăng gia sản xuất, tiết kiệm chiếm 10,35% và về
bình dân học vụ, học hành, diệt giặc dốt chiếm 10,15 % tổng số ca dao chống Pháp” [9, 28]:
Thu về ngọn cỏ đơm hoa / Người ra mặt trận thì ta ra đồng / Người ra trận đổ máu hồng / Ta
ra cánh đồng ta đổ mồ hôi / Rằng Hồ Chủ tịch bảo ta / Tăng gia sản xuất cũng là đánh Tây;
Chữ không có phấn có hồ / Mà sao khéo điểm khéo tô mặt người…
Sẽ là thiếu sót nếu không nói đến ca dao về thuế nông nghiệp, giảm tô, cải cách ruộng đất
và những hoạt động khác ở hậu phương. Mảng ca dao này có số lượng khá nhiều: Nông dân đã
nói là làm / Đã đi phải đến, đã bàn phải thông / Đã quyết là quyết một lòng / Đã phát là động,
đã vùng là lên / Đã lật, lật dưới lên trên / Đã chuyển là chuyển bốn bên chân trời; Bà con trong
xóm đổi công / Đêm đêm tát nước ngoài đồng vui ghê; Vì ai nên vợ xa chồng / Dân cày xa
ruộng đòn dông xa kèo;…
Một nội dung nữa khá nổi bật của ca dao hiện đại là tình cảm sâu sắc của nhân dân đối
với Đảng và nhất là đối với Bác Hồ. Đây là mảng cao dao chiếm số lượng lớn nhất trong ca dao
hiện đại: Nhớ ngày mồng ba tháng ba / Chính là ngày của Đảng ta ra đời / Đảng ra đời sáng
ngời mọi chỗ / Đảng ra đời lúa trổ nhiều bông; Bác, Đảng lập thành tên nước / Con cháu ta
tiến bước dưới cờ / Ta là con cháu Bác Hồ / Đánh tan Mỹ Ngụy cơ đồ về ta; Cụ Hồ ở giữa lòng
dân / Tuy xa, xa lắm, nhưng gần gần ghê…
Có lẽ bộ đội là người làm nhiều ca dao nhất trong hai cuộc kháng chiến. Họ viết về mình
và trước hết cho mình. Cho nên ca dao là tự tình, tự thuật, tự truyện của họ: Thằng Tây chớ cậy
xác dài / Chúng tao người nhỏ nhưng dai hơn mày; Con đi độc lập con về / Mẹ yên tâm nhé,
con về mẹ vui; Em về lo liệu việc nhà / Để anh yên dạ xông pha trận tiền; Ta đi trăng cũng đi
theo / Đường ta dốc núi đỉnh đèo trăng soi / Bây giờ trăng đã ngủ rồi / Ta đi lòng vẫn sáng

tình yêu nam nữ là hình thức trao đổi tình cảm giữa nam và nữ. Trai gái ở nông thôn thường
gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong những khi cùng nhau lao động, trong
những ngày hội hè, vui xuân. Hình thức thể hiện tập trung của sự giao duyên đó là những cuộc
hát đối đáp nam nữ. Ví dụ:
Đối đáp hai vế :
- Vào vườn hái quả cau non
Anh thấy em giòn muốn kết nhân duyên.
Hai má có hai đồng tiền
Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng ưa.
- Anh đà có vợ con chưa
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào.
Mẹ già anh để nơi nao
Để em tìm vào hầu hạ thay anh.
Đối đáp một vế :
- Hỡi cô cắt cỏ một mình
Cho anh cắt với chung tình làm đôi.
Cô còn cắt nữa hay thôi
Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng.
Song song đó là kết cấu trần thuật: Đói lòng ăn hột chà là / Để cơm nuôi mẹ mẹ già yếu
răng;…Bên cạnh đó, ca dao cổ truyền cũng hay sử dụng kết cấu đối lập: Tưởng rằng chị ngã
em nâng / Ai ngờ chị ngã, em bưng miệng cười;… và kết cấu đối ngẫu tâm lý: Lên non mới biết
non cao / Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy;… kết cấu thu hẹp dần hình tượng: Anh đi anh
nhớ quê nhà / Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương / Nhớ ai dãi nắng dầm sương / Nhớ ai
tát nước bên đường hôm nao;…
Ca dao không chỉ bắt gặp những cách nói trau chuốt, mượt mà, ý nhị, đầy chất thơ: Đêm
trăng thanh anh mới hỏi nàng / Tre non đủ lá đan sàn nên chăng? / Đan sàng thiếp cũng xin
vâng / Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng?; Nước chảy liu riu, lục bình trôi líu ríu / Anh thấy
em nhỏ xíu, anh thương…mà còn gặp những lời nói bình dân, đầy tính khẩu ngữ: Gánh cực mà
đổ lên non / Còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo; Chồng con là cái nợ nần / Chẳng thà ở vậy
nuôi thân béo mầm; Giàu thì thịt cá cơm canh / Khó thì lưng rau đĩa muối, cúng anh tôi đi lấy

Đảng đem ánh sánh ban ngày,
Soi lên cuộc sống cả hai: trẻ già.
Kết cấu thu hẹp dần hình tượng:
Cái cò cái vạc cái nông,
Nhặt cỏ ruộng đồng tát nước dùm tao.
Mồ hôi càng đổ tạt rào,
Khoai lúa thu vào càng trội hơn lên.
Tất cả cho Tổng động viên,
Phản công thắng lợi mau yên nước nhà.
Kết cấu đối ngẫu tâm lý:
Bể đông có lúc vơi đầy,
Mối thù đế quốc có ngày nào quên.
Ca dao hiện đại sử dụng nhiều hình ảnh: tự nhiên, thực vật, động vật và nhân tạo. Đặc
biệt, một số hình ảnh nhân tạo trong đời sống sinh hoạt thường nhật như: súng, cờ,
thuyền…xuất hiện với tần số cao. Tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là hình ảnh tự nhiên.
Ngôn ngữ ca dao hiện đại có sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ địa
phương, ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời thường. Cách kết hợp ấy tạo ra nhiều bài hay,
đẹp, thi vị: Đêm nay bóng núi nghiêng che / Anh canh, em gặt có ông trăng hiền sáng soi; Phá
Tam Giang nối đàng ra Bắc / Đèo Hải Vân hướng mặt vào trong; Trị Thiên đò dệt sang ngang /
Dệt thương, dệt nhớ, dệt đàng núi sông;…
Ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại không chỉ bấy nhiêu giá trị nghệ thuật. Do phạm vi
đề tài, chúng tôi chỉ điểm xuyết vài giá trị cơ bản có liên quan trực tiếp đến đề tài, làm nền cho
việc nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác Hồ.
1.2. Ca dao về Bác Hồ
1.2.1. Khái niệm
Ca dao về Bác Hồ là những bài ca dao do nhân dân khắp mọi miền đất nước sáng tác về
Bác từ sau cách mạng tháng Tám. Đây là một bộ phận của ca dao hiện đại. Ở đây, người viết
quan niệm ca dao về Bác là mảng ca dao bao gồm những bài ca trực tiếp bộc lộ tình cảm của
nhân dân đối với Bác: Có ai về chốn quê nhà / Gửi lời chúc thọ Cha già mến yêu; Đếm sao cho
hết vì sao / Kể sao hết được công lao Bác Hồ;… và cả những bài ca gián tiếp nói đến Bác, tức

dân tộc, là người cầm lái con thuyền dân tộc nên mối quan tâm đến sức khỏe của Bác còn thể
hiện lòng yêu nước của chúng ta. Vì thế, mối quan tâm ấy còn tăng gấp bội: Đường ra Việt Bắc
/ Xa lắc, xa lơ / Ai đi tôi gửi bức thư mấy hàng / Chúc Hồ Chủ tịch anh khang / Lãnh đạo dân
tộc trên đường đấu tranh; Chúc Cụ Hồ mạnh khỏe, vui tươi / Dắt dìu kháng chiến, giành độc
lập cho người Việt Nam; Chúng con ở bốn phương trời / Quay về hướng Cụ muôn lời chúc
mong / Dài lâu như suối như sông / Cụ Hồ sống mãi trong lòng chúng con;…
Kính yêu Bác, mong Bác mạnh khỏe sống lâu, hi vọng có một ngày nào sẽ được gặp
Bác… Đó là tình cảm, nguyện vọng chung của toàn dân ta. Nhưng có lẽ niềm mong mỏi ấy tha
thiết nhất ở đồng bào miền Nam. Nhân dân miền Nam khao khát được gặp Bác trong ngày
thống nhất đất nước: Đêm nằm con thấy chiêm bao / Thấy Hồ Chủ tịch đã vào nơi đây; Ngày
mai giải phóng quê mình / Miền Nam đón Bác thỏa tình ước mong; Mong ngày độc lập Cụ vô /
Thỏa lòng mong đợi, ước mơ đêm ngày; Miền Nam nhớ Bác vô cùng / Mong ngày đón Bác vào
trong Khánh Hòa;…
Như đã nêu trên, ca dao về Bác có những bài trực tiếp nói lên tình cảm của nhân dân đối
với Bác nhưng cũng có những bài nói về sự việc khác, qua đó gián tiếp nói về Bác.
Ca dao về Bác cũng nói nhiều đến anh bộ đội Cụ Hồ. Nhân dân ca ngợi anh bộ đội Cụ Hồ
cũng là ca ngợi Bác: Đồng bào trông thấy hoan hô / Hoan hô anh lính Cụ Hồ ngoan ghê / …Cụ
Hồ dân kính, dân yêu / Nên anh bộ đội dân chiều dân thương; Ai về yên Dưỡng, Hoành Mô /
mà xem quân lính Cụ Hồ sang sông / Đêm ngày mê mải chiến công / Thoáng trông như có cả
chồng em kia; Hôm qua sinh nhật Cụ Hồ / Bộ đội đánh thắng ăn to hai đồn;…
Tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng cũng được đề cập đến trong bộ phận ca dao này.
Tuy nhiên, tình yêu ấy trong ca dao về Bác không thấy có sự cấm đoán của giai cấp thống trị,
không có những quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” “ cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” …gây nên
những đau khổ bất hạnh cho đôi lứa mà tình cảm ấy vừa trong sáng, thủy chung, đậm đà vừa
gắn liền với tình yêu lãnh tụ, tình yêu nhân dân: Ai ơi chớ lấy chồng non / Chờ ngày độc lập lấy
“con Cụ Hồ”; Anh đi gìn giữ nước non / Tóc xanh em đợi lòng son em chờ / Anh đi làm lính Cụ
Hồ / Đò xưa, bến cũ đợi chờ đón anh; Cắt tấm lục đào em đề ba chữ/ Chữ trung với Bác, chữ
hiếu với mẹ, chữ nghĩa với anh / Dù xa xôi em vẫn giữ lòng thành / Có Bác chỉ đường dẫn lối
thì hai đứa mình sẽ gặp nhau;…
Cũng như ca dao hiện đại, ca dao về Người cũng thấy xuất hiện nội dung tăng gia sản

ca dao về Bác.
1.2.2.1. Theo vùng miền

Từ Cao-Bắc-Lạng đến mũi Cà Mau, từ Tây Nguyên đến Bình Trị Thiên, đâu cũng có
những câu ca dao về Bác, đâu cũng có lời hát nhắc nhở đến công ơn Người. Từ đỉnh núi cao
của rừng Việt Bắc, chúng ta nghe hát: Em về giã gạo ba giăng / Anh lên múc nước Cao Bằng
về ngâm / Đến ngày mười chín tháng năm / Gói thành đôi bánh đem dâng Bác Hồ. Giữa lòng
Thủ đô Hà Nội, tiếng hát về Bác lại cất lên Một chiều nắng ấm Thủ đô / Vui sao được thấy
Bác Hồ trồng cây. Đồng bào Quảng Bình, Vĩnh Linh, Đông Anh lúc nào cũng đinh ninh lời
dạy của Bác: Ca rằng: dân tuyến Vĩnh Linh / Ghi sâu lời Bác đinh ninh đời này; Bạc màu là đất
Đông Anh / Làm theo lời Bác vẫn xanh ruộng đồng. Người Tây Nguyên muôn đời nhớ ơn Bác:
Rừng Tây Nguyên muôn đời nhớ Bác / Đã khắc tên lên bạc đeo tay; Hòa Bình dốc thẳm non
cao / Có đi tiếp vận mới biết công lao Cụ Hồ; Trường Sơn dậy tiếng Bác Hồ / Đánh cho Mỹ
cút, đánh cho Ngụy nhào; Dù cho biển cạn non mòn / Lòng dân Thuận Hóa vẫn còn trơ trơ /
Vẫn là dân của cụ Hồ / Trọn đời theo mãi ngọn cờ vàng sao.Bình Trị Thiên : Đất Trị Thiên là
đất của Cụ Hồ / Đất cha ông chi thằng Bảo Đại mà kéo Tây qua đóng đồn. Trong kho tàng ca
dao-dân ca Đà Nẵng, hình ảnh Bác Hồ chiếm một tỉ lệ không nhỏ. Điều đó có được là do tư
tưởng cách mạng của Bác đã gắn với cuộc sống và chiến đấu của người dân Đà Nẵng, gắn với
những biến đổi to lớn diễn ra trên quê hương "Trung dũng kiên cường" và đồng thời gắn với
những biến cố trọng đại, hào hùng của lịch sử dân tộc nói chung và Đà Nẵng nói riêng. Người
Đà Nẵng với Bác trước hết là lòng kính yêu, ngưỡng mộ: Những đêm đại hội quê hương/ Cháu
ngồi nhớ Bác tình thương ngọt ngào / Cháu nhìn vầng trán cao cao / Nhìn đôi mắt Bác như sao
sáng ngời / Bác nhìn cháu nhỏ khắp nơi / Soi gương bóng tối cho đời thắm tươi; Bác Hồ trong
trái tim dân / Tuy xa nghìn dặm nhưng gần gần ghê…và sau đó là niềm tự hào, tin tưởng: Giặc
kia khủng bố lu bù / Lòng dân vẫn một mùa thu Bác Hồ / Tình quân dân, nghĩa đồng bào /
Ngàn câu cổ vũ ghi vào trong tim; Ngày nay được thống nhất sơn hà / Nhìn xem cờ đỏ thật là
vinh quang / Đồng bào ơi, nhớ lời Bác dặn đinh ninh / Quân dân đoàn kết, độc lập, hòa bình
muôn năm;… Bình Định: Nước sông Trà in hình núi Ấn / Dừa Trung Lương soi bóng Lại
Giang / Nhìn lên cờ đỏ sao vàng / Lòng dân ơn Bác muôn vàn Bác ơi. Phú Yên: Từ Vạn Ninh
đến Can Lâm / Lòng dân đồng điệu đồng tâm với Cụ Hồ. Khánh hòa: Gió nào bằng gió Tu

1.2.2.2. Theo tầng lớp
Tác giả những bài ca dao về Bác không phân biệt tầng lớp, địa vị, ngành nghề. Họ là bộ
đội, dân công, thiếu snh quân, công nhân, nông dân, thầy giáo, học sinh,…
Có lẽ đối tượng làm ca dao về Bác nhiều nhất chính là các anh bộ đội, mà ngày ấy nhân
dân ưu ái, tin yêu gọi là anh bộ đội Cụ Hồ. Các anh sáng tác ca dao về Bác trong mọi hoàn
cảnh: lúc hành quân ra mặt trận, mặc dù “đường xa, súng nặng oằn vai”, “gian nan cơm vắt
muối vừng”, mặc dù phải đi “trăm núi ngàn khe”, “qua mấy dốc mấy đèo”, nhưng vẫn luôn
nghe “lời Bác vang vọng non sông”, luôn “thấy Bác mãi còn dõi theo”, tâm hồn luôn rực sáng
lý tuởng cách mạng cao cả mà Bác và Đảng đã truyền thụ, lại thương “Bác vì đất nước, vì niềm
vui chung” mà “tóc xanh bạc trắng đôi miền” nên anh đã hạ quyết tâm: Dù cho giọt máu cuối
cùng / Con tin vào Bác vững lòng tiến lên / Con thề: diệt sạch xâm lăng / Hai miền Nam Bắc
cùng xanh đất trời; Bác ơi cháu quyết cắm cờ / Lên trên đồn giặc như thơ Bác mừng. Cũng
vậy anh bộ đội ở xa, giữa bốn bề mênh mông sông nước, thiếu thốn mọi thứ, vẫn tâm niệm
những lời giáo huấn của Bác, vững vàng cầm chắc tay súng canh giữ biển trời cho Tổ quốc:
Đảo xa sóng dội bốn bề / Lắng nghe lời Bác vọng về biển khơi.
Tinh thần đó được thể hiện ở người dân công tiếp vận: Ta là con cháu Bác Hồ / Nghe tin
tiếp vận đan bồ đi ngay; Ngày nay vâng lệnh Bác Hồ / dân công “dô hò” bạt núi ta đi / mấy
năm kháng chiến trường kì / Vai gánh càng dẻo, chân đi càng bền . Em thiếu sinh quân nói
riêng với Bác rằng: Cháu là em bé phương xa / Theo anh vệ quốc xa nhà đã lâu / Qua bao vực
thẳm truông dài / Giúp anh vệ quốc diệt loài thực dân. Người công nhân cầu đường thấy rõ
trách nhiệm của mình: Cầu này ta bắc chóng xong / Cho xe chóng chạy, cho lòng Bác vui; Bạt
rừng xẻ núi mở đường / Chở hàng vào tận chiến trường, Bác vui; Cầu đường mạch máu chúng
ta / Giặc mà phá đứt thì ta nối liền… / Tuân theo lời dạy Cha già / Cầu đường giữ vững, dân ta
thắng thù;…
Thấm nhuần lời dạy của Bác “thi đua sản xuất cũng là đánh Tây”, vừa ích nước, vừa lợi
nhà, người nông dân ngày đêm lăn lộn trên đồng ruộng không quản mưa nắng nhọc nhằn,
quyết tâm làm ra nhiều thóc gạo chi viện cho tiền tuyến để bộ đội ăn no đánh thắng: Qua nương
xuống ruộng lên đồi / Ta cuốc, ta xới, ta cười, ta ca / Rằng: Hồ Chủ tịch dạy ta / Tăng gia sản
xuất cũng là đánh Tây;…
Với nhiệm vụ cao cả và thiêng liêng “trăm năm trồng người”, người thầy giáo vẫn thấm

chẳng quản công / Sao cho lúa tốt đầy đồng / Bộ đội no lòng yên chí xông pha / Con thơ cùng
với mẹ già / Chàng cứ tin chắc ở nhà có em…
Một anh lính coi kho đã sáng tác ca dao hứa với Bác rằng: Tôi là anh lính coi kho /
Quanh năm chỉ việc cân, đo, giữ hàng / Nhà kho lại ở trong hang / Bốn bề núi thẳm rừng


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status