Nghệ thuật của ca dao - Pdf 15

NghỆ thuẬt cỦa ca dao.
1. Thể thơ trong ca dao
Ca dao là điệu hồn dân tộc một phần vì nó thể hiện tâm tư tình cảm của
nhân dân bao thế hệ, một phần bởi hình thức của nó luôn sử dụng những thể
tho dân tộc. Đó là thể lục bát (và biến thể), song thấy lục bát (và biến thể), thể
hỗn hợp, thể vãn (nói lối)
a. Lục bát và lục bát biến thể
Thể thơ lục bát là sáng tạo vĩ đại của cha ông ta đóng góp vào kho tàng văn
học nước nhà. Người Hán, Trung Hoa không có loại thơ này (ở một số dân tộc
thiểu số - người Choang- có hình thức lục bát nhưng chưa đạt đến độ tinh
diệu). Văn cứ vào tài liệu và kết quả nghiên cứu, chúng ta biết được, thể lục bát
xuất hiện sớm nhất cũng chỉ là cuối thế kỉ XV” (Thể lục bát từ ca dao đến
truyện Kiều”)
C p câu trên sáu d i tám l n v t b o, l m t ch nh th t i thi u c aặ ướ à đơ ị ế à à ộ ỉ ể ố ể ủ
th th l c bát. l c bát chính th , s ti ng c a m i dòng, v trí gieo v nể ơ ụ Ở ụ ể ố ế ủ ỗ ị ầ
không thay i, v ch có v n b ng. Nh p ch y u l nh p ch n (2/2/2) c ngđổ à ỉ ầ ằ ị ủ ế à ị ẵ ũ
có khi nh p 3/3 ho c 4/4 nh ng tr ng h p n y hi m (Phan Ng c cho r ngị ặ ư ườ ợ à ế ọ ằ
trong h ng nghìn câu m i có m t câu ng t nh p 3/3)à ớ ộ ắ ị
Vị trí tiếng
2 4 6 8
Dòng 6 bằng trắc bằng (vần)
Dòng 8 bằng trắc bằng (vần) bằng
Ngoài ra còn có cách gieo vần ở chữ thứ tư của câu 8. Nhiều nhà nghiên
cứu cho rằng cách gieo vần này xuất hiện sớm hơn cách gieo vần thông thường
Đại đa số ca dao được sáng tác theo thể lục bát, đây có thể coi là một đặc
trưng của ca dao. Trong 1015 lời của cuốn “Ca dao Việt Nam” (NXB Văn học
1983) có 937 lời được sáng tác theo thể lục bát chiếm 95%, các thể còn lại là
5%. Thể lục bát có vấn và nhịp rất uyển chuyển, nó cũng không bị hạn chế bởi
độ dài cho nên lục bát có sở trường trong việc diễn đạt cảm xúc và mô tả hiện
thực phong phú của đời sống
* Lục bát biến thể: Có nhiều cách hiểu về lục bát biến thể trong ca dao,

hiện những tác phẩm mẫu mực. Gần dây, thể tho này ít được sử dụng.
Khuôn hình c b n c a th th n y nh sau:ơ ả ủ ể ơ à ư
Dòng
Vị trí tiếng
2 3 4 5 6 7 8
Dòng 7 Trắc bằng Trắc
Dòng 7 bằng trắc bằng
Dòng 6 bằng trắc bằng
Dòng 8 bằng trắc bằng bằng
Ca dao sáng tác theo thể tho này chiếm khoảng 2%. Thông thường ca dao
chỉ gồm một khổ (4 dòng), hiếm khi có từ hai khổ trở lên). Trong ca dao có
song thất lục bát biến thể:
Ai trắng như bông lòng tôi không chuộng
Ai đó đen giòn làm ruộng tôi thương
Biết rằng dạ có vấn vương
Để tôi cậy mối tìm đường sang chơi
c. Thể vãn
Tuỳ theo số chữ mà chúng ta có thể vãn hai, vãn ba, vãn tư… Vè cũng
thường sử dụng vãn (hai, ba)., còn ca dao hay dùng thể vãn năm (Có xen kẽ
vãn tư). Thể vãn này phù hợp với lối kết cấu kể chuyện và than thân:
Hỡi trời cao đất dày
Thuế sao nặng thế này
Làng xóm đành bóp bụng
Bán đìa nộp thuế Tây
d. Thể hỗn hợp
Thể hỗn hợp biểu hiện tập trung hơn ở ca dao vùng Trung và Nam Bộ. Với
ca dao một số dân tộc thiểu số, hình thức này cũng thường gặp, tạo nên tính
chất tự do của việc thể hiện cảm xúc nội dung cần diễn đạt. Thể tự do này còn
phụ thuộc rất lớn vào hình thức diên xướng, phù hợp với nhiều kiển hát khác
nhau.

- Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở
Anh đến tìm đò thì đò đã sang sông
Anh đến tìm em thì em đã lấy chồng
Em yêu anh như thế có mặn nồng chi mô?
- Hoa n kỡ thỡ hoa phi n
ũ ó y thỡ ũ phi sang sụng
n duyờn thỡ em phi ly chng
Em yờu anh nh ra ú cũn mn nng thỡ tựy anh
- Hi no nh núi anh thng
Nh trm m trong rng chc ri
Bõy gi trõm gy bỡnh ri
Rng long np l, hng phai mựi trm
5. Kt cu nhiu v ni tip
Nhiu dũng ni tip cú ni dung tng t nhau:
- Ngy i trỳc cha cú mng
Ngy v trỳc ó cao bng ngon tre
Ngy i lỳa vn cha vố
Ngy v lỳa ó hoe y ng
Ngy i em cha cú chng
Ngy v em ó tay bng tay mang
Trong s t chc ngh thut ca mt li ca dao, nhiu khi tỏc gi dõn
gian s dng nhng cụng thc truyn thng. Công thức truyền thống là những
kiểu mẫu diễn đạt (của văn học dân gian nói chung, của ca dao nói riêng) đã
thành ổn định, điển hình khác nhau của truyền thống thẩm mỹ dân gian nói
chung, đồng thời cũng là của từng thể loại nói riêng do đặc trng thể loại quy
định.
Trong ca dao cổ truyền có nhiều kiểu công thức truyền thống. Đó có thể
là một từ, một nhóm từ, dòng thơ hoặc nhóm dòng thơ - nếu xét về phơng diện
ngôn ngữ. Đó có thể là những kiểu kết cấu bắt gặp ở nhiều bài ca dao khác nhau
mà để hiểu nó một cách chính xác ta không thể chỉ xem xét một câu cụ thể nào

công thức khác nhau về dung lợng, nội dung, hình thức.
H thống từ đợc ca dao quen dùng đã thành công thức:
+ Những danh từ đợc dùng nh đại từ nhân xng tạm thời. Ví dụ:
chàng, nàng, anh, em, thiếp Loại này phù hợp với ph ơng thức diễn xớng đối
đáp của đôi bên trai gái trong cuộc hát lề lối hay hát lẻ:
Chàng đi cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
+ Những danh từ chỉ sự vật trong tự nhiên đợc dùng nh những ẩn
dụ đã thành thể loại riêng của thể loại. Ví dụ: đào mận, rồng mây, chim
chèo bẻo cây măng vòi, bớm hoa, tằm dâu .
- Bây giờ mận mới hỏi đào.
- Mấy khi rồng gặp mây đây.
+ Những từ, cụm từ mở đầu thờng gặp ở nhiều câu ca dao khác
nhau. Ví dụ: hôm qua, chiều chiều, đêm đêm, ngày nào bây giờ, ngày đi
ngày về .
Với những trờng hợp này để hiểu đúng nội dung câu ca dao ta phải đặt
nó vào hệ thống nghĩa là phải xem xét không chỉ văn bản mà là liên văn bản.
+ Công thức miêu tả chân dung và y phục, trang phục: Lông mày lá
liễu, răng lánh hạt huyền, áo tứ thân, yếm đào, khăn đội đu, thắt l-
ng bao xanh . Những công thức này có mối liên hệ sâu sắc với truyền thông
văn hoá dân tộc, với truyền thống văn hoá địa phơng ( nhiều khi để hiểu đúng
cảm xúc của dân gian ta đừng nghĩ họ muốn chê bai vùng khác để đề cao vùng
quê mình mà nên hiểu đó là cách để ngời ta nói nên lòng yêu mến, tự hào về
quê hơng).
Nhìn chung các công thức truyền thống phản ánh suy nghĩ, thị hiếu của
truyền thống biểu hiện quy luật, quy tắc thẩm mỹ trong sáng tác và tiếp nhận
tác phẩm folklove là chìa khoá giúp chúng ta mở ra những bí mật cấu trúc của
bài ca trữ tình dân gian.
3. Cỏc bin phỏp ngh thut ch yu ca ca dao
a. n d

Ẩn dụ trong ca dao còn mang tính thẩm mĩ cao. Biện pháp ẩn dụ giúp
cho nhân vẩt trữ tình có thể diễn tả những trạng thái cảm xúc khác nhau, thể
hiện những tình cảm riêng tư một cách kín đáo, ý nhị, tăng thêm phần tình tứ,
duyên dáng:
+ Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng có lối ai vào hay chưa
mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
+ Quả đào tiên ruột mất vỏ còn
Buông lời hỏi bạn lối mòn ai đi
Lời ca dao trên là cách tỏ tình kín đáo, dò hỏi ý tứ của đối tượng. Lời ca
dao dưới là cách diễn đạt ý nhị bóng bẩy về việc cô gái không còn giữ được
trinh tiết: quả đào tiên là loại quả quý, cái quý nhất là ruột nó đã mất đi rồi.
Ẩn dụ có ý nghĩa biểu cảm: Ẩn dụ trong ca dao khác với ẩn dụ của tục
ngữ hay câu đố (mang tính nhận thức là chủ yếu). Ẩn dụ trong ca dao giầu sắc
thái biểu cảm, nhiều cung bậc tình cảm của con người biểu hiện trong ca dao,
những cảm xúc nhiều khi bị dồn nén nhưng chính vì thế mà càng sâu sắc, càng
ý tứ:
+ Trách người quân tử vô tình
Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao
+ Tưởng giếng nước sâu nối sợi dây dài
Ai ngờ giếng cạn tiếc hoài sợ dây
Một trong những biểu hiện của biến pháp ẩn dụ là hình thức nhân hoá.Đây là
kiểu ẩn dụ độc đáo và sinh động. Việc nhân hoá các sự vật, các hiện tượng giúp
cho nhân vật trữ tình có đối tượng để giao tiếp, giãi bày cảm xúc:
+ Đêm qua ra đứng bờ cao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
Buồn trông con nhận chăng tơ….
b. Biện pháp so sánh
So sánh là hình thức miêu tả cơ bản của văn học. So sánh là “biện pháp nghệ

biểu tượng như cách diễn đạt hiệu quả và giầu sắc thái.
Biểu tượng được hình thành trong một quá trình lâu dài có tính ước lệ và bền
vững. Biểu tượng là cái nhìn thấy được mang một kí hiệu dẫn ta đến cái không nhìn
thấy được. Biểu tượng là vật môi giớigiúp ta tri giác cái bất khả tri giác… Biểu
tượng được hiểu nha là những hình ảnh tượng trưng được cả cộng đồng dân tộc chấp
nhận và sử dụng rộng rãi trong một quá trình lâu dài. Nghĩa của biểu tượng phong
phú, nhiều tầng bậc, ẩn kín bên trong, nhiều khi khó nắm bắt.
Biểu tượng thể hiện quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng của từng thời đại, từng
dân tộc, từng khu vực… Từ nhhiều hình ảnh sẽ dẫn đến biểu tượng nhưng
không phải bất cứ trường hợp nào có hình ảnh cũng là có biểu tượng.
Giữa biểu tượng và ẩn dụ có sự giống nhau và khác nhau: Giống ở chỗ,
cơ sở của hai cách diễn đạt là đều dựa vào nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn của sự vật.
Nhưng điểm khác nhau là biểu tượng thì màn tính tương đối bền vững và ước lệ,
còn ẩn dụ tự do hơn và có sự biến đổi. Có thể nói là biểu tượng mang tính chất
kí hiệu và dần trửo thành quy ước, ăn sâu vào tư tưởng thẩm mĩ, tình cảm của
con người. Ẩn dụ có trường liên tưởng rộng rãi, linh hoạt hơn là biểu tượng.
Nhưng sự phân biệt rạch ròi hai đối tượng đó là tương đối vì trong nhiều trường
hợp, biểu tượng là hình thức ẩn dụ được sử dụng ở mức độ cao hơn, giàu tính
quy ước hơn.
Thế giới các hình ảnh biểu tượng cũng hết sức phong phú, đa dạng. Nguồn gốc
của chúng có thể từ giới tự nhiên (các hiện tượng tự nhiên, động vật, thực
vật…), hoặc từ thế giới các vật nhân tạo (đồ dùng, dụng cụ sinh hoạt, công cụ
sản xuất, công trình kiến trúc,…). Ca dao thường xuyên sử dụng các vặp biểu
tượng: trúc – mai, rồng – mây, loan - phượng, thuyền - bến…
- Trúc biểu tượng cho người con gái đẹp:
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh
- Trúc – mai biểu tượng cho tình cảm lứa đôi thắm thiết:
Trúc với mai, mai về, trúc nhớ
Trúc trở về mai nhớ trúc không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status