Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
CBHD: ThS. CHIM VĂN BÉ
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
1
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
•
Lý do chọn đề tài
•
Lịch sử vấn đề
•
Mục đích nghiên cứu
•
Phạm vi nghiên cứu
•
Phương pháp nghiên cứu
2
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
1. Cuộc đời
2. Sự nghiệp văn học
II. Phân tích một số bài thơ tiêu biểu của Hồ Xuân Hương từ góc độ ngôn
ngữ
1. Bánh trôi nước
2. Tự tình
3. Mời trầu
4. Đánh đu
III. Đánh giá chung về ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương.
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
CBHD: ThS. CHIM VĂN BÉ
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
3
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu khoa học là một việc làm mới mẻ và đề tài này cũng là một đề
tài hoàn toàn mới và khó khăn đối với người thực hiện đề tài. Luận văn Nghệ
III.
Mục đích nghiên cứu……………………………………………….12
IV.
Phạm vi nghiên cứu………………………………………………...12
V.
Phương pháp nghiên cứu…………………………………………...12
PHẦN NỘI DUNG……………………………………………………..14
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGÔN NGỮ THƠ VIỆT
NAM……………………………………………………………………………..14
I.
Quan điểm của Nguyễn Phan Cảnh………………………………..14
II.
Quan điểm của Hữu Đạt……………………………………………24
III.
Quan điểm của bùi Công Hùng…………………………………….34
IV.
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
6
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài.
Trong nền thơ ca Việt Nam, Hồ Xuân Hương được biết đến như một nhà thơ có
nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách tân thơ Việt. Bằng những cách tổ chức ngôn ngữ đầy
sáng tạo, Hồ Xuân Hương đã thực sự tạo nên dấu ấn phong cách nghệ thuật của mình
trên thi đàn. Người ta biết đến Hồ Xuân Hương với những vần thơ khác biệt và có gì đó
rất “ngông”. Hồ Xuân Hương là một hồn thơ giàu giá trị nhân văn, nhân bản, một chất
giọng lạ và giàu sắc thái sáng tạo. Đến với thơ Hồ Xuân Hương là đến với một tài năng,
một hiện tượng lạ của văn học Việt Nam, một con người độc đáo mà trước giờ chưa có
một nhà thơ nữ nào sánh bằng. Và điều làm nên sự độc đáo ấy chính là ngôn từ trong thơ
bà.
Nhắc đến Hồ Xuân Hương, có nhiều cách gọi khác nhau như “Thi trung hữu quỷ”
(trong thơ có quỷ), “Bà chúa thơ Nôm” (Tản Đà, Xuân Diệu), “Nhà thơ cách mạng” (Hoa
Bằng)…nhìn chung, những tên gọi đó đều bắt nguồn từ phong cách riêng, rất tài hoa,
khác thường của bà.
Từ trước đến nay, các khía cạnh trong thơ Hồ Xuân Hương được tập trung nghiên
cứu là: nội dung và hình thức, những yếu tố ảnh hưởng đến thơ Nôm Hồ Xuân Hương,
vị trí của Hồ Xuân Hương trong thơ Nôm Đường luật... Nghệ thuật ngôn từ trong thơ Hồ
Xuân Hương tuy được người ta đề cập đến, nhưng chưa thật hệ thống, đầy đủ, thấu đáo
và có những ý kiến cực đoan, trái ngược nhau. Vì vậy, đây là một vấn đề cần được tiếp
tục nghiên cứu. Đó là một trong những lí do cơ bản để chúng tôi lựa chọn thực hiện luận
văn này.
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương không chỉ nhằm tập vợt kiến thức
CBHD: ThS. CHIM VĂN BÉ
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
8
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
khoa học về ngôn ngữ thơ của Hồ Xuân Hương mà còn với hy vọng hướng kết quả tìm
tòi của mình vào mục đích học tập, nâng cao hiểu biết về một tác giả quan trọng trong
nền thơ ca Việt Nam, đồng thời, có thể góp một phần nhỏ công sức của mình vào việc
làm sáng tỏ những đặc trưng trong ngôn từ thơ Hồ Xuân Hương, thỏa mãn chính những
điều chưa biết của mình về nhà thơ “lạ” này cũng như những người cùng yêu mến thơ
văn như chúng tôi.
II. Lịch sử vấn đề
1. Về ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ là một vấn đề muôn thuở, không riêng gì của người Việt. Nhà văn
Goorki đã từng khẳng định: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”. Mà văn học bao
gồm cả thơ, thế nên khi nói đến văn học không thể không nói đến ngôn ngữ thơ. “Thơ là
hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, những tâm trạng, những xúc cảm mạnh
mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [5; tr. 309].
Trong phạm vi hẹp hơn về thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưng
về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan
theo cách tổ chức riêng của thơ ca. Có nhiều ý kiến về ngôn ngữ thơ ca:
Tác giả Hoàng Phê cho rằng “Thơ là hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu
hình ảnh và có nhịp điệu để thể hiện nội dung một cách hàm súc” [16; tr. 1478].
Đáng nói nhất trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ là tên tuổi của R.
Jakobson với công trình Thi học và Ngữ học. Tác giả đã nhìn ngôn ngữ thơ trong mối
quan hệ đối lập với ngôn ngữ thông thường. Nếu như Shklovsky xem ngôn ngữ thơ ca
thống” và “vai trò của “hình tượng ngữ pháp” trong thơ ca thế giới ở mọi thời đại vẫn
làm các nhà nghiên cứu văn học ngạc nhiên” [10; tr. 135].
CBHD: ThS. CHIM VĂN BÉ
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
10
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
Jakobson đã chứng minh rằng có quan hệ giữa âm và nghĩa, chứ không phải là võ
đoán. Mặt khác ông nhấn mạnh đến “sự trật khấc giữa cái biểu đạt (signfiant) và cái
được biểu đạt (signifié)” [10; tr. 377].
R. Jakobson cũng đề cập đến điểm khác nhau trong việc xây dựng hình ảnh giữa
thơ và văn xuôi nghệ thuật. Ông cho rằng hình ảnh của thơ được xây dựng trên phương
pháp ẩn dụ, trong khi đó hình ảnh của văn xuôi được thành lập bằng phương pháp hoán
dụ. Ông viết: “Chính trên sự liên tưởng giống nhau (association par similarité) mà các
câu thơ được xây dựng. Hiệu lực của chúng được quy định một cách khẩn thiết do sự
giống nhau của nhịp điệu (similarité rythmique), và thứ song hành nhịp điệu này càng
cần thiết hơn nếu nó kéo theo sự giống nhau (hoặc sự tương phản) giữa các hình
ảnh” [10; tr. 249]. Trong khi đó, “sự liên tưởng gần nhau (association par contiguité)
mới mang đến cho văn xuôi trần thuật sự xung động cơ bản của nó; chuyện kể chuyển từ
một đối tượng này sang một đối tượng khác, do chỗ lân cận nhau (par voisinage) bằng
cách tuân thủ những cuộc hành trình (parcours) của trật tự nhân quả hay trật tự không
- thời gian” [10; tr. 249].
Tất nhiên, điều này không phải là tuyệt đối, bởi lẽ, “Có những bài thơ theo kết
cấu hoán dụ (texture métonimique) và có những chuyện kể văn xuôi được tô điểm bằng
những ẩn dụ” [10; tr. 249], hơn nữa ẩn dụ và hoán dụ còn mang tính nhập nhằng, nước
đôi: “Trong thi ca, nơi mà sự tương tự (similarité) được chiếu lên sự kế tiếp, mọi hoán
dụ (métonymie) đều phảng phất mang tính ẩn dụ (légèrement métaphorique), và mọi ẩn
từ vựng, ngữ pháp. Riêng với thơ, với ngôn ngữ thơ, những điều ấy vẫn chưa đủ.
Trong công trình Ngôn ngữ thơ, tác giả Nguyễn Phan Cảnh đã khảo sát cấu trúc
thơ trên hai trục: ẩn dụ (trục lựa chọn) và hoán dụ (trục kết hợp) dựa vào sức liên tưởng
của ngời đọc "nhằm sử dụng một cách mỹ học chiều dày của chất liệu ngôn ngữ thơ" [2;
tr. 92]. Từ đó tác giả đa ra hai thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ đó là thao tác lựa
chọn và thao tác kết hợp. Thao tác lựa chọn dựa trên một khả năng của ngôn ngữ là "các
CBHD: ThS. CHIM VĂN BÉ
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
12
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
đơn vị ngôn ngữ có thể luân phiên cho nhau nhờ vào tính tương đồng giữa chúng" [2; tr.
16]. Thao tác kết hợp lại dựa trên khả năng khác của hoạt động ngôn ngữ là "các yếu tố
ngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ tương cận giữa chúng" [2; tr.
24]. Cũng theo tác giả nếu như văn xuôi làm việc trước hết bằng thao tác kết hợp và trong
văn xuôi lặp lại là một điều tối kỵ thì ngợc lại "chính cái điều văn xuôi rất tối kỵ ấy lại
là thủ pháp làm việc của thơ: trong thơ, tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại
được dùng để xây dựng các thông báo". Nếu như thao tác lựa chọn cho phép nhà thơ
chọn một đơn vị trong một loạt đơn vị có giá trị tương đương với nhau có thể thay thế
cho nhau trên trục dọc, thì thao tác kết hợp lại cho phép nhà nghệ sĩ, sau khi đã lựa chọn
có thể tạo ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên những tiền đề vật chất mà ngôn
ngữ dân tộc cho phép. Người nghệ sĩ khi sáng tác phải biết chọn lấy một đơn vị nào đó
thật phù hợp, có khả năng diễn tả được cảm xúc, sự đánh giá của mình trước đối tượng.
Bàn về đặc trưng của ngôn ngữ thơ, Hữu Đạt qua công trình Ngôn ngữ thơ Việt
Nam khẳng định một số tính chất và đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ là: tính tương
xứng, tính nhạc và đặc điểm phong cách của nhà thơ.
Bùi Công Hùng với công trình Tiếp cận nghệ thuật thơ ca đã đề cập đến khá nhiều
Hồ Xuân Hương là một kiến trúc ngôn từ khác lạ, một ngôn ngữ khác lạ. Đọc thơ bà
hoặc bằng sự mẫn cảm, hoặc bằng phương pháp thống kê, có thể chỉ ra được những nét
đặc biệt trong cách sử dụng ngôn ngữ” [6; tr. 89]. Ông còn nói thêm rằng “Hồ Xuân
Hương không chỉ Việt hóa, hoàn thiện mà quan trọng hơn còn làm mới thể thơ luật
Đường. Việc thi nhân đưa vào cái cấu trúc đã hoàn chỉnh của nó những yếu tố dị biệt,
những nghịch âm, chất liêu trai mà không làm sụp đổ thể loại, ngược lại, còn nâng nó
lên một chất lượng mới, quả thật rất lạ lùng. Có lẽ ở mỗi bài của Xuân Hương, đằng sau
ý nghĩa tâm linh, tín ngưỡng phồn thực, đằng sau cái con người xã hội chính là con người
vũ trụ” [6; tr. 98].
CBHD: ThS. CHIM VĂN BÉ
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
14
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
Trong công trình nghiên cứu khá công phu khác là Hồ Xuân Hương hoài niệm
phồn thực tác giả Đỗ Lai Thuý đi sâu vào những biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân
Hương, phân tích và chỉ ra những ý nghĩa sâu xa của nó. Như các biểu tượng liên quan
đến các bộ phận của cơ quan sinh sản, hành vi tính giao, thân thể phụ nữ. Tác giả chứng
minh sự gắn bó mật thiết giữa biểu tượng trong thơ Hồ Xuân Hương với những biểu
tượng của tín ngưỡng phồn thực trong dân gian. Sự trở về với những biểu tượng phồn
thực cổ xưa và dân gian trong thơ "Bà chúa thơ Nôm" cho thấy "Bà là người rất yêu sự
sống". Bên cạnh những biểu tượng gốc, Đỗ Lai Thuý phát hiện trong thơ Hồ Xuân Hương
còn có những biểu tượng phái sinh. Đó là sáng tạo riêng của nhà thơ, tạo nên phong cách
độc đáo của nữ sĩ.
Lê Hoài Nam trong bài viết Hồ Xuân Hương đã nhận xét: “Xuân Hương có một
vốn từ ngữ rất phong phú, rất chính xác nhưng đồng thời cũng rất độc đáo. Điều đó
không phải chỉ chứng tỏ Xuân Hương nắm vững ngôn ngữ dân tộc mà còn biểu hiện cá
chữ đặt câu rất đặc sắc, bất luận là tả cảnh, tả tình hay trào phúng. Xuân Hương dùng
chữ rất bạo dạn, không đắn đo rụt rè, lựa ngay những chữ đập mạnh vào óc ta và thường
thường lại phù hợp với tình cảm của tác giả” [6; tr. 77].
Nhà thơ Xuân Diệu cũng đã có bài viết về Hồ Xuân Hương, ông nhận định “Thơ
Xuân Hương đã làm cho chữ “nôm na” không đồng nghĩa là với “mách qué” nữa, mà
nôm na là đồng nghĩa với thuần túy, trong trẻo, tuyệt vời” [3; tr. 486]. Ông tóm lại “Cái
ngôn ngữ của Bà chúa thơ Nôm độc đáo lạ lùng, ngâm thơ Xuân Hương như có một vị
trái cây chín mọng” [3; tr. 505].
Tác giả Đặng Thanh Hòa trong bài viết Thành ngữ và tục ngữ trong thơ Nôm Hồ
Xuân Hương cũng như tiếp ý cho Xuân Diệu: "Người ta thường bảo "nôm na là cha
mánh khóe" thế nhưng đến với thơ Hồ Xuân Hương thì đó là một ngoại lệ, bởi vì người
đọc nhớ đến Hồ Xuân Hương, yêu Xuân Hương lại chính từ cái "mánh qué" ấy. Nếu
không có chất "nôm na", "mánh qué", "xỏ xiên" đầy tinh quái này thì có lẽ đã không có
một Hồ Xuân Hương để cho người đời chiêm ngưỡng và tôn vinh bà thành bà chúa thơ
CBHD: ThS. CHIM VĂN BÉ
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
16
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
Nôm trong làng thơ Việt Nam. Chính cái chất nôm na trong thơ của bà đã tạo nên một
chất men xúc tác mãnh liệt trong lòng người đọc. Người ta ngây ngất, hỉ hả, khoái trá
với cái thứ ngôn ngữ "nhà quê", "mánh qué"...Tất cả những cái đó hoàn toàn xa lạ với
sự trau chuốt, gọt giũa, khuôn sáo mà người ta thường bắt gặp trong ngôn ngữ thơ". [7;
tr. 22].
Lê Trí Viễn nói về ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương trong công trình Nghĩ về thơ
Hồ Xuân Hương: “Ngôn ngữ phong phú và tài tình của bà còn là câu trả lời cho kẻ không
tin vào dân tộc mà cho tiếng mẹ đẻ là nghèo nàn, thô lậu. Ngôn ngữ ấy không chỉ giàu
có về từ mà còn có màu sắc dân tộc đặc biệt vì nó không quên lợi dụng những tiểu thuật
tiền…Đầu sư há phải gì bà cốt, Bá ngọ con ông bé cái nhầm…Quân tử có thương thì
bóc yếm, Xin đừng ngó ngoái lỗ trôn tôi…Ong non ngứa nọc châm hoa rữa, Dê cỏ buồn
sừng húc giậu thưa…Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông…Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ
không…Kìa cái diều ai nó lộn lèo…Xoạc cẳng dò xem đất vắn dài…Gan nghĩa giải ra
cùng chị Nguyệt…Khối tình cọ mãi với non sông, mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo…)
và hay dùng tục ngữ, phương ngôn trong thơ (Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm, Cầm bằng làm
mướn, mướn không công…Nỗi này ví biết dường này nhỉ, Thà trước cam đành ở vậy
xong…Ta còn có thể nói nhiều về cách dùng chữ, đặt câu, xếp ý của Hồ Xuân Hương để
trào phúng thói đời hay bộc lộ tình tự” [18; tr. 111 – 112].
Tác giả Đỗ Đức Hiểu cũng nhận xét về thơ Hồ Xuân Hương: “Hồ Xuân Hương
sáng tạo một phong cách thơ Đường luật mới, một thế giới thường thắm tươi, một thiên
nhiên tràn đầy sức sống, một triết lý tự nhiên của cuộc đời trần thế, của trực giác, cảm
giác, bản năng, của say mê, một cái đẹp góc cạnh và vui tươi của sự vận động hối hả,
căng thẳng với những nhịp điệu vanxơ chóng mặt” [6; tr. 114]. Ông còn nói “Hồ Xuân
Hương là nhà thơ sử dụng ngôn ngữ để sáng tác nhạc, là nghệ sĩ tạo hình, bà còn là nhà
điêu khắc, và cả nhà kiến trúc nữa, nhà kiến trúc của “lâu đài âm vang”” [6; tr. 118].
CBHD: ThS. CHIM VĂN BÉ
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
18
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
Trong công trình Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, tác giả Nguyễn
Đăng Na đã phân tích cấu trúc ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương, làm nổi bật tính dân
tộc và gần gũi của hệ thống ngôn ngữ.
Nhận xét về ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương, tác giả Lã Nhâm Thìn lưu ý đến ngôn
ngữ đời sống, ngôn ngữ dân tộc trong thơ bà, coi đó là thành tựu xuất sắc tạo cá tính sáng
tạo, bản lĩnh độc đáo của Hồ Xuân Hương. Tác giả cho rằng “thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Nhiệm vụ chúng tôi đặt ra trong luận văn này là tìm hiểu về ngôn ngữ thơ, tìm
hiểu những nét nổi bật trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương, từ đó nhận diện phong cách
ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và những đóng góp của bà đối với nền văn học Việt Nam.
Qua khảo sát một số tác phẩm thơ Hồ Xuân Hương từ góc độ ngôn ngữ, đề tài
mong góp phần nhỏ vào quá trình nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương, một phong cách thơ
lạ.
IV. Phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân
Hương qua việc tìm hiểu một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ.
Chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu những bài viết đề cập đến ngôn ngữ thơ
Hồ Xuân Hương để hệ thống lại những đặc trưng tiêu biểu về ngôn ngữ thơ của tác giả.
Qua đó, chúng tôi hy vọng rằng tự mình có thể nhìn nhận về vấn đề một cách toàn diện
và đúng đắn nhất.
V. Phương pháp nghiên cứu.
Chúng tôi đã phối kết nhiều phương pháp khác nhau:
Phương pháp thống kê, phân loại: chúng tôi khảo sát một số tư liệu và phận loại
những tư liệu chứa đựng nội dung đang nghiên cứu, từ đó đưa ra các khía cạnh ngôn ngữ
thơ Hồ Xuân Hương.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: chúng tôi tiến hành chia tách đối tượng nghiên
cứu, tức các tác phẩm thơ tiêu biểu cho ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương ra nhiều thành tố
CBHD: ThS. CHIM VĂN BÉ
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
20
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
để nghiên cứu, nhận xét, đánh giá và từ đó tổng hợp lại những kết luận chung nhất, hợp
Theo tác giả Nguyễn Phan Cảnh, một lới nói muốn tiếp tục phát triển, bao giờ
cũng phải thực thiện được một trong hai điều kiện: hoặc nhờ vào mối quan hệ giống nhau
hoặc nhờ vào mối quan hệ gần nghĩa. Và nhằm thỏa mãn hai điều kiện trên, ngôn ngữ đã
dần hình thành và cố định hai thao tác cơ bản: thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp.
1.1. Thao tác lựa chọn
CBHD: ThS. CHIM VĂN BÉ
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
22
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
Nguyễn Phan Cảnh giải thích: “thao tác lựa chọn là các đơn vị ngôn ngữ có thể
luân phiên cho nhau nhờ vào tính tương đồng giữa chúng” [2; tr. 11 - 12]. Bằng sự liên
tưởng, thao tác này giúp chúng ta tổ chức các đơn vị ngôn ngữ có thể xuất hiện trên cùng
một đoạn của dòng ngôn ngữ, tập hợp các vế vắng mặt xung quanh một tín hiệu ngôn
ngữ.
Tác giả đã dùng sơ đồ chỉ mối quan hệ giữa từ “ĂN” với “chén”, “xơi” để giải
thích rõ thêm:
xơi
b
chén
a
ĂN
tưởng để cung cấp sự lựa chọn những đơn vị ngôn ngữ cần thiết” [2; tr. 18 - 19].
1.2. Thao tác kết hợp
Theo tác giả, “Thao tác kết hợp dựa trên một khả năng khác của hoạt động ngôn
ngữ, là các yếu tố ngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ tương cận
giữa chúng” [2; tr. 19]. Khi đặt yếu tố ngôn ngữ này cạnh yếu tố ngôn ngữ khác, cái quan
hệ tương cận của thao tác kết hợp được dùng để thể hiện nội dung phát ngôn.
Thao tác kết hợp cũng là việc kết hợp các từ tạo nên câu nói, một việc làm bình
thường trong thực tiến nói năng.
Nói về tiền đề vật chất của thao tác kết hợp, tác giả nhận định rằng “trong cách tổ
chức ngôn ngữ để giao tế, ngoài tính biến dạng còn có một tính chất hết sức quan trọng
nữa, đó là tính hình tuyến hiểu theo nghĩa hình tượng của từ này” [2; tr. 21]. Đặc trưng
này đưa tới hệ quả quan trọng là vấn đề trật tự cái trước cái sau của các đơn vị ngôn ngữ,
xuất hiện thêm một khả năng trong việc cấp nghĩa cho các yếu tố ngôn ngữ học: dựa vào
hai hoặc nhiều vế đầu cùng có mặt trên lời nói để thuyết minh lẫn cho nhau.
Nói về phạm vi hoạt động của thao tác kết hợp, tác giả “xét về phía tác giả, hiện
tượng kết hợp diễn ra giữa tác giả và tác phẩm” [2; tr. 23]. Với thao tác này, tác giả có
thể nói lên ý mình. Người thành thạo thao tác kết hợp sẽ nhanh chóng tìm ra được cách
CBHD: ThS. CHIM VĂN BÉ
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC HÂN
24
Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương
kết hợp tốt nhất, làm cho lời nói đạt hiệu quả cao. Còn nếu “xét từ phía người đọc thì
hiện tượng kết hợp diễn ra giữa tác phẩm và cá nhân người đọc” [2; tr. 23]. Công việc
này giúp người đọc hiểu được ý tác phẩm. Người đọc càng thành thạo thao tác kết hợp
thì năng lực phân tích các kết hợp ngôn ngữ trong tác phẩm càng lớn.
Tác giả tóm lại: “Trong hoạt động ngôn ngữ, thao tác kết hợp liên quan đến lời