Ngôn ngữ nghệ thuật trong tập hoa niên của tế hanh - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ TRANG THỦY

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG TẬP HOA NIÊN CỦA TẾ HANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI - 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ TRANG THỦY

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG TẬP HOA NIÊN CỦA TẾ HANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. LA NGUYỆT ANH

HÀ NỘI - 2015




MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề .............................................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 4
4. Đối tƣợng phạm vi nghiên cứu................................................................... 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................ 4
6. Đóng góp mới của khóa luận ...................................................................... 5
7. Cấu trúc của khóa luận............................................................................... 5
NỘI DUNG....................................................................................................... 6
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .................................................... 6
1.1. Giới thuyết chung về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật ..................... 6
1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ .............................................................................. 6
1.1.2. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật ........................................................... 6
1.1.3. Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ............................................................. 8
1.2. Tế Hanh và quá trình sáng tạo ............................................................. 15
1.2.1 Vài nét về tác giả, tác phẩm .................................................................. 15
1.2.2. Tấm thảm ngôn từ trong thơ Tế Hanh ............................................... 19
CHƢƠNG 2. ĐẶC TRƢNG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TẬP
HOA NIÊN CỦA TẾ HANH ........................................................................ 23
2.1. Ngôn ngữ miêu tả giàu hình ảnh, nhạc điệu ........................................ 23
2.1.1. Ngôn ngữ miêu tả giàu hình ảnh thực ............................................... 23
2.1.2. Ngôn ngữ miêu tả giàu nhạc điệu và dư ba........................................ 29
2.2. Ngôn ngữ trữ tình đan xen yếu tố tự sự, kể chuyện............................ 33
2.2.1. Ngôn ngữ được đan dệt từ chất liệu đời thường ................................ 33
2.2.2. Ngôn ngữ kể chuyện tự nhiên, trong sáng ......................................... 38


2.3. Ngôn ngữ thơ Tế Hanh có sự kết hợp tài tình các thủ pháp nghệ

giảng dạy trong chương trình ngữ văn ở nhà trường phổ thông. Nó khiến tên
tuổi của nhà thơ trở nên quen thuộc với nhiều người. Chỉ cần đọc vài câu trong
bài Quê hương, Nhớ con sông quê thì không mấy ai là không gọi tên Tế Hanh.

1


Tuy nhiên, cho đến nay những công trình nghiên cứu về ông còn khá khiêm
tốn. Vì lẽ đó, đi vào nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong tập Hoa niên nói
riêng, thơ ca Việt Nam nói chung nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập
trong nhà trường. Chúng tôi hi vọng góp thêm một tiếng nói khẳng định tên
tuổi của nhà thơ trên phương diện ngôn ngữ nghệ thuật trong nhà trường.
2. Lịch sử vấn đề
Bước vào làng thơ một cách rụt rè, nhưng Tế Hanh sớm khẳng định
được vị trí của mình trong giai đoạn phát triển của thơ ca cuối mùa những năm
1930, đầu 1940. Những bài thơ thời học sinh tập hợp trong tập Nghẹn ngào
(sau bổ sung thêm ra mắt bạn đọc với tên Hoa niên - 1945), mà bạn bè gửi dự
thi hộ, lại được giải của một văn đoàn có tiếng lúc đó là Tự Lực, và tác phẩm
cùng tên tuổi ông được đưa vào công trình khảo cứu đáng chú ý là Thi nhân
Việt Nam (1941) của Hoài Thanh và Hoài Chân. Thành công ấy tạo đà cho Tế
Hanh phát triển tài năng thơ của mình. Tuy nhiên, khi ông bước vào thi đàn,
Thơ mới đã thắng thế, đã ổn định và có xu hướng thoái trào. Không vượt ra
khỏi quỹ đạo ấy, Tế Hanh lặng lẽ và dè dặt góp tiếng thơ riêng của mình.
Viết về thế giới nghệ thuật trong thơ Tế Hanh, ngôn ngữ được xem là
yếu tố quan trọng làm nên vẻ đẹp riêng trong thơ ca ông, vì thế, đã có rất nhiều
ý kiến đánh giá, những lời nhận xét cũng như những bài viết, bài nghiên cứu có
liên quan đến ngôn ngữ thơ Tế Hanh. Nhà thơ là phát hiện cuối cùng của Tự
lực văn đoàn, những người thuộc văn đoàn đó đã sàng lọc khá chính xác, khẳng
định được một số tác giả, tác phẩm còn lại với thời gian như: Kim tiền của Vi
Huyền Đắc và Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, Làm lẽ của Mạnh Phú Tư và Bức

Tổng quan về lịch sử nghiên cứu thơ Tế Hanh, chúng ta thấy có rất ít
nhà phê bình, nghiên cứu đã đưa ra quan điểm ngôn ngữ thơ Tế Hanh. Qua
quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ thơ Tế Hanh còn nhiều
vấn đề chưa được triển khai làm rõ, mà chủ yếu nghiên cứu, đánh giá quá
trình sáng tạo bền bỉ, sự vững vàng của Tế Hanh về nội dung, tư tưởng. Xuất

3


phát từ thực tế đó chúng tôi lựa chọn đề tài này trên cơ sở tổng hợp thành tựu
nghiên cứu của những người đi trước, để tìm hiểu nghiên cứu chuyên sâu một
vấn đề còn mở ngỏ: Ngôn ngữ nghệ thuật trong tập Hoa niên của Tế Hanh để
thấy được nét riêng trong thơ ông, khẳng định những đóng góp đáng trân
trọng của Tế Hanh trên thi đàn dân tộc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những đặc điểm nổi bật về hình thức ngôn ngữ thơ Tế
Hanh trong tập Hoa niên, khái quát đặc trưng phong cách ngôn ngữ thơ ông,
đồng thời góp phần khẳng định vị trí của Tế Hanh trong phong trào thơ mới
lúc bấy giờ.
So sánh ngôn ngữ thơ Tế Hanh trước và sau cách mạng, để thấy được
sựphát triển tài năng của nhà thơ. Khi cần thiết so sánh, đối chiếu ngôn ngữ
thơ ông với ngôn ngữ thơ của các tác giả khác, đặc biệt các tác giả cùng thời
trong phong trào Thơ mới nhằm làm nổi bật đặc trưng ngôn ngữ thơ Tế Hanh.
4. Đối tƣợng phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong tập thơ Hoa niên của
Tế Hanh (Giai đoạn từ 1932 đến 1945).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi tư liệu: Chúng tôi chọn toàn bộ tác phẩm của Tế Hanh trong
tập Hoa niên làm văn bản khảo sát chính. Ngoài ra, còn khảo sát thêm một số

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài
người, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp của xã hội. Ngôn ngữ bao
gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, trong thời đại hiện nay thì ngôn ngữ là
công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi, giao lưu văn hóa giữa các dân tộc.
Theo F. de Saussure: Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, mỗi ký hiệu có
hai mặt như hai mặt của một tờ giấy, không thể tách rời nhau gồm cái biểu đạt
(âm thanh ngôn ngữ) và cái được biểu đạt (khái niệm). Ngôn ngữ là một
phương tiện của giao tiếp xã hội và là phương tiện để tư duy. “Nó vừa là một
sản phẩm xã hội, vừa là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể
xã hội chấp nhận, để cho phép các cá nhân vận dụng năng lực này” [28; 30].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Ngôn ngữ là công cụ là chất liệu cơ
bản của văn học vì vậy văn học được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ.
Trong tác phẩm, ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan trọng thể
hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn. Mỗi nhà văn lớn bao
giờ cũng là tấm gương sáng về mặt hiểu biết sâu sắc ngôn ngữ nhân dân, cần
cù lao động để trau dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác” [20; 215]. Quả
đúng như vậy, khi tiếp cận tác phẩm văn học người đọc phải hiểu từng câu,
từng chữ mới cảm thụ được cái hay cái đẹp của tác phẩm.
Tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và tính biểu
cảm là những thuộc tính của ngôn ngữ văn học.
1.1.2. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì: Ngôn ngữ mang tính nghệ thuật
được dùng trong văn học. Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này có ý nghĩa rộng
6


hơn, nhằm chỉ một cách bao quát các hiện tượng ngôn ngữ được dùng một
cách chuẩn mực trong các văn bản nhà nước, trên báo chí, đài phát thanh,
trong văn bản và khoa học [20; 125].
M.Gocki khẳng định: “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” [20; 215].

phẩm. Trong kho tàng ngôn ngữ toàn dân của dân tộc, các nhà văn nhà thơ đã
tìm tòi, tích lũy, khổ luyện, và cả kinh nghiệm sống sử dụng những từ ngữ ấy
để tạo ra những đứa con tinh thần của mình, đó là sản phẩm của trí tuệ, cảm
xúc của tác giả. Để những tác phẩm ấy, đứa “con” ấy thật sự “nổi sóng”, “nổi
gió”, “cất cánh”... mang thần thái của thời đại, của tác giả, tác động mạnh đến
xúc cảm, đến trái tim bạn đọc và nó thật sự có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Song
do đặc trưng của thể loại trữ tình hay tự sự mà ngôn ngữ văn học được các tác
giả sử dụng khác nhau.
Trên phương diện tinh thần, “Thơ là nguồn cảm thông chung của nhân
loại” (Helgel). Về cấu trúc, “thơ là một ngôn ngữ riêng trong ngôn ngữ chung
loài người” và làm thơ tức là làm thế nào cho “ngôn ngữ trở thành một tác
phẩm nghệ thuật” (Paul Valery). Về phương diện ngữ học “thơ là ngôn ngữ
trong chức năng thầm mỹ của nó” (Jakobson). Còn Jacques Roubaud (nhà thơ
đương đại hàng đầu của Pháp) nói: “thơ là ký ức bằng con số và nhịp điệu của
ngôn ngữ”.
Từ ngàn xưa ông cha ta đã nói: thơ, ca, hò ,vè là văn vần, câu nói này
đã khẳng định: “thơ phải có vần” đó là nét nhận “dạng” riêng của thơ. Bước
vào kỷ nguyên mới, tư duy con người phát triển tinh tế hơn, một bộ phận
người cảm thụ không theo lối xưa nữa. Đồng thời do ảnh hưởng văn hóa giao
lưu nên thơ bớt câu nệ vần, nhưng vẫn giữ nhạc điệu. Dòng thơ mới xuất hiện,
nhiều thể thơ theo lối tự do, phá cách… Bàn về đặc trưng ngôn ngữ nghệ
thuật thơ, Hữu Đạt nhận định: “Khác với văn xuôi, thơ ca chỉ dùng một lượng
hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống bao gồm
các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng như những điều thầm kín trong tâm linh

8


con người” [3; 63]. Có nghĩa, bài thơ chỉ dùng những câu ngắn, không giải
thích nhiều, một câu thơ có thể là một từ nhưng tác giả đã dùng những từ

Nếu như giai điệu, âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc; màu sắc, đường
nét là ngôn ngữ của hội họa; hình khối là ngôn ngữ của kiến trúc thì ngôn ngữ
là chất liệu của tác phẩm văn chương. Tuy nhiên, tùy vào đặc trưng thể loại
ngôn ngữ trong mỗi loại thể văn học có những đặc điểm riêng. Là nghệ thuật
lấy “ngôn ngữ làm cứu cánh” (Jakobson), ngôn ngữ giữ một vị trí đặc biệt
quan trọng trong thơ. Đó là ngôn ngữ được chưng cất công phu vì “bài thơ là
tổ chức ở trình độ cao của ngôn ngữ, một tổ chức chặt chẽ tinh tế của ngôn
ngữ”. Ngôn ngữ thơ là một phương tiện hình thức luôn được coi trọng, là một
giá trị không thể phủ nhận trong yếu tính thơ, vì “thơ tức là phần tinh lọc nhất
của ngôn ngữ”.
Khác với loại hình nghệ thuật khác, văn học sử dụng ngôn ngữ là chất
liệu để “mã hóa” tư tưởng, cảm xúc… về đời sống. Một tác phẩm văn học khi
đến tay bạn đọc nó chỉ đơn giản là “một mã” những kí tự. Muốn hiểu được nó
người đọc phải “giải mã” văn bản đó để hiểu văn bản thành tác phẩm trong
tâm trí của mình. Còn đối với thơ thì: Thơ là hình thái văn học đầu tiên của
loài người. Chính vì vậy mà có một thời gian rất dài, thuật ngữ thơ được dùng
chỉ chung cho văn học.
Từ thời cổ đại, Aristote trong công trình Nghệ thuật thơ ca đã tổng kết kinh
nghiệm nghệ thuật Hy Lạp và dành nhiều chương viết (chương XIX, XX, XXI) bàn
về “loại nghệ thuật mà chỉ dùng ngôn từ”, về “cách diễn đạt bằng ngôn từ” [12; 82].
Trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa, quan niệm về thơ đã
được đề cập từ rất sớm. Trong cuốn Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp đã đề cập
đến phương diện cơ bản của một bài thơ là: “tình cảm, ý nghĩa (tình văn),
ngôn ngữ (hình văn) và âm thanh (thanh văn). Nhà thơ Bạch Cư Dị cũng nêu
lên các vấn đề then chốt tạo thành điều kiện tồn tại của thơ: “cái gì cảm hóa
được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước bằng
ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa.
10




đa nghĩa. Đó là thứ ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm góp phần tạo nên tính họa,
tính nhạc trong thơ. Nó biến hóa qua nhiều sắc thái ảo thực bất ngờ, thú vị.
Thứ nhất, ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính: Thơ phản ánh cuộc sống qua
những rung động của tình cảm. Như nhịp đập của trái tim khi xúc động,
ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó. Thế giới nội tâm của nhà thơ không
chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ
ngữ ấy. Có thể xem nhạc tính là nét đặc thù rất cơ bản của ngôn ngữ thơ.
“Nhạc điệu là một yếu tính của thi ca. Thiếu nhạc tính thơ trở thành văn
xuôi” (Bằng Giang). Nếu trong văn xuôi, các đặc tính thanh lọc của ngôn
ngữ (như cao độ, cường độ, trường độ…) không được tổ chức thì trong thơ
trái lại những đặc tính ấy lại được tổ chức một cách chặt chẽ, có dụng ý,
nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều không nói hết. Bởi nhạc
tính như một nét duyên thầm làm nên vẻ đẹp của thơ, cũng là một yếu tố tạo
mỹ cảm cho người đọc, và “thơ là sự phối hợp của âm thanh”. Thơ bao giờ
cũng là sự kết hợp hài hòa giữa ý và nhạc. Nếu “rơi vào cái vực ý thì thơ sẽ
sâu nhưng rất dễ khô khan. Rơi vào cái vực nhạc thì thơ dễ làm say lòng
người nhưng dễ nông cạn” (Chế Lan Viên). Bởi vậy tính nhạc được coi là
đặc trưng chủ yếu mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ thơ ca. Theo các
nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện ở ba mặt cơ bản: Sự cân
đối, sự trầm bổng, sự trùng điệp.
Sự cân đối là sự tương xứng hài hòa giữa các dòng thơ. Sự hài hòa có
thể là hình ảnh, âm thanh:
Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử
Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hòa âm, ở sự thay đổi
độ cao giữa hai nhóm thanh điệu. Xuân Diệu đã biểu hiện được cảm xúc lâng
lâng, bay bổng theo tiềng đàn du dương, êm nhẹ:


giá cắt cổ”: “Nhà thơ trả chữ với giá cắt cổ”.
13


Như vậy, tính hàm súc được hiểu là khả năng ngôn ngữ có thể miêu tả
mọi hiện tượng cuộc sống một cách cô đọng, ít lời mà nói được nhiều ý, ý tại
ngôn ngoại, đây là cách dùng từ sao cho đắt nhất, có giá trị nhất.
Do giới hạn tác phẩm nên thơ ca sử dụng từ ngữ rất kiệm lời. Tính hàm
súc của ngôn ngữ thơ phải chính xác, giàu hình tượng, có tính truyền cảm, thể
hiện cá tính của nghệ sĩ, chẳng hạn từ “cậy” trong đoạn trao duyên (trích
Truyện kiều - Nguyễn Du) nó không chỉ diễn tả chiều sâu của tình cảm, mà nó
đảm bảo được tính chính xác, tính hình tượng, tính truyền cảm.
Định lượng số tiếng trong thơ cũng là tiền đề tạo ra sự xuất hiện các
phương tiện nghệ thuật trong một bài thơ, có thể xuất hiện cùng một lúc nhiều
biện pháp tu từ: nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ… Bài ca dao Khăn thương nhớ ai
mở đầu bằng từ: Khăn thương nhớ ai có số lượng từ không nhiều, nhưng bằng
các biện pháp tu từ đã thể hiện được tâm trạng khắc khoải nhớ mong của
người con gái còn mang lại dư âm vang mãi cho đến tận bây giờ và cả mai
sau, không chỉ của một người mà còn của nhiều người.
Thứ ba, ngôn ngữ thơ có tính truyền cảm: Ngôn ngữ thơ có tính
truyền cảm bởi tác phẩm văn học là sản phẩm của tình cảm, cảm xúc của
người nghệ sĩ trước cảnh đời, cảnh người, nên ngôn ngữ trong tác phẩm
văn chương phải thể hiện được cảm xúc, phải truyền cảm xúc thẩm mĩ tới
bạn đọc. Thơ là tiếng nói trực tiếp của tình cảm, trái tim nên ngôn ngữ thơ
ca có sức gợi cảm đặc biệt.
Ngôn ngữ thơ không chú trọng tả, kể như ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự.
Nếu dùng chỉ nhằm mục đích để truyền cảm. Khi Quang Dũng viết Tây Tiến:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo nẻo bến bờ
Có thấy dáng người trên độc mộc

trung học (trường Quốc học). Năm 1943, đậu tú tài triết học. Sinh ra trong
một gia đình nhà nho, ông yêu thơ văn từ nhỏ. Năm 1935 gặp và yêu Thơ
15


mới. Khi ra Huế, được tiếp xúc rộng rãi hơn với các bạn trong Phong trào Thơ
mới như Huy Cận, Xuân Diệu và đọc thơ thế giới (nhất là thơ Pháp) ông bắt
đầu làm thơ. Năm 1939 khi học năm thứ 3 trường trung học, ông viết tập thơ
đầu tiên lấy tên là Nghẹn Ngào. Năm 1940 tập thơ đó được giải thưởng thơ
của Tự lực văn đoàn. Một số bài thơ mới viết trong năm 1940, 1941 cùng với
những bài trong tập Nghẹn ngào tạo thành tập Hoa niên in năm 1945. Trong
thời gian 1942, 1943, 1944 ông chuẩn bị một tập thơ khác, với xúc cảm khác,
định cho ra đời với cái tên Những số kiếp. Những bài thơ này phần lớn chưa
in, chỉ đăng rải rác trên các báo ở Hà Nội và Sài Gòn. Gần đây tìm lại được
bản thảo, ông lấy tên là Tập thơ tìm lại. Năm 1943, sau khi đậu tú tài ông ra
Hà Nội vào học trường Luật nhưng rồi bỏ về Huế đi dạy học ở trường tư thục
cùng các các ông Hoài Thanh, Nguyễn Văn Bổng,... Tháng 8 - 1945 ông tham
gia khởi nghĩa ở Huế và bắt đầu sinh hoạt ở tổ chức Văn hóa Cứu quốc thành
phố Đà Nẵng. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19 - 12 - 1946 ông tham gia
ban tuyên truyền Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1947, ông tham gia
Ban phụ trách trường trung học bình dân miền Nam Trung Bộ do Chủ tịch
Phạm Văn Đồng lúc đó là đại diện Đảng và Chính Phủ thành lập và hướng
dẫn. Ngày 1 tháng 1 năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng. Năm 1948, ông
tham gia ban lãnh đạo Liên đoàn văn hóa kháng chiến miền Nam Trung Bộ và
đến năm 1949 tham gia thành lập và lãnh đạo Hội Văn nghệ Liên khu V.
Trong thời gian kháng chiến chống Pháp ông đi nhiều nơi ở liên khu V, vào
cả vùng bị chiếm cực Nam Trung Bộ. Tham gia phụ trách tạp chí Miền Nam
và báo Văn Nghệ Liên khu V. Thời gian này ông cho in hai tập thơ Hoa mùa
thi (1984) và Nhân dân một lòng (1953). Sau hiệp định Giơnevơ 1954, ông
tập kết ra Bắc về công tác ở Hội Văn nghệ trung ương. Từ năm 1957, khi

Hanh tâm sự: “Nếu trong một đời người, một đời thơ có ba điều quan trọng là:
tuổi trẻ, tình yêu và thơ ca, thì ở Huế tôi đã có đủ cả ba điều đó”.
Và cái gì tới, đã tới: những bài thơ đầu tiên viết trong kỳ học, trong vụ
hè, những bài thơ viết cho mình, đưa bạn bè xem, những bài thơ dành tặng
17


một người, chưa nghĩ tới khi in báo… Bao nhiêu năm qua, Tế Hanh vẫn nhớ:
Nguyễn Văn Bổng rủ làm báo tường như thế nào; đưa thơ cho Huy Cận xem,
được Huy Cận khen như thế nào; hẹn với người bạn gái sẽ làm thơ tặng ban
gái trong kỳ nghỉ hè như thế nào… Những bài thơ liên tiếp ra đời vẫn còn
nguyên giá trị cho tới hôm nay: Lời con đường quê (1939), Những ngày nghỉ
học (1938), Quê hương (1939)…
Năm 1939, sau kỳ nghỉ hè, Tế Hanh lên năm thứ tư bậc Thành chung.
Mùa thu tựu trường năm ấy, Tế Hanh đưa cho bạn bè đọc bản thảo tập thơ
Nghẹn ngào (gồm hai mươi chín bài). Khi đó, Tự lực văn đoàn đang mở cuộc
thi thơ. Bạn bè chép lại tập thơ của Tế Hanh, gửi đi dự thi. Mùa hè năm sau,
1940, đang trong nỗi buồn thi trượt đíp-lôm, ở quê ôn tập đợi mùa thu thi lại,
thì Tế Hanh nhận được tờ báo do bạn bè gửi cho, trong đó có in tập thơ đã
được giải thưởng của Tự lực văn đoàn.
Tập Nghẹn ngào này, về sau nhà thơ đã bổ sung thêm và đổi tên là
Từ nhớ đến thương, rồi sau cùng, năm 1945 được Nhà xuất bản Đời nay in ra
với cái tên chính thức: Hoa niên (có 40 bài thơ).
Nhưng chính Tế Hanh thì chưa hề được nhìn thấy tập Hoa niên khi mới
xuất bản. Vì khi đó tình hình đất nước đang có những thay đổi lớn. Nhà thơ
dạy học ở Huế và tham gia cách mạng ở ngay thành phố đã có bao gắn bó với
tuổi hoa niên của mình. Rồi Tế Hanh đi kháng chiến ở miền Trung. Mãi tới
năm 1954, tập kết ra Hà Nội, Tế Hanh mới được cầm tập thơ Hoa niên trong
tay (do nhà thơ Hồ Dzếnh tặng lại). Sau Hoa niên, nhà thơ Tế Hanh còn có
nhiều tập thơ khác…

đề kĩ thuật mà thực chất là vấn đề nội dung… Bởi xét đến cùng hình thức là
để nói nội dung.
Thơ Tế Hanh để có một tấm thảm ngôn từ riêng, không lẫn với bất cứ
ai, nhà thơ đã lựa chọn cho mình chất liệu ngôn ngữ riêng trong sáng tạo nghệ
thuật, điểm xuất phát đầu tiên chính là tư tưởng, tình cảm và cảm xúc. Với Tế
Hanh cảm xúc luôn là đầu mối, là nguồn gốc của mọi quá trình sáng tạo nghệ

19


Trích đoạn Thủ pháp so sánh, nhân hóa Thủ pháp điệp từ, điệp ngữ, láy từ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status