TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
LẠI THỊ THU THANH
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG THƠ
HỒ XUÂN HƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
LẠI THỊ THU THANH
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG THƠ
HỒ XUÂN HƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. ĐỖ THỊ THU HƯƠNG
nhiệm về nội dung.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Lại Thị Thu Thanh
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU...................................................................................................... 1
1. Lý do lựa chọn đề tài..................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 5
6. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................... 5
7. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
8. Bố cục khóa luận ........................................................................................... 6
B. NỘI DUNG................................................................................................... 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ............................................................................ 7
1.1. Các bình diện của ngôn ngữ....................................................................... 7
1.1.1. Bình diện ngữ âm................................................................................. 7
1.1.2. Bình diện từ vựng ................................................................................ 7
1.1.3. Bình diện ngữ pháp.............................................................................. 8
1.1.4. Bình diện phong cách .......................................................................... 9
1.2. Đặc điểm của ngôn ngữ văn chương........................................................ 10
1.2.1. Khái niệm tác phẩm văn chương ....................................................... 10
1.2.2. Các đặc điểm của ngôn ngữ văn chương........................................... 11
1.3. Vài nét về nhà thơ Hồ Xuân Hương ........................................................ 15
1.3.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương....................... 15
1.3.2. Một số đặc điểm thơ Hồ Xuân Hương .............................................. 18
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 22
nữa, tên tuổi của nữ sĩ họ Hồ còn vượt ra khỏi biên giới quốc gia để sánh vai
cùng các thi sĩ đại tài nổi tiếng trên thế giới khi thơ bà được chọn và dịch ra
nhiều thứ tiếng nước ngoài. Hồ Xuân Hương xuất hiện trên thi đàn như một
thứ ánh sáng khác lạ, không bị hòa lẫn với những ánh sáng thông thường bởi
sự mới lạ, độc đáo, mang chất riêng mà chỉ có ở nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Có thể nói Hồ Xuân Hương có một phong cách rất riêng, rất độc đáo và
vô cùng tài hoa. Vì thế mà từ trước đến nay khó có nhà thơ nữ nào vượt qua
tên tuổi của bà. Phong cách thơ của Hồ Xuân Hương không thể lẫn với bất kì
nhà thơ nào khác, thơ Hồ Xuân Hương chiếm một vị trí đặc biệt trong lòng
người đọc, làm say mê, rung động biết bao thế hệ.
Mặc dù sự nghiệp sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương không mấy đồ sộ so
với các sáng tác của một số nhà thơ đương thời. Sáng tác của bà chủ yếu là
mảng thơ Nôm truyền tụng, ngoài ra còn có các tập Lưu Hương kí, Xuân
Hương đàm thoại…
Tìm hiểu thơ Hồ Xuân Hương chúng tôi rất ấn tượng với thơ của bà, một
hồn thơ dung dị, đời thường, dễ hiểu, dễ nhớ và mang đậm âm hưởng, màu
sắc của văn hóa dân gian. Đọc thơ của bà, người đọc dễ có sự cảm mến và
đồng cảm sâu sắc với nhà thơ bởi một cuộc đời éo le, bất hạnh, nhiều gian
truân, ngang trái.
1
Thơ Hồ Xuân Hương luôn là nguồn cảm hứng dồi dào, bất tận khơi gợi
hứng thú cho các nhà nghiên cứu khoa học đi sâu tìm hiểu, khám phá và
nghiên cứu thơ của bà. Với những nét độc đáo đó, thơ Hồ Xuân Hương đã
được giới nghiên cứu khai thác ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Thơ
Nôm của Hồ Xuân Hương được nghiên cứu dưới góc độ phê bình văn học,
tiếp nhận văn học, nhiều khuynh hướng như phân tâm học, xã hội học, văn
hóa học, văn bản học,… Qua những công trình nghiên cứu về Hồ Xuân
phương diện ngôn ngữ.
Tác giả Đỗ Đức Hiểu trong “Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương” in
trong cuốn Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm, Nxb GD (2003) đã nhận
xét: “...Nghệ thuật ngôn từ là một cơ thể sống phức tạp, vận động, nhiều âm
thanh, nhiều màu sắc: mỗi tiếng là một “con kỳ nhông”, đứng chỗ này thì màu
xanh, đứng chỗ khác thì màu nâu, hoặc vàng úa. Thơ là một thể loại thật kỳ
ảo. Nhà thơ nói một sự việc, bài thơ mang một ý nghĩa khác...Đó là những
điệp trùng của tiếng của câu, của các hệ thống đồng nghĩa, phản nghĩa, ẩn
dụ...nhằm diễn đạt ý tưởng (tình cảm, suy tư...) dưới nhiều dạng, ngày càng
cao, càng sâu. Cho nên, có thể thấy chiều cao và chiều sâu ấy là một đặc trưng
của thơ...” [18,389].
Đặng Thanh Hòa trong bài viết “Thành ngữ và tục ngữ trong thơ Nôm
Hồ Xuân Hương” in trong tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 4 (2001), đã nhận
xét như sau: “Người ta thường bảo “nôm na là cha mánh khóe” thế nhưng đến
với thơ Hồ Xuân Hương thì đó là một ngoại lệ, bởi vì người đọc nhớ đến Hồ
Xuân Hương, yêu Xuân Hương lại chính từ cái “mánh qué” ấy. Nếu không có
chất “nôm na”, “mánh qué”, “xỏ xiên” đầy tinh quái này thì có lẽ đã không có
một Hồ Xuân Hương để cho người đời chiêm ngưỡng và tôn vinh bà thành bà
chúa thơ Nôm trong làng thơ Việt Nam. Chính cái chất nôm na trong thơ của
bà đã tạo nên một chất men xúc tác mãnh liệt trong lòng người đọc. Người ta
ngây ngất, hỉ ha, khoái trá với cái thứ ngôn ngữ “nhà quê”, “mánh qué”... Tất
cả những cái đó hoàn toàn xa lạ với sự chau chuốt, gọt giũa, khuôn sáo mà
người ta thường bắt gặp trong ngôn ngữ thơ” [10,22].
Lê Hoài Nam trong bài viết "Hồ Xuân Hương" in trong cuốn Nghĩ về thơ
Hồ Xuân Hương Nxb GD (1998) đã nhận xét: “Xuân Hương có vốn ngôn ngữ
rất phong phú, rất chính xác, nhưng đồng thời cũng rất độc đáo. Điều đó
không phải chỉ chứng tỏ Hồ Xuân Hương nắm vững ngôn ngữ của dân tộc,
mà còn biểu hiện cá tính mạnh mẽ của Xuân Hương” [24,172].
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp những vấn đề lý thuyết.
- Khảo sát những đặc điểm ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương.
- Phân tích, miêu tả những sáng tạo của Hồ Xuân Hương trên phương
diện ngôn từ.
5. Đối tượng nghiên cứu
Sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương tuy không nhiều so với nhiều nhà thơ
cùng thời. Tuy nhiên, trong đó mảng thơ Nôm là mảng thơ sáng tác chủ yếu
và có nhiều đặc sắc hơn cả. Chính vì lẽ đó mà khóa luận tập trung, xoáy sâu
vào đối tượng là thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương.
6. Phạm vi nghiên cứu
Vì là thơ Nôm truyền tụng nên vẫn xuất hiện một số dị bản thơ. Cho nên
hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất trong giới nghiên cứu. Qua tham khảo và
tuyển chọn, chúng tôi chủ yếu khảo sát những bài thơ Nôm trong cuốn “Hồ
Xuân Hương thơ và đời” - Lữ Huy Nguyên, NXB văn học, 2012. (in lần thứ
sáu).
7. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê phân loại. Phương pháp này được sử dụng
để thống kê và phân loại các cách sử dụng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương.
- Phương pháp miêu tả sử dụng để miêu tả số lượng, tỉ lệ các biện
pháp, cách thức sử dụng ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương
- Phương pháp phân tích tổng hợp. Phương pháp này được vận
dụng để phân tích cái hay, nét đặc sắc của việc sử dụng ngôn từ trong thơ Hồ
Xuân Hương. Tù đó, rút ra những kết luận khái quát về phong cách ngôn ngữ
thơ Hồ Xuân Hương.
8. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
Từ vựng là tập hợp các từ và các đơn vị tương ứng với từ của một ngôn
ngữ. Nó tập trung nghiên cứu các từ và các đơn vị tương đương với từ (cụm
từ cố định, thành ngữ, quán ngữ) trong các ngôn ngữ. Tuy nhiên trong các
đơn vị từ vựng, từ là đơn vị cơ bản.
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn
chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời
nói để tạo câu. Từ được phân loại theo các tiêu chí khác nhau. Theo đặc điểm
cấu tạo thì từ gồm: từ đơn, từ ghép và từ láy.
Từ đơn là những từ được cấu tạo bằng một hình vị như: nhà, xe, bàn,...
Từ ghép là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau
dựa trên quan hệ ý nghĩa. Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể
chia từ ghép thành từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ.
Xét về nghĩa thì từ gồm từ đơn nghĩa và từ đa nghĩa. Từ đơn nghĩa là từ
chỉ có một nghĩa. Từ đa nghĩa (hay còn gọi là từ nhiều nghĩa) là những từ có
một số nghĩa biểu thị những đặc điểm, thuộc tính khác nhau của một đối
tượng hoặc biểu thị những đối tượng khác nhau của thực tại (ví dụ: từ đi trong
tiếng Việt là từ đa nghĩa, nó vừa có nghĩa là dịch chuyển bằng hai chi dưới,
vừa có nghĩa là chỉ một người nào đó đã qua đời). Để xác định chính xác
nghĩa của từ đa nghĩa cần phân tích ngữ cảnh.
Dựa vào mối quan hệ ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng, từ được chia
thành từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa. Từ đồng nghĩa là những từ những từ
khác nhau về âm thanh nhưng có chung nhau ít nhất một nét nghĩa trong cấu
trúc nghĩa biểu niệm của từ, nhưng không chứa nét nghĩa đối lập, loại trừ
nhau (chặt, thái, băm,…). Từ trái nghĩa là những từ có ý nghĩa đối lập nhau
trong mối quan hệ liên tưởng, chúng khác nhau về ngữ âm và phản ánh những
khái niệm tương phản về logic (ví dụ: cao - thấp, gầy - béo).
1.1.3. Bình diện ngữ pháp
Ngữ pháp nghiên cứu các hình thức biến đổi từ, các mô hình kết hợp từ
những phong ngôn ngữ khác nhau. Chẳng hạn, phong cách ngôn ngữ khoa
học, phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong
cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn
ngữ báo chí.
Bình diện phong cách còn nghiên cứu các biện pháp tu từ tiếng Việt.
Biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt ở một đơn vị ngôn
ngữ nào đó (từ, câu, văn bản) trong một ngữ cảnh cụ thể nhằm tạo ra những
hiệu quả nhất định với người đọc, người nghe như ấn tượng về một hình ảnh,
một cảm xúc, một thái độ,… So với việc sử dụng ngôn ngữ thông thường thì
việc sử dụng biện pháp tu từ sẽ tạo nên những giá trị đặc biệt trong biểu đạt
và biểu cảm. Trong một văn bản nghệ thuật có thể sử dụng một hoặc nhiều
biện pháp tu từ khác nhau để khai thác sức mạnh nghệ thuật mà nó đem lại
cho tác phẩm nghệ thuật. Các biện pháp tu từ được phân loại thành biện pháp
tu từ ngữ âm (phép điệp, phép tạo nhịp điệu, phép tạo âm hưởng,…), biện
pháp tu từ ngữ nghĩa (so sánh, phản ngữ, nói lái,…), biện pháp tu từ ngữ pháp
(đảo ngữ, lặp cú pháp, câu hỏi tu từ,…).
1.2. Đặc điểm của ngôn ngữ văn chương
1.2.1. Khái niệm tác phẩm văn chương
Văn chương là thuật ngữ có nhiều nghĩa. Theo nghĩa rộng, văn chương
chỉ tác phẩm văn nói chung, không phân biệt triết học, chính trị, lịch sử, văn
hóa, quân sự. Ví dụ: văn chương Nguyễn Trãi, văn chương Hồ Chí Minh, sự
nghiệp văn chương. Theo nghĩa hẹp, văn chương chỉ là tác phẩm văn học,
nghệ thuật ngôn từ, thường chỉ tác phẩm thơ [2,401].
Như vậy, từ việc tìm hiểu khái niệm văn chương theo cả nghĩa rộng và
nghĩa hẹp, chúng ta nhận thấy tác phẩm văn chương cũng là tác phẩm văn học
nhưng ở nghĩa hẹp. Từ đây, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về tác phẩm văn
học như sau:
Muốn miêu tả một mảng hiện thực nào đó hay biểu hiện những cảm nghĩ của
bản thân về một sự vật, hiện tượng nào đấy, nhà văn nói theo Maiacôpxki:
“Phải từ hàng ngàn tấn quặng từ tinh luyện chọn ra một từ để câu thơ, câu văn
đạt được hiệu quả nghệ thuật cao nhất” hay theo M. Gorki: “Ngôn ngữ của tác
phẩm phải gẫy gọn, chính xác, từ ngữ phải được chọn lọc kĩ càng. Chính các
tác giả cổ điển viết ngôn ngữ như vậy đã kế tục nhau trau dồi nó từ thế kỉ này
sang thế kỉ khác”.
Viết văn phải dùng từ chính xác mới tái hiện và tái tạo sự vật, hiện
tượng; miêu tả đúng cảnh vật; khắc họa đúng hình dáng, cá tính, tâm lý nhân
vật. Qua đó người nghệ sĩ có thể bộc lộ tư tưởng, tình cảm, tài năng và sự
sáng tạo của mình.
1.2.2.2. Tính hàm súc
Tính hàm súc là hình thức diễn đạt, qua đó, người nói có thể thông báo
một nội dung thông tin lớn nhất bằng một số lượng các yếu tố ngôn ngữ ít
nhất. Đây là đặc điểm, đồng thời cũng là yêu cầu rất cao của ngôn từ văn học.
Tính hàm súc thường thể hiện ở tính đa nghĩa, ở sự thống nhất tối đa các
chức năng và đặc điểm của ngôn từ nghệ thuật trong một yếu tố của lời nói.
Tính hàm súc còn được thể hiện ở dung lượng lớn những suy nghĩ, tình cảm
mà người viết không viết ra mà người đọc có thể tự mình suy ra được.
Ví dụ: bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương không chỉ miêu tả
hình ảnh bánh trôi nước vừa trắng, vừa tròn và đặc điểm khi sống thì chìm khi
chín thì nổi. Mà qua việc sử dụng phép ẩn dụ, bài thơ còn muốn miêu tả vẻ
đẹp của người phụ nữ trong xã hội xưa nhưng bị lệ thuộc, trói buộc vào lễ
giáo phong kiến. Bài thơ là tiếng nói tự hào, ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ
đồng thời cũng là sự cảm thông, xót thương của nhà thơ đối với số phận nổi
chìm của người phụ nữ xưa.
Thông thường trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật, ngôn ngữ
nghệ thuật thường hàm súc và đa nghĩa. Tính hàm súc và đa nghĩa là do
tính biểu cảm trong ngôn ngữ văn học.
1.2.2.4. Tính cá thể hóa
Tính cá thể là cái riêng, là khả năng sáng tạo giọng điệu riêng, phong
cách riêng của mỗi nhà văn. Biểu hiện của tính cá thể được thể hiện ở đặc
điểm ngôn ngữ riêng của nhà văn và đặc điểm ngôn ngữ khi miêu tả người và
cảnh.
Ví dụ: Nhà văn Nguyễn Tuân có giọng văn tài hoa, uyên bác; giọng văn
của Nam Cao lạnh lùng đầy thương cảm; giọng thơ Xuân Diệu nồng nàn, đắm
say;… hay khi cùng miêu tả về “trăng” nhưng trong những tình huống khác
nhau của truyện Kiều lại được miêu tả cụ thể gợi những vẻ đẹp không giống
nhau, không lặp lại.
Tính cá thể hóa của ngôn ngữ tác phẩm nghệ thuật ngôn từ được hiểu là
dấu ấn phong cách tác giả trong ngôn ngữ nghệ thuật. Tính cá thể hóa của
ngôn ngữ tác phẩm nghệ thuật thể hiện ở chỗ cá thể hóa ngôn ngữ tác giả,
ngôn ngữ là chung nhưng sự vận dụng ngôn ngữ là tùy thuộc vào cá nhân.
Mỗi nhà thơ, nhà văn tùy vào xu hướng, sở trường, cá tính… mà hình thành
giọng nói riêng, ngôn ngữ riêng của của nhà thơ, nhà văn đó.
Tính cá thể hóa của ngôn ngữ thể hiện ở từng cảnh, từng sự vật, từng
nhân vật trong tác phẩm. Tính cá thể hóa trong ngôn ngữ văn chương nghệ
thuật chính là cái độc đáo, đặc sắc, không lặp lại.
1.2.2.5. Tính hệ thống
Tính hệ thống là một thể thống nhất bao gồm các yếu tố ngôn ngữ có
quan hệ và liên hệ lẫn nhau. Nhờ có tính hệ thống mà các tác phẩm văn học
có tính tầng bậc, lớp lang tạo nên một chỉnh thể trọn vẹn.
Ví dụ:
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phơi
Quốc Sư, Hà Nội). Hồ Xuân Hương có một ngôi nhà riêng bên Hồ Tây lấy tên
là Cổ Nguyệt đường.
Hồ Xuân Hương vốn là một người phụ nữ có học vấn, thông minh, tài
hoa những tưởng được hưởng hạnh phúc viên mãn nhưng cuộc đời bà lại vô
cùng éo le, ngang trái đầy khổ đau. Cuộc đời riêng của bà có nhiều bất hạnh,
tình duyên lận đận. Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn và cả hai lần bà đều
chịu cảnh làm lẽ, hạnh phúc của bà không mấy trọn vẹn vì cả hai lần đều ngắn
ngủi. Nhưng theo tài liệu của GS Hoàng Xuân Hãn và ông Lê Xuân Giáo thì
nữ sĩ có tới 3 đời chồng chứ không phải hai: Tổng Cóc, Ông Phủ Vĩnh Tường,
và cuối cùng là quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiến.
Có thể thấy cuộc đời của Hồ Xuân Hương trải qua nhiều sóng gió, bất
hạnh nhưng dù thế nào thì ta vẫn nhận ra một Hồ Xuân Hương có cá tính
mạnh mẽ. Tuy sống trong xã hội phong kiến kìm hãm cái tôi và quyền của
người phụ nữ nhưng bằng tài năng và bản lĩnh của mình, Hồ Xuân Hương đã
vượt qua những lễ giáo khắc nghiệt đó để khẳng định tên tuổi của bà trên thi
đàn văn học. Nhờ vậy mà chúng ta có thể tiếp cận với một Hồ Xuân Hương
vô cùng độc đáo mà khó có ai có thể thay thế vị trí của bà.
Trước đây, người ta chỉ biết đến Hồ Xuân Hương là một nhà thơ mang
phong cách dân gian với mảng thơ Nôm truyền tụng. Nhưng đến năm 1964,
khi Trần Thanh Mại phát hiện ra tập Lưu Hương kí thì chúng ta còn biết đến
Hồ Xuân Hương là tác giả của những bài thơ chữ Hán.
Nói đến mảng thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, cho đến ngày nay thì hầu
hết là những bài thơ được lưu truyền trong dân gian và đời sau chép lại. Bản
in thơ Nôm sớm nhất hiện còn là cuốn Xuân Hương thi tập được phiên âm ra
chữ quốc ngữ, do Xuân Lan xuất bản năm 1913. Vì thơ Nôm truyền tụng có
tính chất truyền miệng nên thơ Hồ Xuân Hương có những dị bản và những
nhầm lẫn với thơ của một số tác giả khác như bà Huyện Thanh Quan. Trên cơ
sở dựa vào sự thống nhất về phong cách, các nhà nghiên cứu cho rằng có
thơ đặc sản chỉ đất Việt ta mới có. Chính vì điều đó mà thơ Hồ Xuân Hương
cuốn hút và chiếm được sự ngưỡng mộ, cảm phục của nhiều độc giả trên thế
giới. Thơ của bà đã vượt qua cả rào cản lớn nhất là ngôn ngữ để đến những
vùng đất mới xa xôi, đến với bạn đọc mến mộ, say đắm thứ văn chương độc,
lạ đầy cá tính của bà. Những sáng tác, thi phẩm đặc sắc đó của bà sẽ còn được
bạn đọc đón nhận nhiệt tình hơn nữa trong tương lai. Đồng thời nó còn nhận
được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Đây chính là
thành công lớn nhất trong sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương.
1.3.2. Một số đặc điểm thơ Hồ Xuân Hương
Có thể nói thơ Hồ Xuân Hương là sản phẩm sáng tạo vô cùng độc đáo
của một nhà thơ nữ cá tính bậc nhất trong văn học trung đại Việt Nam. Thơ
Nôm Hồ Xuân Hương mang nhiều giá trị lớn cả về nội dung lẫn nghệ thuật.
1.3.2.1. Một số đặc điểm về nội dung trong thơ Hồ Xuân Hương
Đọc thơ Hồ Xuân Hương ta thấy hình ảnh người phụ nữ xuất hiện ngập
tràn trong những câu thơ, bài thơ. Người phụ nữ trở thành đối tượng trung
tâm trong sáng tác của nữ thi sĩ. Trong thơ Hồ Xuân Hương, người phụ nữ
mang vẻ đẹp trọn vẹn cả về hình thức lẫn tâm hồn. Tiêu biểu là bài thơ “Bánh
trôi”:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Hai chữ “thân em” đặt ở đầu câu đã chuyển nghĩa sự gợi tả vẻ ngoài
chiếc bánh trôi thành sự gợi lên vẻ đẹp hình thức của người phụ nữ, một vẻ
đẹp tròn đầy, xinh xắn, duyên dáng, đầy phúc hậu “vừa trắng lại vừa tròn”.
Cụm từ “tấm lòng son” thường hay nói về tấm lòng thủy chung, son sắt đã
chuyển từ đặc điểm bánh trôi (bánh có nhân đường đỏ bên trong) thành biểu
tượng cho vẻ đẹp phẩm chất tâm hồn. Ở người phụ nữ, “tấm lòng son” là hệ