Đặc điểm ngôn ngữ trong thơ võ quảng (2018) - Pdf 50

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ THU HÀ

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
TRONG THƠ VÕ QUẢNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI - 2018


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ THU HÀ

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
TRONG THƠ VÕ QUẢNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. KHUẤT THỊ LAN

HÀ NỘI - 2018


3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 5
7. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ...... 6
1.1. Giới thuyết ngôn ngữ ................................................................................. 6
1.1.1. Khái niệm thơ .......................................................................................... 6
1.1.2. Đặc trƣng của thơ và ngôn ngữ thơ......................................................... 7
1.1.2.1. Đặc trƣng của thơ ................................................................................. 7
1.1.2.2 Đặc trƣng của ngôn ngữ thơ ................................................................ 10
1.2 Sơ lƣợc về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Võ Quảng .......................... 14
1.2.1 Vài nét về cuộc đời Võ Quảng ............................................................... 14
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác ................................................................................. 15
CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG THƠ VÕ QUẢNG.......... 19
2.1 Ngôn ngữ giàu nhạc tính trong thơ Võ Quảng.......................................... 19
2.1.1 Thể thơ ................................................................................................... 19
2.1.1.1 Thể thơ ba chữ..................................................................................... 20
2.1.1.2 Thể thơ bốn chữ .................................................................................. 22
2.1.1.3 Thể thơ năm chữ.................................................................................. 24
2.1.1.4 Thể thơ tự do ( 2- 5 chữ) ..................................................................... 26
2.1.2 Thanh điệu .............................................................................................. 29


2.2 Ngôn ngữ giàu hình ảnh trong thơ Võ Quảng........................................... 33
2.2.1 Từ ngữ thuộc trƣờng nghĩa thiên nhiên ................................................. 34
2.2.2 Từ ngữ thuộc trƣờng nghĩa động vật ..................................................... 37
2.2.3 Những bài học đầu tiên về cuộc sống .................................................... 38
2.3 Ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại............................................... 42

luận, phê bình, kinh nghiệm sáng tác và bài giảng về lí luận sáng tác văn học
thiếu nhi...góp phần đắc lực vào sự hình thành và phát triển của nền văn học
thiếu nhi.

1


Võ Quảng là một trong những tác giả có sáng tác đƣợc đƣa vào giảng
dạy trong trƣờng Tiểu học. Vì vậy, việc nghiên cứu thơ Võ Quảng dƣới góc
độ ngôn ngữ sẽ giúp cho việc giảng dạy các tác phẩm của ông nói riêng và thơ
nói chung có hiệu quả hơn.
Từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài:
Đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Võ Quảng
2. Lịch sử vấn đề
Ngay từ năm 1983, NXB Kim Đồng trong tập sách Bàn về văn học thiếu
nhi bao gồm bài viết của nhiều tác giả, sau phần I. Thơ viết cho các em, công
trình đã dành hẳn phần II, với 18 bài viết về Tác phẩm của Võ Quảng, với sự
đóng góp của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình. Tiêu biểu nhƣ:
Nguyễn Kiên với Một tấm lòng vì tuổi thơ, Vân Hồng với Võ Quảng và tiểu
thuyết “Quê nội – Tảng sáng”, Tác phẩm và con người Võ Quảng của Đoàn
Giỏi, Phạm Hổ với Vài cảm nghĩ khi đọc thơ Võ Quảng, Vũ Tú Nam với Tài
năng miêu tả của Võ Quảng, Vân Thanh khẳng định vị trí Võ Quảng và văn
học thiếu nhi, Phạm Hoàng Gia với “Quê nội” và mấy đặc trưng tâm lý thiếu
nhi, Võ Quảng với “Quê nội” của Xuân Tùng, Phong Thu với Một thời niên
thiếu trong văn Võ Quảng, Vũ Ngọc Bình với Vài cảm nghĩ về văn thơ Võ
Quảng, và Phong Lê đi vào thế giới thu nhỏ trong “Quê nội” và “Tảng sáng”
của Võ Quảng.
Trong phạm vi tài liệu nghiên cứu mà tôi sƣu tầm đƣợc, tôi nhận thấy
đặc điểm nội dung, nghệ thuật, ngôn ngữ thơ của Võ Quảng đã đƣợc các nhà
nghiên cứu đề cập đến nhƣ sau:

Vũ Tú Nam nhận xét: “Nhịp điệu và âm sắc trong thơ, văn Võ Quảng là
tiếng vang trong trẻo của tâm hồn anh. Một cái gì đó vừa đầm ấm, đôn hậu,
vừa ngộ nghĩnh, vui tươi, rất gần gũi với bạn đọc thiếu nhi”.
Nhƣ vậy, các nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học nổi tiếng đã có rất
nhiều lời nhận xét, bàn định về thơ Võ Quảng. Tuy nhiên, những lời nhận xét,

3


bàn định trên vẫn còn mang tính khái quát, chƣa đi sâu vào nghiên cứu đầy đủ
về đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Võ Quảng. Với thơ, ông chỉ chuyên viết cho
lứa tuổi nhỏ. Ông quan niệm thơ văn cho thiếu nhi không nhằm mục đích nào
khác là giáo dục các em. Võ Quảng cũng có phát biểu thêm: giáo dục các em
cần thông qua nghệ thuật một sáng tác chân chính cho thiếu nhi luôn luôn
phải mang tính chất nghệ thuật. Chính vì thế mà tôi chọn đề tài “Đặc điểm
ngôn ngữ trong thơ Võ Quảng” để tìm hiểu sâu hơn ngôn ngữ trong thơ
ông.
3. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này chúng tôi mong muốn khai thác những đặc điểm ngôn ngữ
trong thơ Võ Quảng. Từ đó, góp phần khẳng định tài năng, phong cách nghệ
thuật độc đáo của Võ Quảng cùng những đóng góp to lớn của ông cho nền
văn học nƣớc nhà nói chung và nền văn học thiếu nhi nói riêng.
Bên cạnh đó còn là cơ sở giúp chúng tôi có những hiểu biết nhất định về
tác giả Võ Quảng, trau dồi thêm năng lực cảm thụ văn chƣơng từ góc độ ngôn
ngữ phục vụ cho công tác giảng dạy sau này.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, luận văn thực hiện những nhiệm sau:
Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài.
Khảo sát những đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Võ Quảng.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Giới thuyết ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm thơ
Thơ là một thể loại văn học nảy sinh và phát triển rất sớm, đƣợc xem là
hình thái văn học đầu tiên của nhân loại.
Về thơ có thể điểm qua một số quan niệm về thơ nhƣ sau:
Platon xem nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng nhƣ một hiện tƣợng
thần bí, cao siêu. Đối lập với quan niệm này, Arisstotle coi thơ ca là hiện
tƣợng do con ngƣời tạo ra theo những quy luật khác nhau, những quy tắc tổ
chức chặt chẽ.
Ở Trung Hoa, nói đến thơ ca, các học giả thƣờng nhấn mạnh tới chức
năng xã hội của nó. Tuân Tử, Trang Tử cho rằng: “Thi dĩ ngôn chí”, “Thi dĩ
đạo chí” tức là thơ ca để giáo hóa đạo hóa, di dƣỡng tính tình, để khí ngôn
cảm hoài.
Ở Việt Nam, quan niệm về thơ trƣớc kia gần nhƣ xuất phát từ nội dung.
Xem nội dung nói về điều gì, đó là điều quan trọng hàng đầu của thơ. Theo
Phan Huy Ích “Thơ là để nói chí hướng. Bậc quân sĩ lúc nhàn rỗi miêu tả tâm
tình, ghi lại hình trạng, thường thường biểu hiện ra thiên chương truyền lại
cho người sau, dùng làm niên phải để lại lâu dài. Đó thực là kho báu trong
nhà, đâu chỉ phô bày ý tứ văn vẻ, phẩm bình văn vật mà thôi...” [4,7]. Đây
đƣợc coi là một nguyên tắc mĩ học của thơ ca Trung Quốc và Việt Nam thời
trung đại. Quan niệm này đã chi phối, định hƣớng sáng tác của các thi sĩ nho
gia nhiều thế kỉ. Bƣớc sang thế kỉ XX, đời sống xã hội Việt Nam có những
biến đổi sâu sắc. Các nhà thơ mới với những cách tân táo bạo đã làm đổi thay
bộ mặt thơ ca nƣớc nhà. Thơ đƣợc định nghĩa thiên về xu hƣớng thần bí hoặc
dựa trên cấu trúc ngôn ngữ hoặc dựa vào tính nội dung của hình thức.

6




Về âm vực, các thanh có âm vực cao là “không dấu”, “ngã”, “sắc”. Các
thanh thuộc âm vực thấp là “huyền”, “hỏi”, “nặng”.
Về âm điệu, các thanh có âm điệu bằng phẳng, hay còn gọi đơn giản là
bằng, gồm có “không dấu”, “huyền”; các thanh có âm điệu không bằng
phẳng hay còn gọi là trắc, gồm có “ngã”, “sắc”, “hỏi”, “nặng”. Các thanh
có âm điệu gãy là “ngã”, “hỏi”; các thanh có âm điệu không gãy là “sắc”,
“nặng”.
Sự khác nhau về thanh điệu sẽ tạo nên tính nhạc cho bài thơ.
- Vần điệu
Theo Heghen vần trong thơ là: “do nhu cầu thực sự của tâm hồn muốn
nhìn thấy mình được biểu lộ rõ hơn, có sự vang dội đều đặn” [3, 18].“Thực
chất là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất
định giữa hai từ hoặc là giữa hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả,
nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [2, 12]. Có thể nói vần là chất keo chắp nối, gắn
kết các dòng thơ lại thành từng đoạn, từng khổ và từng bài hoàn chỉnh. “Ở
các câu thơ, khổ thơ có vần với chức năng tổ chức vần thơ như sợi dây ràng
buộc các dòng thơ lại với nhau, do đó giúp việc đọc thuận miệng, nghe thuận
tai, và làm cho người đọc, người nghe dễ thuộc, dễ nhớ”.
Trong các vần thơ bao giờ cũng có sự cộng hƣởng, sự hòa phối âm thanh
với nhau của hai âm tiết có vần. Đồng thời còn có sự hòa xƣớng đối lập nhau
giữa các yếu tố tƣơng ứng trong hai âm tiết hiệp vần nhằm tạo ra sự hòa âm
cho các cặp vần. Đó là sự hòa âm giữa thanh điệu của hai âm tiết hiệp vần,
giữa âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối của âm tiết này với âm tiết kia.
Trong quá trình đó thanh điệu, âm chính, âm cuối là những yếu tố cơ bản
tham gia vào việc tạo nên sự hòa âm cho các vần thơ.
Theo ý kiến của Triều Nguyên có hai cách phân loại vần:

8



qua quá trình Việt hóa của ngƣời Việt mà hình thành. Do đó những tác phẩm
xuất sắc dù ở thể thơ nào cũng đều chứa chan tính cách của ngƣời Việt.
Để phân biệt các thể thơ, ngƣời ta căn cứ vào số lƣợng âm tiết và phần
vần trong mỗi bài thơ. Căn cứ vào số lƣợng âm tiết trong dòng thơ, ngƣời ta
đã chia ra thành nhiều thể thơ: thể thơ 4 chữ, thơ 5 chữ, thơ 6 chữ, thơ lục bát,
thơ tự do,...
b. Đặc trƣng nội dung
Để làm thơ chỉ có tính nhạc thôi chƣa đủ, cùng với ngữ âm thì ngữ nghĩa
cũng là một yếu tố cấu thành tác phẩm thơ ca. Ngữ nghĩa trong thơ khác ngữ
nghĩa giao tiếp thƣờng nhật và khác với ngữ nghĩa trong văn xuôi. Khi tìm
hiểu thơ, ta thấy ngữ nghĩa thơ không chỉ dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc,
nghĩa ban đầu của nó mà thƣờng phản ánh những tầng nghĩa mới, nghĩa phái
sinh tinh tế, đa dạng hơn đem lại cho bài thơ sức biểu hiện phong phú. Trong
thơ có những từ ngữ sử dụng các phép chuyển nghĩa nhƣ ẩn dụ, hoán dụ, so
sánh làm cho nội dung ngữ nghĩa của thơ trở nên mơ hồ, nhiều khi không xác
định, phải lựa chọn, liên tƣởng, tƣởng tƣợng mới có thể giải mã và cảm thụ
hết vẻ đẹp của câu thơ. Bên cạnh đó còn sử dụng biện pháp đảo ngữ, đảo từ,
đảo cú pháp, sự kết hợp không bình thƣờng, kể cả cách ngắt câu lạ mà trong
cấu trúc văn xuôi không đƣợc phép. Chính đặc trƣng ngữ nghĩa này tạo cho
ngôn ngữ thơ có sức cuốn hút bạn đọc.
Nội dung và hình thức không những gắn bó mật thiết với nhau mà còn có
sự chuyển hóa vào nhau. Heghen đã từng nói: “Nội dung chẳng phải cái gì
khác, mà chính là sự chuyển hóa của hình thức và nội dung, và hình thức
cũng chẳng khác gì hơn là sự chuyển hóa của nội dung và hình thức” [3,
224].
1.1.2.2 Đặc trưng của ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đƣợc quy ƣớc trong một cộng đồng xã hội



11


Tuy nhiên thực tế cho thấy, ngôn ngữ thơ chính là một dạng đặc thù của
ngôn ngữ nghệ thuật. Ngôn ngữ thơ là sản phẩm hoàn mỹ đƣợc ngƣời nghệ sĩ
gọt giũa một cách tỉ mỉ, công phu nhằm diễn đạt tinh tế và sắc nét ý đồ tƣ
tƣởng nghệ thuật của mình. Ngôn ngữ thơ có những đặc tính: tính hệ thống,
tính cá thể hóa, tính hình tƣợng, tính đa nghĩa. Tuy nhiên, không phải lúc nào
những đặc điểm này cũng biểu hiện giống nhau, mà tùy thuộc vào mỗi loại tác
phẩm chúng đƣợc biểu hiện bằng những sắc thái và những mức độ khác nhau.
Tính hệ thống là một tập hợp gồm nhiều yếu tố tác động qua lại lẫn
nhau. Biểu hiện của tính hệ thống là các yếu tố ngôn ngữ trong một tác phẩm
nghệ thuật phải phù hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau, bổ sung, giải thích cho
nhau, nâng đỡ nhau để thực hiện một nhiệm vụ giao tiếp nhất định; thống nhất
trong cách sử dụng ngôn ngữ của các tác giả để làm nổi bật phong cách tác
giả; phù hợp giữa hình thức văn bản và nội dung văn bản. Trong bài thơ
“Mùa xuân nho nhỏ” các chi tiết thể hiện màu sắc (long lanh, tím biếc,..), thi
liệu tƣợng trƣng cho cái đẹp (chim hót, dòng sông,...), âm thanh,... chúng bổ
sung, hỗ trợ làm rõ bức tranh mùa xuân, tâm trạng phấn khởi của thi nhân.
Tính cá thể hóa là dấu ấn phong cách vẻ riêng của các nhà văn, nhà thơ
trong cách sử dụng ngôn ngữ. Biểu hiện của tính cá thể hóa là sở thích, sở
trƣờng trong sử dụng ngôn ngữ của các nhà văn, nhà thơ; khả năng sáng tạo;
kĩ thuật dùng ngôn ngữ để tạo ra sự khác biệt giữa các nhân vật, giữa các cảnh
đời, cảnh ngƣời trong cùng một tác phẩm hay các tác phẩm khác nhau. Ví dụ
nhƣ Nguyễn Khuyến thƣờng sử dụng cách nói thâm trầm, sâu sắc, thấm thía.
Tú Xƣơng thì chửi thẳng, đời thƣờng, dung tục.
Tính hình tƣợng là ngôn ngữ có khả năng tái hiện hiện thực làm cho hiện
thực trong tác phẩm hiện nên sinh động nhƣ chính hiện thực ngoài đời và
ngƣời đọc có thể cảm nhận bằng các giác quan. Tính hình tƣợng đƣợc biểu

khác. Điều đó đã tạo nên tính đa tầng ý nghĩa trong thơ, giúp nhà thơ chuyển
tải tối đa sự phức tạp tinh tế của tâm trạng, tình cảm con ngƣời trong sự hữu

13


hạn của số lƣợng câu chữ. Thông qua hệ thống chữ, ngƣời đọc phải suy nghĩ,
giải mã với khát khao chiếm lĩnh trọn vẹn nội dung lẫn hình thức. Chính điều
này mà thơ luôn hấp dẫn ngƣời đọc, lôi cuốn ngƣời đọc.
1.2 Sơ lƣợc về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Võ Quảng
1.2.1 Vài nét về cuộc đời Võ Quảng
Võ Quảng sinh ngày 01 tháng 3 năm 1920 trong một gia đình nhà nho
trung lƣu ở xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, bên dòng sông Thu Bồn, Quảng Nam
– Đà Nẵng (con sông đã in dấu ấn đậm nét trong rất nhiều sáng tác của Võ
Quảng). Ông chịu ảnh hƣởng lớn của cha, là một nhà nho, về lòng say mê văn
học.
Năm 15 tuổi, Võ Quảng rời quê ra học ở trƣờng Quốc học Huế. Năm
17 tuổi, ông tham gia phong trào học sinh yêu nƣớc, gia nhập Đoàn Thanh
niên Dân chủ. Năm 19 tuổi, ông gia nhập Đoàn Thanh niên Phản đế, làm tổ
trƣởng, hoạt động bí mật ở Huế. Năm 21 tuổi, ông bị Pháp bắt giam ở nhà lao
Thừa Phủ, sau đó bị đƣa về quản chế ở quê cho tới lúc Cách mạng tháng Tám
bùng nổ. Có thể nói, xứ Huế là nơi đã ghi dấu bao kỉ niệm một thời học sinh
sôi nổi, khao khát đổi thay và hƣớng tới cách mạng của ông. Những ngày hoạt
động ở Huế và thời gian bị quản thúc ở quê nhà, ông đã tranh thủ đọc nhiều
và vốn hiểu biết của ông, vì thế cũng đƣợc mở rộng trên nhiều lĩnh vực.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông đƣợc giao làm Phó Chủ tịch Ủy
ban Kháng chiến hành chính Đà Nẵng. Năm 1948, ông đƣợc cử làm phó
chánh án Tòa án Quân sự miền Nam Việt Nam, sau đó là Hội thẩm nhân dân
Tòa án nhân dân liên khu V. Trong suốt 9 năm nền dân chủ cộng hòa, Võ
Quảng đã khẳng định đƣợc năng lực hoạt động của mình trên hai lĩnh vực

Thành công trên nhiều thể loại nhƣng thơ và văn viết cho thiếu nhi là
lĩnh vực mà ông chuyên tâm sáng tạo nhất. Võ Quảng quan niệm: “Thơ, theo
đúng nghĩa của nó, dù là thơ bộc lộ tâm tư hay vẽ lên một cảnh đẹp, hoặc vẽ
lên một cuộc sống, hay phản ánh một thời đại, tất cả cuối cùng đều xuất phát

15


từ những rung động chân thật của nhà thơ. Chính những rung động chân thật
và sâu đó đã làm cho chất thơ có sự sống, có hơi thở, làm cho hiện thực phản
ánh hóa sinh động, làm cho chủ đề tư tưởng của thơ cùng phát huy mạnh mẽ
hơn” (Làm thơ cho thiếu nhi). Đó là những bài thơ xinh xắn, nhẹ nhàng
nhƣng mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Ông kể về quê hƣơng, viết về những gì
gần gũi với cuộc sống của trẻ thơ. Đặc biệt, ông có lối viết dí dỏm, hóm hỉnh,
giàu nhạc điệu. Võ Quảng có những tập thơ tiêu biểu nhƣ: Gà mái hoa
(1957), Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh Đom Đóm (1970),
Măng tre (1971), Én hát và đu quay (in chung – 1972). Thơ ông thấm đẫm
chất trữ tình, nhẹ nhàng và thân mật nhƣ nƣớc ngầm tƣơi mát nuôi dƣỡng tâm
hồn ngây thơ các em, mở ra cho các em cả một chân trời nhận thức về thế giới
xung quanh, khơi dậy những tình cảm tốt đẹp.
Mảng văn xuôi viết cho thiếu nhi của Võ Quảng khá phong phú.
Truyện ông viết cho thiếu nhi thƣờng khai thác những chủ đề về sự nảy nở
hồi sinh của con ngƣời sau bão táp Cách mạng, cỏ cây, loài vật khi mùa xuân
về. Có thể nhận ra tình yêu quê hƣơng của Võ Quảng qua những trang sách
miêu tả thiên nhiên và con ngƣời xứ Quảng, với những tác phẩm tiêu biểu
nhƣ: Cái Thăng (1961), Chỗ cây đa làng (1964), Cái mai (1967), Những
chiếc áo ấm (1970), Quê nội (1973), Bài học tốt (1975), Tảng sáng (1976).
Ngoài phần sáng tác thơ văn, Võ Quảng còn viết nhiều tiểu luận, phê
bình, kinh nghiệm sáng tác và bài giảng về lí luận sáng tác văn học thiếu
nhi,..góp phần đắc lực vào sự hình thành và phát triển của nền văn học thiếu

Cuộc đời của Võ Quảng trải qua rất nhiều biến cố thăng trầm. Ông sinh
trƣởng trong một giai đoạn lịch sử đầy sóng gió của đất nƣớc, của lịch sử cách
mạng Việt Nam. Từ Quảng Nam tập kết ra Bắc, Võ Quảng có những cơ hội
để thăng tiến trên con đƣờng chính trị. Thế nhƣng, ông lại chọn con đƣờng kết
bạn với trẻ em. Dành chọn cuộc đời mình cống hiến cho thiếu nhi, Võ Quảng

17


đẫ để lại một khối lƣợng tác phẩm lớn mà đến nay các em thiếu nhi vẫn yêu
thích. Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Võ Quảng góp phần làm nổi bật
đặc điểm và phong cách thơ Võ Quảng, khẳng định vị trí và tài năng của nhà
thơ.

18


CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG THƠ
VÕ QUẢNG
Ngôn ngữ giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong thơ ca. Ngôn ngữ là
công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học. M. Gorki khẳng định: “Ngôn ngữ là
yếu tố thứ nhất của văn học”. Có nghĩa là không có ngôn ngữ thì không thể
có tác phẩm văn học. Nhờ có ngôn ngữ mà thế giới nhân vật hiện ra sống
động trƣớc mắt ngƣời đọc. Qua đó, độc giả mới có thể hiểu đƣợc những nội
dung tƣ tƣởng, chủ đề tác phẩm đƣợc gửi gắm đằng sau hình tƣợng ấy. Vì
vậy, văn học đƣợc gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ. Ngôn ngữ đã đƣợc coi
là một yếu tố quan trọng hàng đầu thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách và tài
năng của nhà văn, nhà thơ. Nhƣng không phải bất cứ thứ ngôn ngữ nào cũng
trở thành ngôn ngữ trong tác phẩm văn học. Nhà thơ phải trau dồi, mài giũa,
chắt lọc và kết hợp với khả năng sáng tạo của mình để biến ngôn ngữ toàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status