TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THỊ THU HÀ
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
TRONG THƠ VÕ QUẢNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THỊ THU HÀ
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
TRONG THƠ VÕ QUẢNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
TS. KHUẤT THỊ LAN
HÀ NỘI - 2018
3. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 4
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
7. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ...... 6
1.1. Giới thuyết ngôn ngữ ................................................................................. 6
1.1.1. Khái niệm thơ.......................................................................................... 6
1.1.2. Đặc trưng của thơ và ngôn ngữ thơ......................................................... 7
1.1.2.1. Đặc trưng của thơ................................................................................. 7
1.1.2.2 Đặc trưng của ngôn ngữ thơ................................................................ 10
1.2 Sơ lược về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Võ Quảng .......................... 14
1.2.1 Vài nét về cuộc đời Võ Quảng............................................................... 14
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác ................................................................................. 15
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG THƠ VÕ QUẢNG.......... 19
2.1 Ngôn ngữ giàu nhạc tính trong thơ Võ Quảng.......................................... 19
2.1.1 Thể thơ ................................................................................................... 19
2.1.1.1 Thể thơ ba chữ..................................................................................... 20
2.1.1.2 Thể thơ bốn chữ .................................................................................. 22
2.1.1.3 Thể thơ năm chữ.................................................................................. 24
2.1.1.4 Thể thơ tự do ( 2- 5 chữ) ..................................................................... 26
2.1.2 Thanh điệu.............................................................................................. 29
2.2 Ngôn ngữ giàu hình ảnh trong thơ Võ Quảng........................................... 33
2.2.1 Từ ngữ thuộc trường nghĩa thiên nhiên ................................................. 34
2.2.2 Từ ngữ thuộc trường nghĩa động vật ..................................................... 37
2.2.3 Những bài học đầu tiên về cuộc sống .................................................... 38
2.3 Ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại............................................... 42
luận, phê bình, kinh nghiệm sáng tác và bài giảng về lí luận sáng tác văn học
thiếu nhi...góp phần đắc lực vào sự hình thành và phát triển của nền văn học
thiếu nhi.
1
Võ Quảng là một trong những tác giả có sáng tác được đưa vào giảng
dạy trong trường Tiểu học. Vì vậy, việc nghiên cứu thơ Võ Quảng dưới góc
độ ngôn ngữ sẽ giúp cho việc giảng dạy các tác phẩm của ông nói riêng và thơ
nói chung có hiệu quả hơn.
Từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài:
Đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Võ Quảng
2. Lịch sử vấn đề
Ngay từ năm 1983, NXB Kim Đồng trong tập sách Bàn về văn học thiếu
nhi bao gồm bài viết của nhiều tác giả, sau phần I. Thơ viết cho các em, công
trình đã dành hẳn phần II, với 18 bài viết về Tác phẩm của Võ Quảng, với sự
đóng góp của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình. Tiêu biểu như:
Nguyễn Kiên với Một tấm lòng vì tuổi thơ, Vân Hồng với Võ Quảng và tiểu
thuyết “Quê nội – Tảng sáng”, Tác phẩm và con người Võ Quảng của Đoàn
Giỏi, Phạm Hổ với Vài cảm nghĩ khi đọc thơ Võ Quảng, Vũ Tú Nam với Tài
năng miêu tả của Võ Quảng, Vân Thanh khẳng định vị trí Võ Quảng và văn
học thiếu nhi, Phạm Hoàng Gia với “Quê nội” và mấy đặc trưng tâm lý thiếu
nhi, Võ Quảng với “Quê nội” của Xuân Tùng, Phong Thu với Một thời niên
thiếu trong văn Võ Quảng, Vũ Ngọc Bình với Vài cảm nghĩ về văn thơ Võ
Quảng, và Phong Lê đi vào thế giới thu nhỏ trong “Quê nội” và “Tảng sáng”
của Võ Quảng.
Trong phạm vi tài liệu nghiên cứu mà tôi sưu tầm được, tôi nhận thấy
đặc điểm nội dung, nghệ thuật, ngôn ngữ thơ của Võ Quảng đã được các nhà
nghiên cứu đề cập đến như sau:
vừa ngộ nghĩnh, vui tươi, rất gần gũi với bạn đọc thiếu nhi”.
Như vậy, các nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học nổi tiếng đã có rất
nhiều lời nhận xét, bàn định về thơ Võ Quảng. Tuy nhiên, những lời nhận xét,
bàn định trên vẫn còn mang tính khái quát, chưa đi sâu vào nghiên cứu đầy đủ
về đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Võ Quảng. Với thơ, ông chỉ chuyên viết cho
lứa tuổi nhỏ. Ông quan niệm thơ văn cho thiếu nhi không nhằm mục đích nào
khác là giáo dục các em. Võ Quảng cũng có phát biểu thêm: giáo dục các em
cần thông qua nghệ thuật một sáng tác chân chính cho thiếu nhi luôn luôn
phải mang tính chất nghệ thuật. Chính vì thế mà tôi chọn đề tài “Đặc điểm
ngôn ngữ trong thơ Võ Quảng” để tìm hiểu sâu hơn ngôn ngữ trong thơ
ông.
3. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này chúng tôi mong muốn khai thác những đặc điểm ngôn ngữ
trong thơ Võ Quảng. Từ đó, góp phần khẳng định tài năng, phong cách nghệ
thuật độc đáo của Võ Quảng cùng những đóng góp to lớn của ông cho nền
văn học nước nhà nói chung và nền văn học thiếu nhi nói riêng.
Bên cạnh đó còn là cơ sở giúp chúng tôi có những hiểu biết nhất định về
tác giả Võ Quảng, trau dồi thêm năng lực cảm thụ văn chương từ góc độ ngôn
ngữ phục vụ cho công tác giảng dạy sau này.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, luận văn thực hiện những nhiệm sau: Tìm
hiểu những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài. Khảo
sát những đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Võ Quảng.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Võ Quảng.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về đặc điểm dùng từ, đặt câu, diễn đạt
trong thơ Võ Quảng. Những tập thơ: Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở
(1962), Nắng sớm (1965), Anh đom đóm (1070), Măng tre (1971).
thần bí, cao siêu. Đối lập với quan niệm này, Arisstotle coi thơ ca là hiện
tượng do con người tạo ra theo những quy luật khác nhau, những quy tắc tổ
chức chặt chẽ.
Ở Trung Hoa, nói đến thơ ca, các học giả thường nhấn mạnh tới chức
năng xã hội của nó. Tuân Tử, Trang Tử cho rằng: “Thi dĩ ngôn chí”, “Thi dĩ
đạo chí” tức là thơ ca để giáo hóa đạo hóa, di dưỡng tính tình, để khí ngôn
cảm hoài.
Ở Việt Nam, quan niệm về thơ trước kia gần như xuất phát từ nội dung.
Xem nội dung nói về điều gì, đó là điều quan trọng hàng đầu của thơ. Theo
Phan Huy Ích “Thơ là để nói chí hướng. Bậc quân sĩ lúc nhàn rỗi miêu tả tâm
tình, ghi lại hình trạng, thường thường biểu hiện ra thiên chương truyền lại
cho người sau, dùng làm niên phải để lại lâu dài. Đó thực là kho báu trong
nhà, đâu chỉ phô bày ý tứ văn vẻ, phẩm bình văn vật mà thôi...” [4,7]. Đây
được coi là một nguyên tắc mĩ học của thơ ca Trung Quốc và Việt Nam thời
trung đại. Quan niệm này đã chi phối, định hướng sáng tác của các thi sĩ nho
gia nhiều thế kỉ. Bước sang thế kỉ XX, đời sống xã hội Việt Nam có những
biến đổi sâu sắc. Các nhà thơ mới với những cách tân táo bạo đã làm đổi thay
bộ mặt thơ ca nước nhà. Thơ được định nghĩa thiên về xu hướng thần bí hoặc
dựa trên cấu trúc ngôn ngữ hoặc dựa vào tính nội dung của hình thức.
“Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp
nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức
ngôn ngữ này”[7,132].
“Thơ là hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh và có nhịp
điệu để thể hiện nội dung một cách hàm súc”[8,1478].
Định nghĩa về thơ của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi có thể xem là chung nhất, khái quát nhất cho tất cả các quan niệm
nêu trên: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, những tâm
trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và
nhìn thấy mình được biểu lộ rõ hơn, có sự vang dội đều đặn” [3, 18].“Thực
chất là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất
định giữa hai từ hoặc là giữa hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả,
nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [2, 12]. Có thể nói vần là chất keo chắp nối, gắn
kết các dòng thơ lại thành từng đoạn, từng khổ và từng bài hoàn chỉnh. “Ở
các câu thơ, khổ thơ có vần với chức năng tổ chức vần thơ như sợi dây ràng
buộc các dòng thơ lại với nhau, do đó giúp việc đọc thuận miệng, nghe thuận
tai, và làm cho người đọc, người nghe dễ thuộc, dễ nhớ”.
Trong các vần thơ bao giờ cũng có sự cộng hưởng, sự hòa phối âm thanh
với nhau của hai âm tiết có vần. Đồng thời còn có sự hòa xướng đối lập nhau
giữa các yếu tố tương ứng trong hai âm tiết hiệp vần nhằm tạo ra sự hòa âm
cho các cặp vần. Đó là sự hòa âm giữa thanh điệu của hai âm tiết hiệp vần,
giữa âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối của âm tiết này với âm tiết kia.
Trong quá trình đó thanh điệu, âm chính, âm cuối là những yếu tố cơ bản
tham gia vào việc tạo nên sự hòa âm cho các vần thơ.
Theo ý kiến của Triều Nguyên có hai cách phân loại vần:
+ Dựa theo mức độ hòa âm, vần được chia làm ba loại: Vần chính, vần
thông và vần ép.
Vần chính đòi hỏi các tiếng hiệp vần phải có phần thanh điệu và phần
vần đồng nhất. Phần thanh điệu đồng nhất là hoặc cùng dấu hoặc cùng bằng
hay cùng trắc, phần vần đồng nhất khi giữa các tiếng hiệp vần cùng có phần
vần giống nhau. Riêng âm đệm có thể có hoặc không có.
Vần thông đòi hỏi các tiếng hiệp vần phải có thanh điệu đồng nhất, phần
vần có âm chính hoặc đồng nhất đặc trưng âm sắc, hoặc đồng nhất đặc trưng
âm lượng, âm cuối hoặc đồng nhất hoàn toàn, hoặc đồng nhất đặc trưng vang,
hoặc đồng nhất đặc trưng ồn.
Vần ép có thanh điệu và âm cuối như vần thông, có âm cuối vượt ra
ngoài các ràng buộc về mặt ngữ âm: không đồng nhất hoặc không cùng nhóm
sánh làm cho nội dung ngữ nghĩa của thơ trở nên mơ hồ, nhiều khi không xác
định, phải lựa chọn, liên tưởng, tưởng tượng mới có thể giải mã và cảm thụ
hết vẻ đẹp của câu thơ. Bên cạnh đó còn sử dụng biện pháp đảo ngữ, đảo từ,
đảo cú pháp, sự kết hợp không bình thường, kể cả cách ngắt câu lạ mà trong
cấu trúc văn xuôi không được phép. Chính đặc trưng ngữ nghĩa này tạo cho
ngôn ngữ thơ có sức cuốn hút bạn đọc.
Nội dung và hình thức không những gắn bó mật thiết với nhau mà còn có
sự chuyển hóa vào nhau. Heghen đã từng nói: “Nội dung chẳng phải cái gì
khác, mà chính là sự chuyển hóa của hình thức và nội dung, và hình thức
cũng chẳng khác gì hơn là sự chuyển hóa của nội dung và hình thức” [3,
224].
1.1.2.2 Đặc trưng của ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu được quy ước trong một cộng đồng xã hội
nhất định. Trong bối cảnh giao tiếp đa dạng, ngôn ngữ được dùng để thực
hiện các mục đích giao tiếp khác nhau, phục vụ nhu cầu bộc lộ tình cảm, nhận
thức và hành động ở con người. Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ được tạo ra
trên cơ sở lao động sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Nhà văn, nhà thơ là
những người nhào nặn ngôn ngữ toàn dân thành phát ngôn mang phong cách
riêng, tạo ra những hình tượng nghệ thuật sinh động làm thay đổi tư tưởng,
tình cảm của người đọc.
Nói như vậy để thấy rằng, phải có ngôn ngữ chung mới có ngôn ngữ cá
nhân và ngôn ngữ nghệ thuật. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và ngôn ngữ
nghệ thuật là điều không thể phủ nhận. Hơn ai hết, các nhà thơ, nhà văn là
người cảm thụ sâu sắc và tinh tế nhất mọi yếu tố thuộc về cái hay, cái đẹp, cái
đặc sắc của ngôn ngữ dân tộc.
Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng đặc biệt đối với văn học, như màu sắc đối
với hội họa, tiết tấu đối với âm nhạc, hình khối đối với kiến trúc. Nói cho
cùng, văn học là nghệ thuật của ngôn từ. Những nhà thơ, nhà văn lớn đều là
Tính cá thể hóa là dấu ấn phong cách vẻ riêng của các nhà văn, nhà thơ
trong cách sử dụng ngôn ngữ. Biểu hiện của tính cá thể hóa là sở thích, sở
trường trong sử dụng ngôn ngữ của các nhà văn, nhà thơ; khả năng sáng tạo;
kĩ thuật dùng ngôn ngữ để tạo ra sự khác biệt giữa các nhân vật, giữa các cảnh
đời, cảnh người trong cùng một tác phẩm hay các tác phẩm khác nhau. Ví dụ
như Nguyễn Khuyến thường sử dụng cách nói thâm trầm, sâu sắc, thấm thía.
Tú Xương thì chửi thẳng, đời thường, dung tục.
Tính hình tượng là ngôn ngữ có khả năng tái hiện hiện thực làm cho hiện
thực trong tác phẩm hiện nên sinh động như chính hiện thực ngoài đời và
người đọc có thể cảm nhận bằng các giác quan. Tính hình tượng được biểu
hiện qua việc thể hiện một chi tiết có màu sắc, hình ảnh qua việc dùng từ láy;
dùng các biện pháp tu từ; nhà văn tái hiện hiện thực làm hiện thực hiện lên
sinh động có đường nét, hình khối. Trong câu thơ:
“Buổi chiều ứa máu
Ngổn ngang những vũng bom”
(Nguyễn Đình Thi)
Sự tan hoang, chia cắt của đất nước trong chiến tranh được thể hiện qua
ngổn ngang, vũng máu.
Tính đa nghĩa là ngôn ngữ nói được nhiều nhất trong một số lượng yếu
tố ngôn ngữ ít nhất. Biểu hiện của tính đa nghĩa là nói được nhiều tầng ý
nghĩa trong một số lượng yếu tố ngôn ngữ ít nhất thông qua sử dụng các biện
pháp tu từ, các từ ngữ đắt; thể hiện tập trung đến mức tối đa nhiều đặc trưng
trong một hoặc một vài yếu tố ngôn ngữ. Ví dụ từ “tót” trong “Truyện Kiều”
của Nguyễn Du là một từ đắt, có tính hình tượng là miêu tả dáng ngồi của Mã
Giám Sinh; tính chính xác lột tả bản chất vô học, vô văn hóa của Mã Giám
Sinh; tính truyền cảm là thái độ của tác giả với nhân vật. Như vậy từ “tót” có
tính đa nghĩa.
Xét về phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưng
và vốn hiểu biết của ông, vì thế cũng được mở rộng trên nhiều lĩnh vực.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông được giao làm Phó Chủ tịch Ủy
ban Kháng chiến hành chính Đà Nẵng. Năm 1948, ông được cử làm phó
chánh án Tòa án Quân sự miền Nam Việt Nam, sau đó là Hội thẩm nhân dân
Tòa án nhân dân liên khu V. Trong suốt 9 năm nền dân chủ cộng hòa, Võ
Quảng đã khẳng định được năng lực hoạt động của mình trên hai lĩnh vực
hành chính và pháp luật.
Sau năm 1954, Võ Quảng tập kết ra Bắc. Ông đã từ chối con đường
hoạt động chính trị - một con đường đầy thuận lợi và triển vọng đối với ông
lúc bấy giờ - để đi theo nghề viết văn. Đây là bước ngoặt quan trọng trong
cuộc đời Võ Quảng. Kể từ đó, ông chỉ chuyên tâm với sáng tác văn học cho
trẻ em, hết mình vì trẻ thơ. Ông là một trong những người đã bỏ nhiều công
sức để xây dựng nền móng đầu tiên cho nền văn học thiếu nhi dưới chế độ
mới. Ông là Tổng biên tập đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng (từ 1957 –
1964). Là người tâm huyết với nghề, ông đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu bồi
dưỡng đạo đức, tình cảm và giáo dục tư cách làm người cho các em ngay từ
tuổi ấu thơ.
Võ Quảng mất năm 2007. Tất cả những sáng tác ông để lại cho các em
đều là những giá trị tinh thần không gì có thể thay thế.
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
Mỗi nhà văn, ngay từ khi bắt đầu cầm bút thường vẫn chọn cho mình
một đối tượng sáng tác cụ thể. Là người trực tiếp cầm bút, đồng thời cũng là
người từng nhiều năm đảm trách lãnh đạo Nhà xuất bản Kim Đồng, Võ
Quảng đã có nhiều bài viết, bài phát biểu, lời tâm sự,...trực tiếp nói lên quan
niệm của ông về văn học thiếu nhi. Ông quan niệm: “Thiếu nhi chiếm non
nửa dân số. Do đó, mọi vấn đề liên quan đến thiếu nhi đều mang tính chất đồ
sộ”. Và ông cũng từng tâm sự rằng: “Hãy dành cho con trẻ những gì đẹp đẽ
và tinh khiết nhất ngay từ khi trẻ bước vào đời”. Có lẽ chính vì thế mà ngay
bình, kinh nghiệm sáng tác và bài giảng về lí luận sáng tác văn học thiếu
nhi,..góp phần đắc lực vào sự hình thành và phát triển của nền văn học thiếu
nhi Việt Nam. Những bài viết tiêu biểu về tiểu luận – phê bình như: Chung
quanh vấn đề sáng tác văn thơ cho thiếu nhi, Làm thơ cho thiếu nhi, Truyện
đồng thoại cho thiếu nhi, Thơ cho thiếu nhi, Nói về ngôn ngữ văn học đi vào
nhà trường, Một số ý nghĩ chung quanh vấn đề sách viết cho thiếu nhi....
Võ Quảng từng bộc bạch tâm sự: “Văn học thiếu nhi có mục đích chủ
yếu là giáo dục các em biết sống tốt đẹp, biết cảm thông, biết yêu thương, biết
quý trọng cái đẹp, phải hiểu rõ nghĩa vụ làm người. Tôi thường chọn viết cho
các em những gì tôi yêu thương, quen biết, tôi hay viết về sự việc ở chốn thôn
quê, nơi tôi đã từng yêu thương từ nhỏ cho đến lúc khôn lớn. Tôi viết về cuộc
đời sau Cách mạng tháng Tám đã trả lại tự do cho tôi, cho bà con tôi. Mong
sao chữ tôi viết đó không phải là những chữ mà là những rung động của tâm
hồn tôi. Viết cho thiếu nhi là niềm vui và lẽ sống của tôi trong những năm
qua”. Võ Quảng là gương mặt tiêu biểu của văn học thiếu nhi Việt Nam. Suốt
cuộc đời cầm bút viết văn của mình, ông đã dành chọn tài năng và tâm huyết
cho các em – những đọc giả nhí nhỏ tuổi đầy yêu mến. Trải qua nhiều thập kỉ,
những sáng tác của Võ Quảng vẫn luôn được các em đón nhận một cách hào
hứng, trở thành hành trang cho các em khôn lớn vào đời.
Tiểu kết
Trong chương đầu của luận văn, chúng tôi trình bày những vấn đề lí
thuyết có liên quan đến phần khai thác đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Võ
Quảng.
Thơ là một loại hình nghệ thuật đặc thù, độc đáo. Ngôn ngữ thơ là một
phương diện hình thức góp phần quan trọng làm nên phong cách, diện mạo
của thơ. Nhịp điệu, vần, thanh điệu, thể thơ là những biểu hiện rõ nhất cách tổ
chức ngôn từ trong thơ. Đó cũng là những yếu tố tạo ra những nét riêng, nét
đặc sắc ở mỗi nhà thơ.
sư phạm. Người viết cần cân nhắc nên nói cái gì, nói như thế nào để có lợi
cho tâm hồn các em mà không ảnh hưởng đến sự thể hiện nghệ thuật”.
2.1 Ngôn ngữ giàu nhạc tính trong thơ Võ Quảng
Thơ Võ Quảng rất giàu nhạc điệu. Trẻ em thích thơ ông và dễ thuộc thơ
ông cũng vì nhạc điệu trong đó. Nhạc điệu của thơ liên quan chặt chẽ tới việc
tổ chức câu thơ, vần, nhịp, tới sự mô phỏng âm thanh. Ngôn ngữ giàu nhạc
tính được thể hiện rõ nét qua các yếu tố sau:
2.1.1 Thể thơ
Võ Quảng từng nhận xét: “Khoảng cách ba năm giữa một em bé 3 tuổi
với một em bé 6 tuổi là rất xa. Khoảng cách 60 năm giữa một thiếu niên 14