đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết hồ anh thái - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Mỹ Anh

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

TP. Hồ Chí Minh – 2012


BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Mỹ Anh

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
Chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 602232

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. PHÙNG QUÝ NHÂM


1.1.1. Nguyên nhân đổi mới tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay............21
1.1.2. Nhận diện tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay ..............................27
1.1.3. Những cách tân nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay ...33

1.2. Khái quát về nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái ............................. 44
1.2.1.Nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ năm 1986 đến năm 2000 ..............44
1.2.2. Nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ sau năm 2000 đến nay .................55


3

Tiểu kết ........................................................................................... 60
CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRẦN
THUẬT, KẾT CẤU VÀ CỐT TRUYỆN TIỂU THUYẾT HỒ
ANH THÁI ..................................................................................... 62
2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trần thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái 62
2.1.1.Vài nét về nghệ thuật xây dựng nhân vật trần thuật tiểu thuyết ..................62
2.1.2. Xây dựng nhân vật qua tình huống .............................................................65
2.1.3 Xây dựng nhân vật qua chi tiết gợi bản chất ...............................................73
2.1.4 Tên nhân vật được ký hiệu hoá qua việc khắc hoạ đặc điểm, tính cách, chức
danh .......................................................................................................................79

2.2 Kết cấu tiểu thuyết Hồ Anh Thái........................................................... 83
2.2.1 Vài nét về kết cấu tiểu thuyết ......................................................................83
2.2.2 Kết cấu theo chương ....................................................................................86
2.2.3 Kết cấu đa tuyến ..........................................................................................89
2.2.4 Kết cấu liên văn bản ....................................................................................92

2.3. Cốt truyện tiểu thuyết Hồ Anh Thái .................................................... 96
2.3.1. Vài nét về cốt truyện tiểu thuyết .................................................................96



5

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Năm 1986 là dấu mốc quan trọng trong đời sống xã hội nói chung và trong
văn học nghệ thuật nói riêng. Đây là thời kì mà quá trình đổi mới văn học diễn ra
mạnh mẽ và sôi nổi. Giai đoạn này văn xuôi Việt Nam phát triển ở tất cả các thể
loại: kịch, lý luận phê bình, văn học dịch, … và đạt được một số thành tựu đáng kể.
Điều đặc biệt là quá trình đổi mới diễn ra vô cùng phong phú, đa dạng ở thể loại
truyện và tiểu thuyết. Nhưng tạo nên những dư ba, những chấn động trong cao trào
đổi mới của văn học phải nói đến tiểu thuyết. Trên văn đàn lúc này xuất hiện đông
đảo các nhà văn chuyên viết về tiểu thuyết. Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã lý giải
điều này như sau: “Quá trình đổi mới diễn ra sôi động trong lĩnh vực truyện và tiểu
thuyết là hoàn toàn hợp với quy luật. Bởi vì các thể loại văn xuôi là hiện thân của
sự uyển chuyển, xét về bản chất dường như không có tính qui phạm. Truyện và tiểu
thuyết là những thể loại được xây dựng trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với hiện
thực đang vận động và phát triển” [18, tr.198]. Cũng theo sự thống kê của nhà
nghiên cứu Phan Cự Đệ, nếu tính những tác giả viết từ ba cuốn trở lên thì từ năm
1980 đến năm 1996, chỉ riêng Hội Nhà văn Việt Nam, các nhà văn đã cho ra mắt
bạn đọc trên 360 cuốn tiểu thuyết. Một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu trong giai
đoạn này như: Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Ông cố vấn của Hữu Mai đoạt
giải thưởng Hội Nhà văn hai năm (1988 – 1989). Bến không chồng của Dương
Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường nhận giải thưởng
của Hội Nhà văn (1990 – 1991), Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai được nhận giải
thưởng Hội đồng Văn học chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang của Hội
Nhà văn (1993), … .
Tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay không cắt lìa truyền thống đã có,
nhưng người viết có ý thức hơn trong việc làm mới, làm giàu, làm khác truyền

1984 của báo Văn nghệ (truyện Chàng trai ở bến đợi xe), giải thưởng Văn xuôi
1986 – 1990 của Hội nhà văn Việt Nam và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (tiểu
thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng), giải thưởng Văn học 1995 của Hội liên


7

hiệp Văn học Nghệ Thuật Việt Nam (tập truyện ngắn Người đứng một chân); giải
thưởng Hội nhà văn Hà Nội 2012 (tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột).
Mỗi tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đều là một tiếng nói riêng, một thái độ đối
với cuộc đời và con người. Chiều sâu trong cái nhìn nghệ thuật của nhà văn không
chỉ là hiện thực thô sơ mà là hiện thực được nhào nặn lại bằng suy nghĩ và tưởng
tượng của mình. Chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ
Anh Thái ngoài những lý do trên còn vì:
Các tiểu thuyết của nhà văn hầu hết đều nằm trong giai đoạn từ 1986 đến
nay, là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng. Đây là thời kỳ mà quá trình đổi mới trong
văn học, đặc biệt là tiểu thuyết diễn ra ở cao trào. Đây lại cũng chính là quãng thời
gian kết thúc một thế kỉ và lại mở ra một thế kỉ mới. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
gọi giai đoạn này là thời của tiểu thuyết. Thời kì này các cây bút tiểu thuyết đều có
ý thức tìm tòi, đổi mới kỹ thuật tiểu thuyết trên cơ sở gắn nó với nội dung nhân bản.
Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái luôn tạo ấn tượng mới với người đọc bởi nhà
văn luôn hướng đến con đường tìm tòi, cách tân nghệ thuật để không ngừng đổi mới
về phong cách. Nhà văn không che giấu mong muốn được đọc và viết những tác
phẩm là sản phẩm của sự tưởng tượng phi thường, tạo dựng được những tình huống
khác lạ, những cảm xúc mê đắm, những nhân vật không chịu mặc đồng phục. Tiểu
thuyết của tác giả luôn được bạn đọc chờ đợi và đón nhận nồng nhiệt.
Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn đã góp phần cách tân và hiện đại
hoá văn xuôi Việt Nam, đưa văn học Việt Nam hoà nhập vào dòng chảy của văn
học thế giới.
Khi tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ 1986 đến nay chúng tôi

xã hội chủ nghĩa thì nhân vật Hoà sẽ không có những hành động như những con
người kinh doanh. Michael Harris cho rằng Hồ Anh Thái đã thật sự trưởng thành,
đứng về phía những lực lượng đổi mới khi anh viết cuốn tiểu thuyết Trong sương


9

hồng hiện ra. Cấu trúc của tác phẩm chịu sự tác động của xung đột ở trung tâm của
cuốn tiểu thuyết. Michael Harris đánh giá tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra
Wayne Karlin, một giáo sư ngôn ngữ và văn chương Mĩ khi viết lời giới
thiệu bản in của nhà xuất bản Đại học Washington, 2001 cho tác phẩm Người đàn
bà trên đảo (The Women on the Island) ngoài việc khái quát về tiểu sử Hồ Anh
Thái từ thời thơ ấu đến nay, nhà nghiên cứu đã tóm tắt tác phẩm Người đàn bà trên
đảo và đưa ra những chiêm nghiệm của mình về nghệ thuật cũng như xã hội Việt
Nam phản ánh trong tiểu thuyết này “Hồ Anh Thái mở đầu người đàn bà trên đảo
bằng một câu chuyện giống như ngụ ngôn về một đoàn nghĩa quân đang đánh
Pháp. Câu chuyện này cũng dùng làm đoạn kết tài hoa cho cuốn sách … những câu
hỏi mà rốt cục tác giả, và cuốn tiểu thuyết, đặt ra cho chúng ta cùng suy ngẫm là
làm sao tìm được cách để sống hài hoà với nhau và hài hoà ở trong chính mình với những uẩn ức phức tạp và trái ngược ngay trong tâm hồn chúng ta ?” [63,
tr.404].
Ngô Thị Kim Cúc trên báo Thanh niên 3-11-2002 có bài viết Cái ác ở phía ít
ngờ nhất đã nhận định tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế có cốt truyện
mang tính siêu thực. Cũng với tiểu thuyết này Hồ Anh Thái đã tiến thêm một bước
trong kỹ thuật viết, sử dụng những yếu tố ảo một cách thành công để phục vụ hàm ý
của tác phẩm.
Hoài Nam đã bày tỏ thái độ không đồng tình của mình với quyết định khước
từ trao giải thưởng Văn học năm 2003 cho tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế
của Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam trong bài viết Từ một giải thưởng không
thành đăng trên Tạp chí Ngày nay, 2004. Theo Hoài Nam thì với tác phẩm này Hồ
Anh Thái đã dựng nên một hiện thực mới và hiện thực mới này không thể đo lường

luồng sáng mới. Để làm được điều này, Hồ Anh Thái đã di chuyển điểm nhìn, di
chuyển thời gian không gian nghệ thuật giữa hai cực hiện đại và cổ đại, hiện tại và
quá khứ một cách sinh động và linh hoạt để người đọc đối chiếu và suy nghĩ. Điều
thành công của Hồ Anh Thái là sáng tạo ra nhân vật Savitri “ nhân vật 2 trong 1”.
Savitri là nhân vật được xây dựng trong hai kiếp “Tiền kiếp (cách đây hơn 2500


11

năm) là công chúa Savitri, một đời yêu thương và theo đuổi Đức Phật theo cách của
riêng mình và hiện kiếp là Nữ thần Đồng trinh đã giải nghệ Savitri với nghề hướng
dẫn viên du lịch như một nghệ nhân kể chuyện đời Đức Phật (và cả chuyện đời
mình). Vấn đề tác giả đặt ra với Savitri được lồng trong hai quãng thời gian đó”
[66, tr.498].
Ý kiến về ngôn ngữ, giọng điệu tiểu thuyết Hồ Anh Thái:
Dina Shilo trên Tạp chí Bưu điện Jerusalem, 26-2-1999 có bài Xuyên qua
màn sương hồng của quá khứ cho rằng người Isreal sẽ tìm thấy rất nhiều đồng điệu
khi đọc tiểu thuyết Trong Sương hồng hiện ra. Dina Shilo nhận rõ được những điều
Hồ Anh Thái muốn nói về thế hệ hậu chiến ở Việt Nam cần phải tìm ra những giá
trị mới, có sự nhận định, đánh giá mới về gia đình và quá khứ. Trong bài viết này,
tác giả nói về bút pháp của Hồ Anh Thái như sau: “Tác giả đã viết với sự hài hước
tinh tế, khiến cho cuốn sách này hấp dẫn và mang đầy tính thưởng thức. Hồ Anh
Thái là một tác giả văn học nổi tiếng ở Việt Nam – tác giả 11 cuốn tiểu thuyết và
truyện ngắn, đã đoạt một số giải thưởng văn học, uỷ viên Ban chấp hành Hội nhà
văn Hà Nội. Nhưng đối với những người thuộc giới văn học bảo thủ thì anh có một
giọng văn phê phán đáng ngạc nhiên” [63, tr.443].
Nhà văn Lê Minh Khuê viết bài Người còn đi dài với văn chương đăng trên
Tạp chí Số1, 3 – 2003 cho rằng tiểu thuyết có kết cấu từ ý tưởng hôm nay, mạch
truyện “liền tù tì”. Ngôn ngữ trong truyện là ngôn ngữ của người Việt hôm nay.
“Không lôi thôi lòng thòng”. Chi tiết trong truyện cô đặc và đắt, ám ảnh người đọc

hết ở chỗ đó; ở từng con chữ có đời sống là lạ; ở mỗi tình tiết giàu sức khám phá, ở
các mối liên tưởng lạ lùng và gần gũi; ở tổng thể câu chuyện, nó mở ra một góc
nhìn nhân sinh, nó cho ta thấy đa tầng, những thực tại nhìn thấy và không nhìn
thấy, những ấn tượng đặc sắc thông qua chủ đề của nó ở chính cuộc đời này, hôm
nay…,” [65, tr.298]. Bên cạnh đó, Ma Văn Kháng cũng bày tỏ sự e ngại của mình
khi nói về chi tiết trong tác phẩm của Hồ Anh Thái: “Có điều này thuộc về nghề
nghiệp: tốn chi tiết quá ! Ông Nguyễn Công Hoan nói: nên ăn dè ! truyện nào của


13

Hồ Anh Thái cũng ăm ắp chi tiết, đọc vừa sướng vừa lo: phải mình khéo kiệt sức
mất ! Có lẽ đó là tâm lý của tuổi già ?” [65, tr.298].
Phạm Chí Dũng trong bài viết Ám ảnh và dự cảm đăng trên báo Văn nghệ,
22-11-2003 đã có sự đối chiếu giữa một vài tiểu thuyết ngày nay với tiểu thuyết Cõi
người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái. Nhà nghiên cứu cho rằng ngày nay có
vài cuốn tiểu thuyết mang hơi hướng hiện thực và tâm linh. Những cuốn tiểu thuyết
này tuy có phơi bày mặt trái của xã hội nhưng lại gợi lên cho người đọc, nhất là
những người đọc trẻ tuổi cảm thấy ngột ngạt, trần trụi đến không có lối thoát.
Nhưng ngược lại khi đến với Cõi người rung chuông tận thế , người đọc lại có thể
tiếp nhận được tinh thần ám ảnh và dự cảm. Sự thành công của tiểu thuyết này
ngoài yếu tố mạch truyện chuyển động nhanh, hiện đại, đi thẳng vào vấn đề cá nhân
hôm nay thì còn có bút pháp châm biếm với một kho ngôn ngữ dân gian ẩn dụ rất
phong phú, cùng với điểm nhìn khách quan và thái độ giễu cợt của nhà văn đối với
mặt trái của xã hội hôm nay đã tạo nên sức cuốn hút của tiểu thuyết.
Thuý Nga qua bài Đời cười trong mười lẻ một đêm đăng trên báo Tuổi trẻ
Tp.HCM, 1-3-2006 rất tâm đắc với cách mở đầu câu chuyện của tiểu thuyết Mười lẻ
một đêm. Theo nhà nghiên cứu, với cách bắt đầu như thế Hồ Anh Thái đã làm cho
tình huống trong truyện trở nên trớ trêu. Ngay từ lúc bắt đầu của tiểu thuyết, nhà
văn sử dụng giọng điệu bỡn cợt và hài hước. Giọng điệu này theo suốt chiều dài của

năm nào cũng có sách mới xuất bản. Từ cuốn tự sự 265 ngày (NXB Hội nhà văn
2001)trở đi, nhà văn viết với một giọng văn hoàn toàn khác thời kỳ đầu “Giễu nhại,
châm biếm sắc sảo những thói tật trong xã hội. Với thủ pháp sử dụng thành ngữ,
khẩu ngữ đời thường, lối viết tràn câu, tràn dòng, bỏ dấu…anh đang muốn thể hiện
một xã hội đang sôi động đổi mới nhưng vẫn đan xen những cái lố lăng bất
cập…Phải dùng sự hài hước thông minh để phê phán một cách hữu hiệu” [66,
tr.483]. Theo Vân Long thì thành công của tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và
Tôi chính là việc dựng lại lịch sử Phật giáo một cách chân thực và sáng tạo.
Văn Thị Thu Hà tiếp cận tiểu thuyết Đức Phật nàng Savitri và Tôi dưới góc
độ văn hoá. Trong bài viết Một vẻ đẹp trong suốt đăng trên báo Lao động cuối tuần,


15

22-6-2007 chị đã giải mã các biểu tượng văn hoá có trong tiểu thuyết này: “Lấp
lánh biểu tượng. Biểu tượng khất thực - khơi ngợi lòng trắc ẩn và tinh thần bình
đẳng. Biểu tượng máu và nước - giải hoà tranh chấp giữa hai bộ tộc. Biểu tượng ăn
chay - tuyên bố tình thương với mọi sinh linh. Với tôi, bộ ba biểu tượng này thể hiện
rất tuyệt, rất hình tượng quan điểm bình đẳng tuyệt đối chỉ có ở Đức Phật” [66,
tr.489].
Hoàng Công Danh tiếp cận tiểu thuyết Đức Phật nàng Savitri và Tôi dưới
góc độ thi pháp học. Nhà nghiên cứu có nhận xét tinh tế và sâu sắc về các thủ pháp
nghệ thuật trong tiểu thuyết này của Hồ Anh Thái. Trong bài viết Tái hiện Phật sử,
đồng hiện nghệ thuật, tương hợp đạo và đời in trên tạp chí Nhà văn, 5-2008. Theo
tác giả, cái mới của cuốn sách ngoài việc dựng lại hình ảnh Đức Phật từ lúc sơ sinh
đến khi xuất gia thành đạo và nhập diệt còn thể hiện ở góc nhìn mới thông qua lối
kể chuyện. Cái khó của văn bản là tất cả các địa danh, tên nhân vật, danh từ riêng
đều không được tác giả phiên âm từ tiếng Phạn sang tiếng Việt. Điều này làm cho
độc giả khó nhớ hết tên nhân vật.Theo Hoàng Công Danh thì chính nghệ thuật trong
tiểu thuyết là yếu tố làm nên phong cách riêng của Hồ Anh Thái. Nhà nghiên cứu

Nghiêm nhìn nhận các môtip này xuất hiện dưới các góc độ triết lý; từ hệ chủ đề,
nhân vật; từ phương thức thể hiện.
Nguyễn Thanh Tâm với luận văn “Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Hồ Anh
Thái”(2011) nghiên cứu về nghệ thuật tự sự tiểu thuyết Hồ Anh Thái qua những
phương diện như: Nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật tổ chức cốt truyện và
kết cấu, nghệ thuật trần thuật.
Nguyễn Thị Kim Thanh tìm hiểu vấn đề văn hoá Ấn Độ qua ba tác phẩm
Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Đức Phật, nàng Savitri và Tôi, Namasar! Xin chào
Ấn Độ của Hồ Anh Thái. Nguyễn Thị Kim Thanh đưa ra nhận định cảm hứng Phật
giáo chi phối sáng tác nhà văn trong các tác phẩm này. Theo tác giả luận văn
phương thức tiếp cận nổi bật được nhà văn vận dụng đó là chất liệu kì ảo, sự linh
hoạt trong người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật và giọng điệu đa thanh sinh động.


17

Có rất nhiều bài viết, phê bình cũng như luận văn về nội dung và nghệ thuật
trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ năm 1986 đến nay. Trên đây chúng tôi chỉ nêu
một số bài viết tiêu biểu. Qua những tài liệu trên, chúng tôi nhận thấy chưa có công
trình đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái. Xuất phát
từ thực tế đó, việc nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái là
một hướng nghiên cứu hợp lý, có ý nghĩa khoa học và có giá trị thực tiễn. Từ công
trình này chúng tôi hy vọng góp một cái nhìn sâu để từ đó thấy được ý nghĩa thẩm
mỹ, đậm chất nhân văn trong nghệ thuật viết tiểu thuyết của nhà văn Hồ Anh Thái.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối với đề tài này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là tiểu thuyết của nhà
văn Hồ Anh Thái từ năm 1986 đến nay. Bao gồm các tiểu thuyết:
Vẫn chưa tới mùa đông (1986).

cận và tìm ra con đường hoàn thiện nghệ thuật viết tiểu thuyết của Hồ Anh Thái.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để
so sánh nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay với các tiểu thuyết ở
những thời kỳ trước. So sánh đối chiếu giữa nghệ thuật viết tiểu thuyết của Hồ Anh
Thái với nghệ thuật viết tiểu thuyết của một số nhà văn khác. Từ phương pháp so
sánh, đối chiếu này chúng tôi sẽ tìm ra những ưu điểm cũng như những nhược điểm
trong bút pháp viết tiểu thuyết của nhà văn.
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi tham khảo những ý kiến, nhận xét, phê
bình về nghệ thuật viết tiểu thuyết của nhà văn.Với tất cả những phương pháp nói


19

trên, chúng tôi hy vọng sẽ có những phát hiện sâu và sát về những đặc điểm nghệ
thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái qua luận văn của mình.

5. Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài Đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, chúng
tôi mong có một số đóng góp như sau:
Đưa ra một cái nhìn khách quan, tổng thể về nghệ thuật viết tiểu thuyết của
Hồ Anh Thái, vạch ra xu hướng vận động trong nghệ thuật viết tiểu thuyết của tác
giả từ năm 1986 đến nay và tìm ra một số thi pháp tiểu thuyết độc đáo của Hồ Anh
Thái.
Bên cạnh đó chúng tôi cũng tìm ra những ưu điểm đồng thời vạch ra những
hạn chế trong nghệ thuật viết tiểu thuyết của nhà văn.
Từ đó chúng tôi mong muốn sẽ giúp cho người đọc nhận định được phong
cách viết tiểu thuyết của Hồ Anh Thái. Người đọc sẽ có phương pháp tiếp cận tốt
hơn khi đến với tiểu thuyết của nhà văn. Qua luận văn của mình, chúng tôi sẽ khẳng
đinh sự đa dạng, phong phú trong nghệ thuật viết tiểu thuyết của nhà văn Hồ Anh
Thái nói riêng và sự đa dạng, phong phú trong nghệ thuật viết tiểu thuyết của các

trong lòng người đọc bởi nội dung tư tưởng của tác phẩm phản ánh được vấn đề của
thời đại cùng với những bước đột phá trên con đường hoàn thiện về mặt hình thức.

1.1. Vài nét về nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay
1.1.1. Nguyên nhân đổi mới tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay
Từ sau năm 1975, đất nước ta chuyển từ chiến tranh sang hoà bình, chuyển
từ cuộc sống với những bất trắc trong chiến tranh sang một cuộc sống tự do, người
dân làm chủ đất nước và làm chủ chính mình.Trong vòng ba mươi năm của cuộc
đấu tranh giành lấy độc lập ấy, hoà vào dòng chảy của văn học kháng chiến, tiểu
thuyết để lại cho chúng ta những tác phẩm xuất sắc. Đấy là những tác phẩm đã dựng
lên hình tượng và thế đứng của con người Việt Nam trong cuộc chiến. Chúng tôi có
thể kể đến một vài tác giả và tác phẩm tiêu biểu trong thể loại tiểu thuyết như Vũ Tú
Nam (Nhân dân tiến lên), Nguyễn Đình Thi (Xung kích), Võ Huy Tâm (Vùng mỏ),
Nguyễn Văn Bổng (Con trâu), … . Không theo một quy phạm cứng nhắc nào,


22

nhưng các tiểu thuyết giai đoạn này dựng lên những mảng lớn của cuộc sống, những
chiến trường ác liệt, những đám đông nhân vật luôn vận động và chuyển đổi. Hình
tượng nhân vật trong các tác phẩm này là những con người anh dũng gắn liền những
chiến công lừng lẫy cùng với vẻ đẹp tinh thần yêu nước đã mang đến một không khí
sôi động, lạc quan cho tiểu thuyết thời kì kháng chiến. Tuy nhiên, nền văn học trong
chiến tranh nói chung và tiểu thuyết nói riêng bao giờ cũng có những hạn chế nhất
định. Hầu hết các tiểu thuyết thời kì 1945 – 1975 đều viết theo khuynh hướng sử
thi. Các nhà văn đều xây dựng tác phẩm của mình theo xu hướng ngợi ca về chủ
nghĩa anh hùng cách mạng. Các tác giả chưa phản ánh được một cách toàn diện cái
hiện thực phức tạp và khốc liệt của chiến tranh, chưa đi sâu vào những mâu thuẫn
nhân dân, những vấn đề xã hội trong cuộc sống đời thường hằng ngày của con
người. Cái mà văn học phản ánh là con người lịch sử, con người tập thể. Trong giai

cuộc sống của những người nơi chiến trường để rồi khi trở về với cuộc sống thời
hậu chiến họ trở nên lạc lõng, xa lạ với thực tại. Nguyễn Khải trong tiểu thuyết Cha
và Con và … có sự “lưỡng lự” trước vấn đề nhìn nhận nhu cầu tôn giáo và tâm linh
của con người.
Trong bất kì thời đại nào của lịch sử, văn học bao giờ cũng là phương tiện,
vũ khí đắc lực tác động đến tư duy của con người. Và ngược lại, văn học cũng chịu
sự chi phối của thời cuộc. Nguyên nhân dẫn đến đỉnh điểm đổi mới của văn học từ
năm 1986 cũng phải kể đến ảnh hưởng của công cuộc đổi mới tư duy. Văn học song
hành với cuộc đấu tranh dân chủ và công bằng xã hội. Những cuộc tranh luận và
trao đổi về dân chủ, tự do giúp cho độc giả hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa văn học
và chính trị, giữa văn học và cuộc sống. Từ đó những trường phái, những quan niệm
nghệ thuật không sáng tác theo con đường chủ nghĩa hiện thực như chủ nghĩa lãng
mạn, chủ nghĩa tượng trưng, khoa học viễn tưởng, … được đón nhận với thái độ cởi
mở và nồng nhiệt hơn. Đại hội các nhà văn Việt Nam lần thứ III (1983) diễn ra
trong hoàn cảnh mới của đất nước. Ông Phạm Văn Đồng gửi đến Đại hội bức thư,
trong đó có đoạn: “Là người chiến sĩ cách mạng, nhà văn phải đi sâu vào cuộc sống
xã hội chủ nghĩa, tìm hiểu khám phá và sáng tạo với tầm nhìn khoáng đạt, thấy rõ
ánh sáng, bóng tối, quá khứ và tương lai, Việt Nam và thế giới. Trong cuộc sống
cũng như tác phẩm nhà văn không tránh khỏi bóng đen, có thể viết rất đậm về bóng


Trích đoạn Ngôn ngữ đời thường mang tính thị dân Ngôn ngữ mang đậm chất dân gian Vài nét về giọng điệu tiểu thuyết Giọng điệu triết lý Giọng điệu giễu nhại, trào phúng
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status