NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NAM BỘ
- Nguyễn Hữu Hiệp -
Trong giao tiếp, người Nam Bộ có cả trăm cách nói, rất đặc thù như: nói tếu, nói tiếu lâm,
nói lái, nói móc, nói xược, nói xỏ, nói lẻo lự, nói trận, nói thượng, nói lẫy, nói lẽ, nói tứng
ứng, nói ma ma phần phật... người ta còn:
1. Nói trại: Do kính sợ Trời Đất, khi buộc phải kêu than, người ta không kêu "Trời Đất
ơi!" sợ có lỗi, mà kêu "Trèn Đét ơi!" (hoặc "quá Trèn, quá Đét"). Hay "Thánh Thiền ơi!"
(không kêu Thánh Thần ơi, vì sợ Thần trừng phạt, còn thánh thì dễ, vì người phàm...).
2. Nói tránh: Thay vì nói/gọi đúng tên một nhân vật lịch sử có công với dân với nước, như
Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính người ta gọi "Nguyễn Hữu Cảnh" (nói trại nhiều lần: Kính
=> Kỉnh => Kiểng => Cảnh). Hoặc ông Nguyễn Văn Thụy người ta gọi Nguyễn Văn Thoại
(Thoại Ngọc Hầu).
Hoặc thay vì gọi đúng tên người, chẳng hạn như ông Chín Nghệ, ông Út Nhọn, để tránh
phạm thượng, người ta gọi ông Chín Củ, ông Út Mũi, ...
Thay vì nói "đại tiện" họ nói "đi ngoài" (ngoài là ngoài đồng, ngoài vườn lẩn khuất trong
lùm bụi, sau đổi tiếng "đi cầu" hay "cầu tiêu" là tiếng dùng "đặc hữu" của người Nam Bộ,
hay nói đúng hơn là của nhân dân vùng bị ngập sâu trong mùa nước nổi. Ngày trước còn
vắng vẻ, chưa cần thiết phải làm "cầu", sau này khi có ý thức làm "cầu" thì do bị ngập
nước nên cũng không tiện bằng bắc cầu tiêu trên sông hoặc trên hầm cá. Do đó, muốn đi
"giải quyết" phải "đi cầu".
3. Nói ngược: Là nói ngược lại sự thật hiển nhiên để giải thích một hiện tượng cụ thể,
hoặc tự an ủi mình. Thí dụ như leo núi "mệt quá" thì nói "khỏe quá". Nhìn đứa bé kháu
khỉnh "thấy thương" thì nói "thấy ghét".
4. Nói lề: Bằng vào kinh nghiệm, người ta có cách nói lề để tổng kết, giải thích những hiện
tượng thường là mang tính ngẫu nhiên, nhưng cũng có phần nào cơ sở. VD: "Đàn ông rộng
miệng giàu sang/Đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà" - "tan hoang" do tính nhiều
chuyện, ngồi lê đôi mách, không lo việc nhà, không quan tâm giáo dục con cái, tất nhiên
câu nói có phần "quơ đũa cả nắm"; trái lại đàn ông miệng rộng thì tốt vì biểu thị hoạt bát,
dám ăn nói.
Hoặc như đứa nhỏ sinh ra lúc đêm khuya thì cho là sáng dạ hơn những đứa bé sinh ra ban
ngày (ban đêm thanh tịnh, không bị ảnh hưởng tiếng động sinh hoạt môi trường xung
hoặc "đi bán muối" đối với trường hợp chết trôi sông không tìm được (ý nói thây rã ra như
muối tan trong nước).
8. Nói rút: Đây là cách nói cho mau hết câu, VD:
Để chỉ một khoảng thời gian mới xảy ra, người ta nói "nảy" (ban nãy): "Nảy tôi có hẹn với
nó sẽ gặp nhau tại đây". Đối với việc xảy ra hơi lâu: "hổm" = "Hổm tôi có dặn anh rồi".
Còn rất lâu, xưa lắm thì nói "nẳm" = "Nẳm cánh đồng này chỉ toàn lúa một vụ".
Để chỉ vị trí/nơi chốn, người ta nói: "trỏng" (trong ấy), "ngoải" (ngoài ấy), "bển" (bên ấy),
"trển" (trên ấy)...
Để đơn giản hóa số tiếng, thay vì nói:
- Ông nội, bà nội => nội
- Người thứ sáu => sáu
- Ông ấy => ổng
- Anh ấy => ảnh
- Cô ấy => cổ
- Thầy ấy => thẩy
- Thằng ấy => thẳng
...
Khuynh hướng dùng thanh hỏi để thay cho thanh của tiếng có sẵn có cũng được lạm dụng
ở nhiều trường hợp khác. VD: "không" => khổng; "chưa" => chửa...
Nói để gợi tả hoặc làm cho tăng sắc thái/cường độ tình cảm thì nối thêm một vài tiếng như:
Sáng trưng (rất sáng); nhọn lễu (rất nhọn); hết trơn hết trọi (sạch sành sanh); buồn xo
(buồn thiểu não); lạnh muốn chết; giận hết can (cực độ)...
Bày tỏ sự ngạc nhiên, người ta dùng những từ: "Ủa?", "vậy sao!", "hèn chi!", "hèn gì!", ...
Hoặc ngạc nhiên nhưng không đồng tình thì nói "ậy!", VD: "Ậy, sao anh nói kì vậy!".
Đặc biệt, khi nhắc đến người khác, việc khác mà có ý khinh chê, lúc đó người ta lập lại
tiếng đó và cộng thêm vần "iếc". VD: "Thằng đó dốt quá mà, kĩ sư kĩ siếc gì!"; "Nó thi thì
thi chớ đậu điếc gì!"; "Con nhỏ đó mà ngộ nghiếc gì!".
Khi nhắc đến người khác có ý không tôn trọng, người ta thường dùng tiếng y, va, hăn, con
mẻ (con mẹ ấy), thằng chả (thằng cha ấy)...
=> Khi rủa sả: Nếu rủa nhẹ thì nói "đồ mắc toi" (toi nguyên là cái hom gắn ở miệng lờ,
chục), hăm mốt (không nói hai mươi một), hăm hai...