BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------
BÙI THỊ QUỲNH
HÀNH VI NGÔN NGỮ NÓI KHÁY
TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số
: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Tố Nga
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu
nhà trường, Phòng sau Đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, các
thầy cô trong Tổ Lí luận Ngôn ngữ, Thư viện Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Tố Nga,
người thầy đã tận tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp, bạn
bè – những người đã luôn bên cạnh, sẻ chia và khích lệ tôi trong su ốt
quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
: Người nói/ nhân vật hội thoại thứ hai
Sp3: (Speaker3)
: Người nói/ nhân vật hội thoại thứ ba
3
MỤC LỤC
4
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Hành vi ngôn ngữ là đối tượng được quan tâm đặc biệt của chuyên
ngành ngữ dụng học. Bên cạnh các hành động vật lí (đi, chạy, ăn, viết…) và
hành động tinh thần (suy nghĩ, tưởng tượng…) thì hành vi ngôn ngữ đóng một
vai trò quan trọng trong cuộc sống con người.. Loại hành vi này thực sự có
bản chất hành động. Theo GS Đỗ Hữu Châu: “có lẽ hành động là chức năng
đầu tiên của con người đặt ra cho việc giao tiếp bằng ngôn ngữ và bằng
những phương tiện khác nhau” [6, Tr 226].
Theo đó, hành vi ngôn ngữ đã trở thành đối tượng của các công trình
nghiên cứu như: Khen, chê, thỉnh cầu, cho, tặng, khuyên, ra lệnh, cam kết,
chửi, mỉa mai… Tuy nhiên hành vi nói kháy với những đặc điểm khó nhận
diện về cấu trúc và phương thức biểu hiện lại chưa được lựa chọn nghiên cứu
trong một công trình cụ thể nào.
chi phối bởi những nhân tố giao tiếp. Các công trình của Bar – Hiller, J.
L.Austin, H.P.Grice, J.R Searle, J.J Katz, A.Weirzbicka, G.Yule,…đã chỉ ra
rằng nghiên cứu sự vận dụng ngôn ngữ là việc làm đúng đắn và cần thiết.
Hướng nghiên cứu tương tác của ngữ dụng học vĩ mô sẽ cho thấy vai trò của
các nhân tố giao tiếp trong việc lí giải ý nghĩa của lời nói trong ngôn ngữ giao
tiếp, từ đó giúp ích cho việc nâng cao năng lực và tri thức ngôn ngữ.
Ở Việt Nam, phải tới cuối thế kỉ XX, lý thuyết ngôn ngữ học mới được
quan tâm tìm hiểu. Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, được coi là những nhà
nghiên cứu có công mở đường cho ngành ngữ dụng học ở Việt Nam.
Năm 1993 với giáo trình Đại cương ngôn ngữ học tập II, Ngữ dụng
học, Đỗ Hữu Châu đã cung cấp cho độc giả những kiến thức lí luận mới mẻ,
thành quả nghiên cứu tâm huyết của mình về ngữ dụng học. Trong cuốn sách
này, tác giả đã có riêng một chương về ngữ dụng học, phân biệt HVNN,
BTNV, PNNV….Ngoài ra, việc tác giả xác lập các đơn vị hội thoại, cho rằng
sự kiện lời nói là đơn vị đứng giữa cặp thoại và tham thoại, HVNN là đơn vị
6
hội thoại nhỏ nhất nằm trong tham thoại đã trở thành căn cứ quan trọng để các
nhà nghiên cứu sau đó vận dụng, tìm hiểu về HVNN: Năm 1996, Nguyễn Thị
Ngân với “Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nói năng nhóm thông tin” hay Lê
Thị Thu Hoa với “Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nói năng nhóm khen, tặng,
chê”…Các công trình nghiên cứu trước 1999 này đều có đặc điểm chung
là nghiên cứu HVNN chủ yếu về cấu trúc ngữ nghĩa của các động từ nói
năng, hay nghiên cứu độc lập trong phát ngôn của người nói.
Phải đến sau 1999, việc nghiên cứu hành vi ngôn ngữ mới được chuyển
sang một hướng mới: Đặt HVNN trong tương tác hội thoại:
-
7
Ngày nay, dưới tác động của các kết quả nghiên cứu về khoa học tri
nhận với đặc điểm lấy con người làm trung tâm để xây dựng những giả thiết
khoa học thì ngữ dụng học đương đại đã có một bước tiến rất xa. Nếu trước
đó, nghiên cứu ngôn ngữ, người ta quan tâm đến sự tương tác về hành vi ngôn
ngữ, đề tài giao tiếp, nhân vật giao tiếp thì hiện nay, ngữ dụng học quan
tâm nhiều đến giá trị con người, với các biến xã hội như tuổi tác, địa vị,
quyền lực, giới tính,… Điều này đã mang lại cho hành động nói, phát ngôn,
diễn ngôn những giá trị xã hội nhất định.
Về HVNN nói kháy, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Huệ có đề
cập đến động từ nói kháy, xếp nó vào nhóm các động từ nói năng biểu thị
hành vi mỉa mai. Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy
mỉa mai và nói kháy chỉ có một vài nét tương đồng mà không đồng nhất. Mặt
khác, khi nghiên cứu HVNN, chúng tôi không dừng lại ở động từ biểu thị mà
chú trọng tìm hiểu bản chất của hành vi. Với lí do trên, nghiên cứu HVNN nói
kháy trong một công trình cụ thể là việc làm cần thiết.
Dựa trên thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, người viết
mong muốn luận văn có thể cho thấy những biểu hiện lí thuyết mới mẻ của
loại hành vi đặc biệt này, chỉ ra những nét đặc thù của HVNN nói kháy với
các hành vi khác, đồng thời phân tích được những đặc trưng về văn hóa, tư
duy, tâm lí của cá nhân và cộng đồng sử dụng.
Mục tiêu nghiên cứu
3.
Trong luận văn, người viết hướng tới việc giải quyết các mục tiêu cụ
thể sau: Tìm hiểu
(1) Khái niệm HVNN nói kháy.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được người viết triển khai trong phạm vi ngôn ngữ tiếng Việt.
Nguồn tư liệu bao gồm hội thoại trong giao tiếp hàng ngày, các ngữ liệu trong
văn học, phim ảnh.
6.
Cái mới và đóng góp của luận văn
6.1. Cái mới của luận văn
- Luận văn đưa ra cái nhìn khái quát về HVNN nói kháy, đồng thời mô
tả chi tiết, cụ thể những tính chất, đặc trưng làm nên nét khác biệt của HVNN
nói kháy
9
- Làm rõ dấu ấn văn hóa của người Việt thể hiện trong việc sử dụng và
tiếp nhận hành vi
6.2. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lí luận: Việc đưa ra định nghĩa, mô tả khái quát và chân thực
cấu trúc BTNV và PNNV của HVNN nói kháy, chỉ ra các biểu hiện mới mẻ
của hồi đáp tích cực và tiêu cực trong quá trính tiếp nhận lời nói kháy chứng
tỏ luận văn có thể góp phần cụ thể hóa lí thuyết về ngữ dụng học nói chung và
HVNN nói riêng. Mặt khác, kết quả của luận văn cũng giúp tìm hiểu dấu ấn
tâm lí và văn hóa trong việc sử dụng lời nói, khẳng định hướng nghiên cứu
đúng đắn và cần thiết: nghiên cứu ngôn ngữ đặt trong quan hệ văn hóa tư duy
của cộng đồng sử dụng.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn lưu ý người đọc cân nhắc về việc nên hay
không sử dụng loại HVNN đặc biệt này, và nếu có thì sử dụng như thế nào
cho mát nhé!
- Nam: Ôi, cám ơn Hải béo nhá!
- Quân: Hải ơi, hôm nay chắc phải có bão to ấy!
- Hải: Không phải bão to đâu, động đất đấy!
[65]
Đoạn hội thoại trên được gọi là đa thoại, có 3 nhân vật giao tiếp, gồm
các vận động: trao lời, đáp lời và tương tác. Hành động trao lời thể hiện rõ
nhất trong phát ngôn đầu tiên của Hải: mời mọc. Hành động này dẫn tới lời
đáp cảm ơn của Nam. Một đoạn hội thoại cơ bản nhất có thể dừng lại khi có
đủ cặp thoại này. Tuy nhiên, phát ngôn của Quân lại mở ra một sự tương tác
mới: thể hiện thái độ ngạc nhiên, có phần giễu cợt về hành động khác lạ này
của Hải. Hội thoại kết thúc bằng lời hồi đáp của Hải vào câu nói của Quân.
Như vậy, trong hội thoại:
11
Trao lời (allocution) tức là đưa ra một phát ngôn và hướng tới người
nghe/ người tiếp nhận. Đây là hành động đầu tiên để tạo ra hội thoại.
Đáp lời (exchange): Cuộc hội thoại chính thức hinh thành khi người
nghe (Sp2) nói ra lượt lời đáp lại lượt lời của Sp1.
Tương tác (interaction): Các nhân vật hội thoại ảnh hưởng đến nhau và
tác động qua lại nhau ở các phương diện: Thông tin, tình cảm, thái độ, cách
ứng xử của nhau.
1.1.2
Các quy tắc hội thoại
Hội thoại phải tuân theo những quy tắc nhất định mà C.K. Orecchioni
đã chia thành ba nhóm:
(1) Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
Theo Lakoff, “có thể định nghĩa lịch sự như một phương thức để giảm
thiểu sự xung đột trong diễn ngôn (…) những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ
đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi…” [Dẫn theo 8, Tr 256]
Cũng như mọi phạm trù khác của ngôn ngữ, lịch sự bao gồm cả không
lịch sự, như G.M. Green viết: “Những người tham gia hội thoại có thể chọn
cách xử sự lịch sự, tránh cục cằn, thô lỗ. Họ còn có thể lựa chọn cách xử sự
tùy thích, không đếm xỉa đến tình cảm và nguyện vọng của người khác. Họ
còn có thể dựa vào những hiểu biết của mình về các quy tắc lịch sự để tỏ ra
cục cằn, thô lỗ một cách cố ý”.[Dẫn theo 8, Tr 256 - 257]
Ví dụ như trong cuộc thoại giữa Nam, Hải, Quân đã trích ở phần 1.1,
Nam đã chọn cách cư xử lịch sự trước lời mời của Hải, thể hiện bằng hành
động cảm ơn. Quân thì khác! Bề mặt là hành động thông báo: “Hải ơi, hôm
nay chắc phải có bão to ấy!” nhưng thực chất Quân đang vi phạm quy tắc
lịch sự một cách cố ý, nhằm khích bác, trêu tức trước hành động “lạ đời” của
bạn. Đây là một trong những trường hợp thường gặp trong HVNN nói kháy.
1.1.2.2.
Các quy tắc điều hành nội dung của hội thoại
Các quy tắc điều hành nội dung của hội thoại chính là các quy tắc điều
hành quan hệ giữa nội dung của các lượt lời tạo nên cuộc hội thoại. Các quy
tắc này điều hành không chỉ ý nghĩa tường minh trực tiếp của hội thoại mà
13
còn điều hành cả những ý nghĩa hàm ẩn gián tiếp phải thông qua hoạt động
suy ý mới nhận biết được của hội thoại.
a) Nguyên tắc cộng tác
Nguyên tắc cộng tác hội thoại có dạng tổng quát như sau: Hãy làm cho
chỉ quan yếu khi nó có hiệu lực nào đó với ngữ cảnh và trong những điều kiện
giống nhau, hiệu lực đối với ngữ cảnh càng cao thì quan yếu của phát ngôn
càng lớn.
Phát triển quan niệm của hai tác giả trên, C.K. Orecchioni đã tìm ra bốn
phương diện mà các phát ngôn có thể quan yếu:
(1) Quan yếu về ngữ dụng: Một phát ngôn có quan yếu về ngữ dụng khi
nó có hệ quả với hành động
(2) Quan yếu về lập luận: khi nó làm cơ sở để người nghe rút ra những
suy ý làm thay đổi hiểu biết hay tín điều của người nghe
(3) Quan yếu về hứng thú: khi mà những thông tin nó cung cấp gây ra
sự quan tâm, hứng thú của người nghe
(4) Quan yếu về đề tài khi nó có quan hệ với nhau và cùng quan hệ với
đề tài của cuộc thoại mà nó tham gia vào.
1.1.3.
Cấu trúc hội thoại
Trong quá trình nghiên cứu, người viết chủ yếu đi theo quan niệm của
GS Đỗ Hữu Châu trong cách xác định các đơn vị của hội thoại: cuộc thoại
đoạn thoại sự kiện lời nói cặp thoại tham thoại HVNN. Để giải
quyết các vấn đề liên quan đến đề tài, người viết tập trung đi sâu vào các đơn
vị: Cặp thoại, tham thoại, hành vi ngôn ngữ.
1.1.3.1. Cặp thoại (cặp trao đáp)
Trong các đơn vị lưỡng thoại thì cặp thoại là đơn vị tối thiểu. Nếu
không có cặp thoại thì không có hội thoại. Với cặp thoại, cuộc trao đổi (cuộc
thoại) chính thức được tiến hành.
Cặp thoại điển hình bao gồm: Tham thoại dẫn nhập, tham thoại hồi đáp,
tham thoại kết thúc.
15
Theo quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu, trong cuốn Đại cương ngôn
ngữ học tập 2, Ngữ dụng học, có thể phân ra cặp thoại tích cực và cặp thoại
tiêu cực. Khi một cặp thoại thỏa mãn đích của tham thoại dẫn nhập (nói đúng
hơn là thỏa mãn được đích của hành vi thực hiện tham thoại dẫn nhập), thì đó
là cặp thoại tích cực. Cặp thoại tiêu cực xuất hiện khi tham thoại hồi đáp đi
ngược lại với đích của tham thoại dẫn nhập.
Xác định tiêu chí phân chia cặp thoại tích cực, tiêu cực trong HVNN
nói kháy là việc làm quan trọng, không chỉ đóng góp về mặt lý thuyết mà còn
là cách quan niệm, hướng nghiên cứu mới trong việc tiếp cận các HVNN.
1.1.3.2.
Tham thoại
Một tham thoại có thể do một hay nhiều hành vi ngôn ngữ tạo nên.
Ngoài hành vi chủ hướng, 1 tham thoại có thể có các hành vi phụ thuộc và
thành phần mở rộng.
“Hành vi phụ thuộc trong mối liên hệ với hành vi chủ hướng là hành vi
có chức năng củng cố, biện minh, đánh giá, lập luận…nhằm hỗ trợ cho hành
vi chủ hướng, còn hành vi mở rộng là hành vi thuần túy ngữ dụng, chủ yếu có
chức năng duy trì quan hệ liên cá nhân trong hội thoại, hoặc phá vỡ nó”.
[Dẫn theo 26, Tr 28]
Trong cấu trúc nội tại của một tham thoại, hành vi chủ hướng thường
tương ứng với biểu thức ngữ vi; các hành vi phụ thuộc, mở rộng chính là
thành phần mở rộng của phát ngôn ngữ vi. Khi nghiên cứu HVNN nói kháy,
xác định hành vi chủ hướng là việc làm quan trọng để nhận diện cách thức tạo
hành vi. Tuy nhiên đây là việc làm không dễ dàng bởi đặc thù riêng của
HVNN nói kháy không có biểu thức ngữ vi tường minh mà chỉ là HVNN gián
tiếp, tồn tại dựa vào BTNV nguyên cấp của hành vi khác. Do đó, khi xác định
cần căn cứ vào ý định, thái độ khi nói của Sp1 và nội dung, thái độ khi phản
hồi của Sp2.
hoặc hành vi phụ thuộc. Người viết sẽ trình bày cụ thể hơn lý thuyết về
HVNN trong phần 2 của chương này. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong hội
thoại, HVNN không được xem xét cô lập ngoài ngữ cảnh mà nó được xem
18
xét trong các vận động của hội thoại, trong mối quan hệ cấu tạo nên tham
thoại, cặp thoại và mối quan hệ với các vai thoại trong từng thời điểm của
cuộc thoại.
1.2.
Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ
1.2.1. Hành vi ngôn ngữ
Năm 1962, với cuốn “How to do thing with words”, Austin là người có
công đầu trong việc đưa ra lý thuyết về hành vi ngôn ngữ. Ông cho rằng:
Hành vi ngôn ngữ là những hành vi mà người ta thực hiện ngay khi nói năng,
trong lúc nói năng.
Thuật ngữ “Speech Acts” trong quá trình chuyển ngữ sang tiếng Việt,
có nhiều cách gọi khác nhau:Hành vi ngôn ngữ, hoặc “hành động ngôn ngữ”,
hay “hành động ngôn từ”.
Theo Đỗ Hữu Châu: Khi chúng ta nói năng là khi chúng ta hành động,
chúng ta thực hiện một hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Một
hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói/ viết nói ra một phát
ngôn cho người nghe/ người đọc trong ngữ cảnh C. [9, Tr 88]
Hành vi ngôn ngữ gồm ba loại lớn: Hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và
hành vi ở lời. trong đó hành vi ở lời là đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng học.
1.2.2. Hành vi ở lời
Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng
[9, Tr 89].
Ví dụ: BTNV đặc trưng cho hành vi hỏi là:“có…không”, “đã…chưa”,
“…ở đâu?”, “tại sao…”
BTNV có động từ ngữ vi dùng trong chức năng ngữ vi là BTNV tường
minh. BTNV không có động từ ngữ vi là BTNV nguyên cấp hay BTNV hàm ẩn.
Theo GS Đỗ Hữu Châu, một số HVNN nhất thiết phải thực hiện bằng
BTNV tường minh như tuyên án, đánh cược, …hoặc chỉ được thực hiện bằng
20
BTNV nguyên cấp như khoe, chửi, … Có thể xếp HVNN nói kháy vào loại
thứ hai này.
c) Phát ngôn ngữ vi
Theo quan niệm của Đỗ Hữu Châu, PNNV là sự mở rộng của BTNV.
Nó có thể có kết cấu lõi là BTNV (tường minh hoặc hàm ẩn) cùng với các
thành phần mở rộng khác. Trong thực tế giao tiếp, có những PNNV chỉ có
BTNV mà không có thành phần phụ. Khi đó, PNNV mới trùng với BTNV.
Ví dụ 6: Xét phát ngôn: E hèm! có người muốn được như tôi cũng
không được đâu đấy! Miệng lúc nào cũng ngậm như hột thị ấy thì bao giờ
mới nên chuyện!
Phát ngôn trên đây có kết cấu lõi là BTNV nguyên cấp của hành vi nói
kháy: nhằm vào đặc điểm ít nói của Huy để trêu tức. Thành phần phụ thuộc: “
có người muốn được như tôi cũng không được đâu đấy” có tính chất so sánh,
đóng vai trò như một lời dẫn, chuẩn bị để phát ngôn nói kháy xuất hiện. “E
hèm” là lời mở đầu, thành phần mở rộng có tác dụng duy trì quan hệ liên các
nhân và thu hút sự chú ý của người nghe.
1.2.2. Hành vi ngôn ngữ gián tiếp
1.2.2.1. Khái niệm HVNN gián tiếp
Yule phân biệt HVNN trực tiếp và HVNN gián tiếp dựa vào mối quan
hệ giữa cấu trúc và chức năng. Ông cho rằng: “Khi nào có một quan hệ trực
1.2.2.2.
Brown và Levinson phân HVNN gián tiếp thành hai loại là HVNN gián
tiếp quy ước và HVNN gián tiếp phi quy ước. Trong quá trình nghiên cứu, người
viết nhận thấy rằng HVNN nói kháy thuộc HVNN gián tiếp phi quy ước
Nếu HVNN gián tiếp quy ước luôn được cố định bởi những mô thức thì
HVNN gián tiếp phi quy ước luôn có những hàm ngôn bỏ ngỏ, tức là những hàm
ngôn xuất hiện tùy theo sự tri nhận của người nghe, theo ngữ cảnh giao tiếp.
Theo Đỗ Hữu Châu: Hàm ngôn ngữ dụng là những hàm ngôn có quan
hệ với các quy tắc ngữ dụng, nghĩa là loại hàm ngôn có sự liên hệ rất mong
manh, ít ỏi giữa các yếu tố ngôn ngữ với hiệu lực ở lời gián tiếp.
Đặc điểm của HVNN gián tiếp phi quy ước:
(1) Hiệu lực ở lời gián tiếp của HVNN gián tiếp phi quy ước phụ thuộc
nhiều vào ngữ cảnh.
(2) HVNN gián tiếp phi quy ước có tần số sử dụng thấp.
22
(3) Không cố định trong khuôn hình, cấu trúc hay yếu tố ngôn ngữ cụ thể nào.
(4) Có thể có hơn một hiệu lực ở lời gián tiếp được gài vào trong một hiệu lực ở
lời trực tiếp (tức hàm ngôn mang tính tầng bậc).
Ví dụ 8: Sp2 sai Sp1 đi công chuyện xa. Sp1 xin Sp2 ít tiền để dọc
đường uống nước nhưng Sp2 không cho.
Sp1:Hay là ông cho tôi mượn cái chày giã cua vậy!
Sp2: Để mày làm gì?
Sp1: Dạ, vắt cổ chày cũng ra nước mà!
[55, Tr 67]
Do đặc trưng của HVNN nói kháy, người nói không dùng cách nói trực
tiếp mà bóng gió xa xôi, có chủ ý nên phần kết luận sẽ được ẩn đi. Thay vào
đó, người nói chỉ đưa ra lí lẽ, dẫn chứng, người nghe phải thông qua thao
tác suy ý mới nắm bắt được ý nghĩa của phát ngôn và ý đồ của người nói.
Ví dụ 10:Sp1, Sp2 đều là công an. Sp1 đang bực mình vì gọi điện cho
người yêu mà không được.
-
Sp2: Chị Nam, hết giờ rồi chị đứng đây làm gì?
-
Sp1: Tôi đứng đây thì liên quan gì đến cậu?
-
Sp2: Ơ, hôm nay không bắt được ai nên chị bức xúc à?
-
Sp1: Ăn nói mất quan điểm! Càng bắt được ít tội phạm càng chứng tỏ xã hội
càng bình yên chứ sao!
-
Sp2: Hi, xã hội thì bình yên nhưng có người thì đang giông tố!
-
Sp1: Cậu không nghiêm túc được 1 phút à?
ngôn ngữ này.
TIỂU KẾT
Các lý thuyết về hội thoại (khái niệm, quy tắc, cấu trúc), hành vi ngôn
ngữ (động từ ngữ vi, BTNV, PNNV, hành vi ngôn ngữ gián tiếp) và lý thuyết
về lập luận là công cụ quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề liên quan
đến đề tài.
Hội thoại là hình thức giao tiếp quan trọng và phổ biến nhất của ngôn
ngữ. Nó chịu sự chi phối của các nguyên tắc nhất định như nguyên tắc luân
25