BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HÀ NGUYÊN ĐỐI
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ TRONG GIAO
TIẾP
CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH (TRÊN DẪN
LIỆU CA DAO NGHỆ TĨNH, HÁT
PHƯỜNG VẢI VÀ KHO TÀNG
VÈ XỨ NGHỆ)
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 62 22 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
2
VINH - 2007
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HÀ NGUYÊN ĐỐI
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ TRONG GIAO
TIẾP
CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH (TRÊN DẪN
LIỆU CA DAO NGHỆ TĨNH, HÁT
1.3.
Sự gần gũi giữa ca dao, vè và hát giặm Nghệ Tĩnh.................
1.4.
Nghệ Tĩnh và tiếng Nghệ.........................................................
1.5.
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa...................................
1.6.
Tiểu kết....................................................................................
Chương 2 : Vốn từ ngữ và khả năng sử dụng chúng trong giao tiếp
của người Nghệ Tĩnh..............................................................
2.1.
Tiểu dẫn....................................................................................
2.2.
Những vấn đề về từ và vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh............
2.3.
Vấn đề từ địa phương của tiếng Việt........................................
Nghĩa
CDNT
Ca dao Nghệ Tĩnh
HPV
Hát phường vải
KTVXN
Kho tàng vè xứ Nghệ
d
Danh từ
đg
Động từ
t
Tính trừ
kt
Kết từ
Bảng 3:
Những từ xuất hiện cao trong giao tiếp của người
Nghệ Tĩnh
Bảng 4:
Từ láy trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
Bảng 5:
Từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ trong giao tiếp
của người Nghệ Tĩnh
Bảng 6:
Vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh xét từ phương diện từ
loại
9
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Như chúng ta đều biết: ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan
trọng nhất của con người và là phương tiện, công cụ biểu đạt tư duy. Không
phải cái gì khác, chính ngôn ngữ là phương tiện chuyển đạt và tàng trữ thông
tin từ thế hệ này sang thế hệ khác, và theo cách diễn đạt của F. de Saussure:
“Phong tục của một dân tộc đã có tác động đến ngôn ngữ, và mặt khác, trong
phương ngữ còn ẩn chứa nhiều trầm tích, nét riêng cả từ phương diện ngữ âm
lẫn từ vựng - ngữ nghĩa.
2.2. Trong những giới hạn cho phép, luận án cũng hướng tới xem xét
tìm hiểu mối quan hệ giữ ngôn ngữ và văn hóa. Hay nói khác đi, tìm hiểu
cách biểu đạt văn hóa khu vực, vùng qua phương tiện ngôn ngữ.
3. Phương pháp nghiên cứu và việc xử lí tư liệu
3.1. Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu: điều tra
trên văn bản, miêu tả ở dạng đồng đại, thống kê định lượng, so sánh - đối
chiếu... Trong đó, phương pháp được sử dụng chủ yếu là phân tích - tổng hợp
số liệu và tư liệu để lí giải các vấn đề có liên quan, đưa ra những nhận xét,
đánh giá và kết luận theo các mục đích nghiên cứu đã được xác định.
3.2. Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích - tổng hợp,
song, chủ yếu là phương pháp phân tích ngôn ngữ, đồng thời còn sử dụng các
tri thức liên ngành khi phân tích.
3.3. Có thể dựng lại bức tranh toàn cảnh về đặc trưng ngôn ngữ trong
giao tiếp của người Nghệ - Tĩnh trên tư liệu hiện có (ca dao và kho tàng vè xứ
Nghệ), người viết sử dụng tổng hợp cách thức sưu tầm để tập hợp (đến mức
tối đa) các tư liệu hiện có. Hệ thống các tư liệu sẽ được người viết xử lí, triển
khai trong từng chương, nội dung cụ thể của luận án.
3.4. Trong quá trình sưu tầm, điều tra tư liệu, chúng tôi luôn sử dụng
kết hợp các phương pháp, cách nhìn vừa đồng đại vừa lịch đại, trong đó
nghiên cứu theo hướng đồng đại là chủ yếu.
11
3.5. Trình tự nghiên cứu bắt đầu từ những vấn đề cơ bản của lí thuyết
giao tiếp và trên cơ sở những dữ kiện, tư liệu, người viết cố gắng chỉ ra đặc
trưng ngôn ngữ trong giao tiếp của con người xứ Nghệ.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Theo chúng tôi được biết, hiện tại, đã có những công trình nghiên
tâm sự, tình cảm cá nhân. Giao tiếp có thể độc thoại, song thoại, tam thoại, đa
thoại…
5.3. Ở Việt Nam, hiện tại đã có những công trình đề cập xa gần đến vấn
đề này. Về khu vực Nghệ Tĩnh, đã có nhiều công trình khoa học, những bài
báo, tạp chí,… viết về ngữ âm, từ vựng, đặc trưng thơ ca dân gian, địa danh,
đặc điểm cuộc thoại mua bán ở chợ Nghệ Tĩnh; luận án này tiếp cận theo
hướng nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh.
6. Cấu trúc của luận án
Theo những nhiệm vụ, mục đích đã xác lập, ngoài phần Mở đầu, Kết
luận và Phụ lục, luận án triển khai theo ba chương:
Chương 1:
Những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài.
Chương 2:
Vốn từ ngữ và khả năng sử dụng chúng trong giao tiếp
của người Nghệ Tĩnh.
Chương 3:
Đặc trưng ngôn ngữ trong giao tiếp hay văn hoá ứng xử
của người Nghệ Tĩnh.
13
B. NỘI DUNG
Chương 1
gián tiếp với những người nói ngôn ngữ lân cận hay có ưu thế về mặt văn hoá.
Sự giao lưu có thể có tính chất hữu nghị hay thù địch. Nó có thể diễn ra trên
bình diện bình thường của những quan hệ kinh doanh hay buôn bán, hoặc nó
có thể là một sự vay mượn hay trao đổi những giá trị tinh thần - nghệ thuật,
khoa học, tôn giáo. Thật là khó tìm ra được một ngôn ngữ hay phương ngữ
hoàn toàn cô lập, kể cả trong các dân tộc nguyên thuỷ [151, tr.237]. Ngôn ngữ
là phương tiện tàng trữ và truyền đạt thông tin từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Theo cách diễn đạt của V.B Kasevich: “Sự trao đổi kinh nghiệm cá nhân, sự
phối hợp giữa các hành động có thể thực hiện được là nhờ ngôn ngữ. Nó
chính là cái cung cụ cho phép “rót” các kết quả của hoạt động tư duy cá nhân
vào các “khuôn” có giá trị chung” [154, tr.13]. Có thể hiểu giản dị: giao tiếp
là sự chuyển đạt thông tin từ người này sang người khác với mục đích này
hoặc mục đích kia. Giao tiếp được hoàn thành trong hoạt động giao tiếp của
hai người hoặc trên hai người trong bối cảnh nhất định và có cùng phương
tiện giao tiếp chung.
Chính F. de Saussure đã khẳng định: “hành động này giả định có ít nhất
là hai cá nhân; đó là cái tối thiểu cần đòi hỏi để cho vòng tuần hoàn được trọn
vẹn” [152, tr.47]. Ông còn lí giải khá tường minh vòng tuần hoàn giao tiếp giữ
hai người A và B, quá trình đó liên quan đến sinh lí, vật lí, tâm lí. “Đó là một
kho tàng được thực tiễn nói năng của những người cùng thuộc một cộng đồng
ngôn ngữ lưu lại, một hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng thức tiềm năng
trong mỗi bộ óc, hay, nói cho đúng hơn, trong các bộ óc của một tập thể; vì
ngôn ngữ không có mặt đầy đủ trong một người nào, nó chỉ tồn tại một cách
vẹn toàn trong quần chúng” [152, tr.50]. Không có ngôn ngữ tất yếu sẽ dẫn
đến không có sự giao tiếp, và cũng chính thế cũng không có sự tồn tại xã hội
15
và cũng không có cá nhân tồn tại trong xã hội được. Ngôn ngữ đã và vẫn như
động lực bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Ngôn ngữ
Thông điệp
Người phát
Tiếp xúc
Người nhận
Mã
Sáu yếu tố đó có quan hệ với sáu chức năng theo quan hệ một đối một
theo lược đồ dưới đây:
Quy chiếu
Thi học
Cảm xúc
Đưa đẩy
Tác động
Siêu ngôn ngữ
[5, tr.13].
Chức năng cảm xúc gắn với người phát, người nói tức là người nói diễn
đạt thái độ của mình, do vậy, rõ nhất dùng các biểu thức cảm thán (ái, ối, trời
ơi…). Chức năng quy chiếu gắn với ngữ cảnh, cảnh huống giao tiếp, còn
được gọi là chức năng chiếu vật của ngôn ngữ. Chức năng tác động hướng
đến người tiếp nhận thông tin, người nghe, thể hiện rõ trong lời cầu khiến, lời
hỏi, lời gọi… Chức năng đưa đẩy gắn với đường kênh giao tiếp, hoạt động
nhằm thiết lập và duy trì sự giao tiếp. Chức năng siêu ngôn ngữ tập trung vào
mã, nghĩa là có quan hệ với ngôn ngữ đang được sử dụng trong giao tiếp kiểu
như trong cách hỏi của người nhận thông điệp. Chức năng thi học gắn với cấu
trúc hình thức và nội dung của thông điệp. Đây là chức năng chủ đạo trong
Đã nói về “người thuyết minh” trong văn bản nghệ thuật: như vậy là
chính sự giống nhau giữa các đơn vị ngôn ngữ và sự gần nhau giữa các đơn vị
ngôn ngữ đã đảm nhiệm việc giải thích, thuyết minh cho các tín hiệu ngôn ngữ
xuất hiện trên thông báo, nhằm làm cho lời nói phát huy đến mức cao nhất khi
đạt đến người nghe. Hoạt động này làm nên nội dung cụ thể của điều mà chúng
ta gọi là “người thuyết minh” trong các văn bản nghệ thuật [12, tr.13].
1.2.3. Ngôn ngữ biểu hiện ra ở chỗ: một người có thể nói với một người
khác một điều gì đó và người nghe có thể hiểu được, trả lời bằng các từ ngữ,
hành động, cử chỉ. Ngôn ngữ của con người mang bản chất tín hiệu. Qua
giọng nói, chúng ta có thể biết được người nói với ta là ai: đàn bà, đàn ông
hay trẻ con, trong lời nói đó có sự cầu khiến, khuyên bảo, đề nghị, đe doạ hay
hỏi han… Rõ ràng quá trình giao tiếp được thực hiện phải có cùng ngôn ngữ
thống nhất. Rozdextvenxki còn phân tích kĩ khía cạnh người nói, phát ngôn
được phát ra nhằm mục đích truyền đạt nội dung và do đó gây ra sự chú ý của
người nghe tới nội dung thông báo và với bản thân người nói. Đây chính là
chức năng biểu cảm của lời nói. Và, để đạt được, thoả mãn các điều này cần
18
thiết phải sử dụng các lời hô gọi hướng tới người nghe và các dạng thức lời
nói được biểu hiện qua cá nhân người nói. Người nghe không chỉ hiểu được
thông tin từ phía người nói mà còn đánh giá về tính thích đáng, thoả đáng vì
rằng nội dung lời nói và cách tạo lời lời có thể có chú ý hoặc vô ý làm hại
người nghe hoặc người thứ ba. Ông gọi đây là chức năng đánh giá của lời
nói.
Khi nhận thức các khía cạnh biểu cảm, đánh giá và thông báo của phát
ngôn, chất liệu lời nói được phân đoạn và có những hình thức phù hợp với ý
nghĩ được chuyển tải trong phát ngôn. Suy nghĩ dùng để truyền đạt cho người
khác cũng được hình thành theo các quy luật ngôn ngữ. Cơ sở của sự hình
thành gồm hai yếu tố: 1/ Ai nói với ai, nghĩa là quan hệ giữa người nói và
vãn tư, hát ả đào, ngũ ngôn, phú,… “Tiếng “giặm” có nghĩa là đem một vật gì
thêm vào, điền vào, đệm vào, chắp vàp một cái gì còn khuyết, vào một nơi
nào còn có thể chứa được. Nó rất gần với những tiếng giắm… Giắm, tiếng
Nghệ - Tĩnh nghĩa là cấy lúa điền vào những chỗ trống trên đám ruộng…”
[24, tr.14].
Nhìn chung, ai cũng có thể nhận ra: hình thức của hát giặm tương đối
giản dị, không hề phức tạp, câu nệ nghiêm ngặt vào luật lệ như thờ Đường:
“Trong một bài hát giặm, trừ một số câu đầu và câu cuối ra, còn thì chủ yếu
gồm nhiều đoạn giống nhau nối lại bằng vần, tựa hồ như những vòng khâu
trong một sợi dây xích” [24, tr.23].
Nguyễn Nhã Bản nhận xét:
Thông thường, các bài hát giặm nối nhau bởi nhiều đoạn, mỗi đoạn ít
nhất phải có 4 câu và mỗi câu thường có 5 chữ. Mỗi đoạn thường có một câu
thứ năm láy lại một vài từ nào đó của câu thứ tư. Ví dụ:
Kẻo giang sơn thiên lí,
Lạ mặt biết ai đâu?
Khi qua quán, qua cầu,
Gặp tuần phu hỏi xét.
20
Họ lại hòng vơ vét,
Kiếm chác một đôi hào,
Ngồi vác mặt làm cao
Nói “Tỉnh toà chưa phát”
Nói “Huyện đường chưa phát”
(Hát giặm Nghệ Tĩnh, T1 (hạ), tr.223)
Qua khảo sát, thống kê của chúng tôi, số lượng bài hát giặm mỗi câu 5
chữ là 58 bài, câu 4 chữ 12 bài và 6 chữ 4 bài. Ngoài ra, có bài còn có câu ba
chữ, bảy chữ và tám, chín chữ. Quả thật, có một số bài hát giặm có sự đan
Tĩnh. Nội dung căn bản của nó mang đậm đà tính chất trữ tình. Song nó có
khác các loại dân ca khác ở chỗ có sự tham gia của những nhà nho. Cho nên
tính chất một số câu hát, qui cách trong khi hát, hình thức câu hát, quá trình
của một cuộc hát… có phức tạp hơn.” [42, tr.19].
Hát ví thường được sáng tác theo thể lục bát, do vậy, cũng có lý khi
người ta xếp và đưa hát ví nhập với ca dao. Trước đây, người ta gọi ca dao là
phong dao vì có những bài ca dao biểu hiện, thể hiện phong tục của mỗi địa
phương, mỗi thời đại. “Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Về điểm này trong
Văn học dân gian, tập II (lịch sử văn học Việt Nam), Đinh Gia Khánh có chú
thích như sau: “Trong Kinh thi, phần Nguỵ phong trong bài Viên hữu đào
có câu “Tâm chi ưu hi, ngã ca thả dao” (lòng ta buồn, ta ca và dao). Sách
Mao truyện viết “Khúc hợp nhạc viết ca, dô ca viết dao” (khúc hát có nhạc
đệm theo lời gọi là ca còn hát trơn thì gọi là dao). Trong sách Cổ dao ngan,
bài Phàm lệ lại phân biệt thêm: “Ca và dao khác nhau ở chỗ dao có thể là lời
của nhiều bài ca…” [47, TR.42]. Có thể qua đoạn vừa dẫn, chúng ta cũng hiểu
rõ: dân ca là bài hát có nhạc điệu, khúc điệu và ca dao là phần lời. Dân ca
được xây dựng trên cơ sở những câu ca dao, người ta thích thêm vào những
tiếng đệm (như tình bằng, tang tình, ấy mấy… hoặc như ấy ai, em nhớ…
những tiếng đưa hơi (như í, i, i, ới a,…), tiếng láy, điệp khúc.
22
Dân ca như hát đò đưa, hát giã gạo, hát phường vải Nghệ Tĩnh, hát
xoan Phú Thọ, hát quan họ Bắc Ninh, hò bài chòi ở Quảng Nam, Quảng Ngãi,
hò Bình Trị Thiên, ca lý Nam Bộ…
Ca dao là tài sản vô giá của người Việt. Nội dung ca dao phản ánh vô
cùng phong phú. Ca dao Nghệ - Tĩnh là biến dạng của ca dao người Việt nói
chung và cái làm nên đặc trưng của ca dao Nghệ Tĩnh không chỉ khu biệt về
hình thức, ngôn ngữ mà còn có cả nội dung phản ánh.
24
lập thành tỉnh mới là Hà Tĩnh. Hà Tĩnh mang tên từ đó. Theo chiều dài lịch
sử, địa danh Nghệ Tĩnh đã xảy ra nhiều biến cố, có khi là một quận, một
huyện, một châu, một trấn, một thừa tuyên, một tỉnh, một trại.
Chung qui lại: “Nghệ Tĩnh được các triều vua Đại Việt coi như phên
dậu của Tổ quốc ở phía Nam, Lý Tử Tấn (thế kỷ XV) viết rằng: “Các triều đại
lấy đó để chế ngự người Tây Nam di”. Nghệ Tĩnh không chỉ là bức bình
phong ngăn chặn các đạo quân xâm lược đến từ phương Nam, Nghệ Tĩnh còn
là kho dự trữ chiến lược về nhân lực, vật lực, tài lực trong cuộc đấu tranh
chống các đạo quân xâm lược đến từ phương Bắc” [57, tr.101].
1.4.2. Các đất nước đều có sự lựa chọn cho mình ngôn ngữ làm công cụ
trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bản chất xã hội của ngôn ngữ còn
chỉ ra ngôn ngữ là hiện tượng lịch sử cụ thể và quy luật đặc thù của sự phát
triển lịch sử, biến đổi các phạm trù ngôn ngữ và hình thức ngôn ngữ. Ngôn
ngữ văn hóa xuất hiện và hành chức ở những giai đoạn xác định của sự phát
triển xã hội và dân tộc. Ngôn ngữ văn hóa được hiểu như hình thức cao của
ngôn ngữ được thể hiện ra bằng sự phong phú từ vựng, cấu trúc ngữ pháp trau
chuốt, hệ thống phong cách phát triển và những chuẩn mực chính xác về ngữ
âm, chính tả mà F.de Saussure sử dụng thuật ngữ ngôn ngữ văn học (language
literature). Rõ ràng, thuật ngữ ông dùng đồng nghĩa với thuật ngữ ngôn ngữ
văn hóa. Ngôn ngữ văn hóa được thể hiện không chỉ ngôn ngữ viết (ngôn ngữ
văn học nghệ thuật, ngôn ngữ khoa học, báo chí) mà còn ngôn ngữ nói ở nhà
trường, vô tuyến, radio,…. Ngôn ngữ văn hóa khác biệt với các phương ngữ,
biệt ngữ nhóm, tiếng nghề nghiệp và những biến dạng cá nhân khác. Ngôn
ngữ văn hóa được trau chuốt về các phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
được gọi là ngôn ngữ chuẩn mực. Đành rằng khái niệm “ngôn ngữ chuẩn
mực” không phải vĩnh hằng mà có thể thay đổi theo thời gian. Sự phát triển
làm phong phú thêm cho ngôn ngữ chuẩn mực là đáng quan tâm của toàn bộ
chia tiếng Việt ra 4 vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc (Bắc Bộ và một phần
Thanh Hóa), phương ngữ Trung Bắc (phía Nam Thanh Hóa đến hết Bình Trị