Chiến lược rào đón và nghĩa liên nhân của hành động rào đón trong giao tiếp của người nghệ tĩnh - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ KHÁNH CHI

CHIẾN LƯỢC RÀO ĐÓN
VÀ NGHĨA LIÊN NHÂN CỦA HÀNH ĐỘNG RÀO ĐÓN
TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ KHÁNH CHI

CHIẾN LƯỢC RÀO ĐÓN
VÀ NGHĨA LIÊN NHÂN CỦA HÀNH ĐỘNG RÀO ĐÓN
TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 62 22 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

GS. TS. ĐỖ THỊ KIM LIÊN

Người viết

Nguyễn Thị Khánh Chi


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................. 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu và nguồn ngữ liệu.......................................................... 2
4. Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu................................................................... 3
5. Đóng góp của luận án....................................................................................... 4
6. Cấu trúc của luận án ......................................................................................... 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI ................................................................................ 5
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu .................................................................... 5
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài ................................................... 5
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước ................................................... 9
1.2. Cơ sở lý thuyết ............................................................................................ 12
1.2.1. Lý thuyết hội thoại................................................................................ 12
1.2.2. Lý thuyết hành động ngôn từ ................................................................ 23
1.2.3. Hành động rào đón trong hội thoại........................................................ 34
1.3. Một số đặc trưng của tiểu vùng phương ngữ Nghệ Tĩnh .............................. 36
1.3.1. Về ngữ âm ............................................................................................ 37
1.3.2. Về hệ thống từ vựng ............................................................................. 38
1.3.3. Về cách nói năng .................................................................................. 39
1.4. Tiểu kết chương 1........................................................................................ 39
Chương 2 NHẬN DIỆN HÀNH ĐỘNG RÀO ĐÓN TRONG GIAO TIẾP
CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH ................................................................................ 41

GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH......................................................... 112
4.1. Quan niệm nghĩa liên nhân ........................................................................ 112
4.1.1. Quan niệm của các tác giả đi trước ..................................................... 112
4.1.2. Khái niệm nghĩa liên nhân .................................................................. 113
4.2. Biểu hiện nghĩa liên nhân của hành động rào đón trong giao tiếp của người
Nghệ Tĩnh ........................................................................................................ 116
4.2.1. Nghĩa liên nhân biểu thị qua các vai giao tiếp ..................................... 116
4.2.2. Nghĩa liên nhân biểu thị qua phương tiện tình thái.............................. 135
4.3. Dấu ấn văn hóa - ngôn ngữ của người Nghệ Tĩnh qua hành động rào đón . 143
4.3.1. Lời rào đón thể hiện cách ứng xử vị tình của người Nghệ Tĩnh......... 144n


1
4.3.2. Người Nghệ Tĩnh rào đón để giữ gìn thể diện của mình và tôn trọng
thể diện người khác ............................................................................ 145
4.3.3. Lời rào đón thể hiện sự dung hòa các đối cực trong tính cách người
Nghệ Tĩnh .......................................................................................... 146
4.4. Tiểu kết chương 4...................................................................................... 147
KẾT LUẬN........................................................................................................ 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ .............. 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................. 152
PHỤ LỤC


BẢNG CHÚ THÍCH KÍ HIỆU VIẾT TẮT

TT

Kí hiệu viết tắt


Tiểu từ tình thái


MỤC LỤC CÁC BẢNG BIỂU THỐNG KÊ
Trang
Bảng 2.1. Tổng hợp vị trí của HĐRĐ trong tham thoại......................................... 43
Bảng 2.2. Hành động chủ hướng có hành động rào đón đi kèm trong giao tiếp
của người Nghệ Tĩnh............................................................................ 49
Bảng 2.3. Tổng hợp các kiểu kết cấu hành động rào đón với động từ nói trong
giao tiếp của người Nghệ Tĩnh ............................................................. 54
Bảng 2.4. Các nhóm ngữ nghĩa của hành động rào đón trong giao tiếp của
người Nghệ Tĩnh .................................................................................. 67
Bảng 3.1. Các chiến lược rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh ............... 82
Bảng 3.2. Các biện pháp thực hiện chiến lược rào đón lịch sự trong giao tiếp
của người Nghệ Tĩnh............................................................................ 84
Bảng 3.3. Các biện pháp thực hiện chiến lược kín đáo gợi ý cho Sp2 trong
giao tiếp của người Nghệ Tĩnh ............................................................. 92
Bảng 3.4. Các biện pháp thực hiện chiến lược chủ động giải tỏa nguy cơ bất đồng
trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh .................................................... 97
Bảng 3.5. Các biện pháp thực hiện chiến lược mượn lời trong giao tiếp của
người Nghệ Tĩnh ................................................................................ 107
Bảng 3.6. Bảng tổng hợp các chiến lược rào đón trong giao tiếp của người
Nghệ Tĩnh .......................................................................................... 110
Bảng 4.1. Tổng hợp vai giao tiếp sử dụng hành động rào đón theo giới tính....... 118
Bảng 4.2. Bảng tổng hợp vai giao tiếp sử dụng hành động rào đón theo vị thế ... 127
Bảng 4.3. Sử dụng từ xưng hô trong hành động rào đón của người Nghệ Tĩnh ... 129
Bảng 4.4. Khả năng xuất hiện của TTTT cuối phát ngôn rào đón của người
Nghệ Tĩnh .......................................................................................... 138
Bảng 4.5. Ngữ nghĩa của một số tiểu từ tình thái kết thúc hành động rào đón
của người Nghệ Tĩnh.......................................................................... 139

người tham gia hội thoại hoặc nội dung của các phát ngôn được thể hiện rất rõ.
Nghiên cứu lời rào đón, không thể bỏ qua những khía cạnh chính yếu này.
1.4. Rào đón không phải là “đặc sản” của bất cứ phương ngữ nào ở nước ta.
Trong hoạt động giao tiếp, hành động ngôn ngữ này bị chi phối bởi nhiều yếu tố,


2
trong đó có yếu tố văn hóa. Ở chiều ngược lại, qua cách nói rào đón, ta cũng có thể
phát hiện một số khía cạnh trong văn hóa ứng xử của con người một vùng đất. Theo
thông lệ chung ấy, lời rào đón trong tiếng Nghệ Tĩnh cũng chứa đựng những thông
tin đáng tin cậy về đặc điểm văn hóa của người Nghệ.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Chiến lược rào đón và nghĩa liên
nhân của hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh để nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng đến mục đích:
- Giúp người nghiên cứu hiểu sâu về chiến lược rào đón và ý nghĩa liên nhân
biểu hiện qua hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, từ đó nhìn
nhận một số nét riêng về văn hóa - ngôn ngữ của người Nghệ Tĩnh.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luân án hướng đến thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Giới thuyết một số vấn đề lý thuyết ngôn ngữ học thuộc phạm vi nghiên
cứu của đề tài.
- Thống kê, phân loại tư liệu điều tra điền dã, ghi âm các cặp thoại của vai
giao tiếp có sử dụng hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh.
- Nhận diện hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh.
- Xác định, phân tích các tiểu nhóm thể hiện cách thức rào đón trong giao
tiếp của người Nghệ Tĩnh.
- Phân tích, làm rõ nghĩa liên nhân của hành động rào đón trong giao tiếp của
người Nghệ Tĩnh.

a. Giới tính: nam/nữ
b. Nghề nghiệp: nông dân, công nhân, viên chức, sinh viên, và những người
làm nghề tự do (chủ yếu là kinh doanh).
c. Độ tuổi: từ 17, 18 tuổi trở lên.
d. Mối quan hệ: gia đình, làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp.
e. Hoàn cảnh phát ngôn: giao tiếp tự nhiên giữa hai nhân vật trong gia đình
và ngoài xã hội.
f. Nội dung phát ngôn: liên quan đến cuộc sống riêng tư, bạn bè và công việc.
Băng ghi âm được chúng tôi chuyển thành dạng văn bản viết để dễ dàng
phục vụ cho công việc nghiên cứu.
4.2. Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình chúng tôi đi sâu phân tích
quan hệ giữa hành động rào đón với hành động chủ hướng trong giao tiếp của người
Nghệ Tĩnh; ngữ nghĩa của hành động rào đón trong những tình huống giao tiếp cụ
thể; nghĩa liên nhân giữa các vai giao tiếp khi thực hiện hành động rào đón.


4
4.3. Phương pháp phân tích ngôn cảnh
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi luôn luôn gắn việc phân tích những ví
dụ cụ thể với những yếu tố trước và sau nó; với bối cảnh không gian, với nhân vật
giao tiếp để thấy được vai trò của phát ngôn trong hành chức.
Bên cạnh những phương pháp trên, chúng tôi còn vận dụng một số thủ pháp sau:
- Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được sử dụng để thống kê các tham thoại chứa hành động rào
đón, sau đó phân loại các hành động rào đón này thành từng nhóm nhỏ phục vụ cho
từng mục đích nghiên cứu cụ thể.
- Thủ pháp so sánh
Thủ pháp này được chúng tôi sử dụng để chỉ ra một số điểm tương đồng và
khác biệt phương tiện rào đón được người Nghệ Tĩnh sử dụng so với các phương

thuộc bình diện dụng học từ đầu những năm 1970 khi G. Lakoff (1972) đề cập đến
việc rào đón có khả năng tác động tới quy tắc hội thoại. Từ đó đến nay, rào đón đã
được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm tìm hiểu ở
những phạm vi khác nhau. Sau đây, chúng tôi xin điểm qua tình hình nghiên cứu
rào đón của các tác giả ngoài nước và trong nước.
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Cho đến nay, việc nghiên cứu về rào đón được đề cập qua nhiều bài báo,
công trình khác nhau nhưng có thể quy về hai hướng chính sau đây.
a) Hướng nghiên cứu hành động rào đón trong mối tương quan với các
nguyên tắc hội thoại, cụ thể là nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự. Hướng
này gồm các tác giả tiêu biểu như G. Lakoff, G. Yule, Peter Grundy, P. Brown & C.
Levinson, Green... Tư tưởng của họ có ảnh hưởng rất mạnh đối với ngôn ngữ học
thế giới.
Năm 1996, G. Yule, trong cuốn Dụng học (Pragmatics) đã đặt lời rào đón
trong mối quan hệ với bốn phương châm hội thoại. Tác giả nhận định: Lời rào đón
là những chỉ dẫn rất tốt về việc người nói không chỉ nhận biết được những phương
châm trên (chất, lượng, cách thức, quan hệ), mà còn cho thấy là họ muốn chỉ ra rằng
họ đang cố gắng tuân thủ chúng (Hedges are good indications that the speakers are
not only aware of the maxims, but that they want to show that they are trying to
observe them [139, tr.39]). Khi nhận thấy phương châm về chất không được tôn
trọng triệt để, tức thông tin đưa ra thiếu chính xác hoặc không chứng minh thỏa
đáng được thì người nói có thể sử dụng các biểu thức rào đón như: As far as I know,
I may be mistaken, I’m not sure if this is right... Khi thấy phương châm lượng có
nguy cơ vi phạm, tức lượng thông tin không phù hợp với mục đích của cuộc thoại
(ít hơn hoặc nhiều hơn) thì người nói có thể sử dụng các biểu thức rào đón như: As
you probably know, To cut a long story short, I won’t bore you with all the details...


6
Để rào đón phương châm quan hệ, người nói có thể sử dụng các biểu thức rào đón

trong giao tiếp.


7
G. Lakoff (1972) quan niệm: rào đón dùng để chỉ những ngôn từ mà chức
năng của chúng là giúp người nói tránh việc tuyệt đối hóa những nhận định mà họ
đưa ra, đồng thời giúp người nói giảm nhẹ được trách nhiệm với phát ngôn của
mình. Cụ thể, G.Lakoff đã tập trung khai thác đặc tính logic của các từ, cụm từ như
rather, largely, on manner of speaking và khả năng hành chức của những từ/ cụm từ
này trong việc làm cho mọi thứ trở nên mơ hồ hoặc ít mơ hồ đi. Theo R. Lakoff,
việc dùng các yếu tố rào đón có tác dụng làm biến đổi hiệu lực của hành động ngôn
từ, do đó sẽ có các biểu thức rào đón điều kiện sử dụng hành động ở lời. Ông cho
rằng, khi ta yêu cầu ai làm việc gì thì tiền giả định (viết tắt là TGĐ) là: (1) người đó
có thể và có ý muốn sẵn sàng thực hiện việc đó, và (2) người đó chưa thực hiện việc
ta yêu cầu. Và khi ta hứa hẹn thực hiện một điều gì đó thì TGĐ là: (1) ta chưa thực
hiện nó, và (2) người nghe muốn ta thực hiện điều đó.
Rào đón những điều được giả định trên có nghĩa là tránh được sự ràng
buộc đối với những TGĐ đó. Đó là cách thức cơ bản để giải tỏa những đe dọa
đối với những tương tác, đe dọa mối quan hệ giữa con người với nhau trong giao
tiếp. Cùng quan niệm với G.Lakoff, các tác giả P. Brown và S. Levinson cũng
cho rằng rào đón là những tiểu từ, từ hoặc cụm từ xác định mức độ phụ thuộc
của vị ngữ hoặc một cụm danh từ trong một câu, có chức năng hiệu chỉnh, nói
bớt đi, nói giảm nhẹ đi. Nói cách khác, rào đón làm nhiệm vụ xác định các thành
phần còn lại trong câu chỉ đúng một phần hoặc chỉ đúng ở một khía cạnh nhất
định nào đó.
G. Green (1989) trong tác phẩm Pragmatics and Natural language
Undestanding cũng đề cập đến rào đón theo nguyên tắc lịch sự. Green cho rằng, các
biện pháp lịch sự âm tính (các biện pháp nhằm hạn chế sự đe dọa thể diện của người
nghe khi bắt buộc phải thực hiện một hành động đe dọa thể diện nào đấy) và các
biện pháp lịch sự dương tính (các biện pháp tôn vinh thể diện người nghe) của P.

- Các hướng tiếp cận mới về rào đón (New approaches to hedging), tập hợp
các bài nghiên cứu về rào đón tại hội thảo Dụng học quốc tế lần thứ 10 được tổ
chức tại Goteborg - Thụy Điển (2010).
- Rào đón trong diễn ngôn chính trị trong các buổi họp báo của Tổng thống
Bush năm 2007 của Bruce Frase (2010) (Hedging in political discourse: The Bush
2007 Press Conferences).
- Xác định vai trò của các phương tiện rào đón trong các buổi tranh luận
tranh cử tổng thống năm 2008 của hai ứng cử viên Barack Obama và John McCain
của Fahad Al - Rashade (2012) (Determining the Role of Hedging Devices in the
Political Discourse of Two American Presidentiables in 2008).
- Rào đón trong các bản tin trực tuyến (Hedging in Onlines News Writing),
Luận văn của Elena Yuryevna Bashanova (2012).


9
Tìm hiểu về rào đón trong giao tiếp bằng lời chỉ mới xuất hiện một số công
trình lẻ tẻ, gồm các bài viết: Phân tích các phương tiện rào đón trong giao tiếp
bằng lời: Đường hướng tiếp cận trên cơ sở thích ứng (Analyzing Hedges in Verbal
Communication: An Adaptation-Based Approach) của Yuling Wang (2010); bài viết
Rào đón trong hội thoại Nhật ngữ: Tác động của các nhân tố tuổi tác, giới tính và
sự nghi thức (Hedges in Japanese conversation: The influence of age, sex, and
formality) của Shizuka Lauwereyns,...
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước
Dưới ánh sáng của lý thuyết ngữ dụng học, hiện tượng rào đón cũng đã và
đang được các nhà Việt ngữ học tiếp cận theo những cách nhìn khác nhau.
Một trong những nhà Việt ngữ học đầu tiên quan tâm đến rào đón là Đỗ Hữu
Châu (1993). Khi trình bày về các chiến lược lịch sự, ông đã nhắc đến vai trò của
các yếu tố rào đón đối với phép lịch sự âm tính. Tác giả chia ra các nhóm sau: a)
rào đón đối với hiệu lực ở lời: Làm ơn đưa hộ cái ấm; Hắn chắc chắn về quê rồi;
Nói thành thật với anh, tôi không còn một xu dính túi nào nữa cả; b) rào đón đối với

được tác giả dẫn ra như: Nói khí vô phép, nói chị bỏ ngoài tai, tôi hỏi thật...
Năm 2001, Diệp Quang Ban trong bài viết “Ứng dụng cách nhìn dụng học
vào giải thích một số yếu tố có mặt trong câu - phát ngôn” đã chỉ ra rằng: Trong
tiếng Việt có những yếu tố “lang thang” thường có tính chất quán ngữ loại như anh
còn lạ gì, nói khí vô phép, chúng không thuộc cấu trúc cú pháp của câu và cũng
không dễ dàng gia nhập thành phần biệt lập vì chúng có phần khác với các thành
phần đó. Tác giả đã xếp những yếu tố “lang thang” nói trên vào số những lời rào
đón. Năm 2009, trong cuốn Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản, lời rào đón
một lần nữa được tác giả đề cập đến. Theo tác giả, lời rào đón (cùng với hai khái
niệm khác là lời ướm, sửa chữa) thường xuất hiện như là những bộ phận đi kèm
hành động nói với những chức năng khá xác định và những vai trò đáng kể trong
tương tác. Các kiểu rào đón nằm trong mối quan hệ với bốn phương châm hội thoại
là lượng, chất, quan hệ, cách thức. Tác giả thừa nhận “sử dụng lời rào đón là một
cách thể hiện sự tôn trọng quá trình trao đổi, cụ thể là tôn trọng quy tắc thông dụng
được nêu thành các phương châm hội thoại, và đó cũng là một cách để người nói
bày tỏ thái độ tôn trọng người nghe trong ý nghĩa là người nghe đang coi mình như
một người cộng tác chân thành” [3, tr. 141].
Năm 2007, Dương Tuyết Hạnh trong luận án Hành vi nhờ và sự kiện lời nói
nhờ trong giao tiếp tiếng Việt tuy đi sâu nghiên cứu hành vi “nhờ” nhưng bước đầu
đã có trình bày sơ lược về rào đón...
Trong khi đó, Phạm Thị Thanh Thùy (2008) khi tìm hiểu về Thành phần rào
đón trong các bài báo nghiên cứu kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt, lại cho rằng rào


11
đón là công cụ tu từ từ vựng và là hiện tượng đặc trưng của một thể loại nhất định,
qua đó, tác giả đã tập trung nghiên cứu các lớp từ vựng được sử dụng để rào đón
trong các bài báo, văn bản kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời rút ra kết luận:
“Cả trong tiếng Anh và tiếng Việt, các công cụ rào đón giúp người viết tránh được
việc đưa ra những nhận định cụ thể, thẳng thừng, đồng thời tạo ra khoảng cách an

nhắc đến như một yếu tố của phép lịch sự để giảm bớt mức độ đe dọa thể diện, một
phương tiện làm mềm hay thậm chí là một chiến lược để hiện thực hóa một hành vi
ngôn ngữ nào đó (chẳng hạn như hành vi từ chối lời cầu khiến).
Từ những trình bày trên, có thể thấy, từ khi trở thành đối tượng nghiên cứu
của ngôn ngữ học đến nay, rào đón đã được định danh bằng những tên gọi khác
nhau như: lời rào đón, thành phần rào đón, yếu tố rào đón, hành vi rào đón... Mỗi
tên gọi phản ánh một quan niệm khác nhau về vai trò và vị trí của rào đón: 1/ Là
chức năng của một nhóm ngôn từ; 2/ Là một bộ phận của hành động ngôn ngữ; 3/
Là một hành động ngôn ngữ. Chúng tôi sử dụng cách gọi tên giống quan điểm thứ
ba - hành động ngôn ngữ rào đón (gọi tắt là hành động rào đón).
Qua việc điểm lại lịch sử nghiên cứu về rào đón, chúng tôi thấy việc nghiên
cứu hành động rào đón ở trong và ngoài nước mới dừng lại ở phương diện lí thuyết.
Còn việc nghiên cứu về rào đón trong giao tiếp bằng lời giữa các nhân vật ở một địa
phương nhất định thì chưa có đề tài nào. Chính vì vậy, đề tài của chúng tôi đi sâu
nghiên cứu Chiến lược rào đón và nghĩa liên nhân của hành động rào đón trong
giao tiếp của người Nghệ Tĩnh.
1.2. Cơ sở lý thuyết
1.2.1. Lý thuyết hội thoại
1.2.1.1. Khái niệm hội thoại
Về khái niệm hội thoại, Từ điển tiếng Việt giải thích, đó là “sử dụng một
ngôn ngữ để nói chuyện với nhau” [83, tr.461]. Còn trong Từ điển giải thích thuật
ngữ ngôn ngữ học, hội thoại được hiểu là: “Hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói
giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân
theo mục đích được đặt ra [119, tr. 122]. Dù hiểu theo nghĩa thông thường hay
nghĩa thuật ngữ, hội thoại cũng là khái niệm để chỉ một hình thức giao tiếp của con
người nói chung, đồng thời cũng là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ
biến của sự hành chức ngôn ngữ.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về hội thoại, ở đây chúng tôi chọn định nghĩa
của Đỗ Thị Kim Liên: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời
giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ

rằng: “Toàn bộ hoạt động ngôn ngữ của con người là một chuỗi dằng dặc những lời
đối đáp. Việc phải tách ra trong chuỗi dằng dặc những lời đối đáp của con người
những đơn vị gọi là cuộc thoại là cần thiết đề nghiên cứu” [13, tr. 312]. Một cuộc
thoại được xác định bởi các nhân tố sau:
- Nhân vật hội thoại: Một cuộc hội thoại được xác lập khi có sự hiện diện
liên tục của hai hay nhiều người tham gia.
- Tính thống nhất về không gian và thời gian diễn ra hội thoại. Không gian


14
có thể là trong nhà, ngoài ngõ hoặc nơi công cộng như: chợ búa, trường học, bệnh
viện, xí nghiệp... Thời gian là vào bất cứ thời điểm nào trong ngày.
- Tính thống nhất về đề tài, chủ đề, tức là thống nhất về phạm vi hiện thực
mà người nói đề cập đến.
Tóm lại, cuộc thoại thường bao gồm một số cặp trao đáp của ít nhất hai nhân
vật, có sự thống nhất về đề tài diễn ngôn, hình thức biểu đạt và ngữ cảnh. Đó cũng
chính là những tiêu chí quan trọng để xác định một cuộc thoại. Tuy nhiên trong thời
gian diễn ra cuộc thoại, đôi khi vẫn có sự thay đổi về nhân vật, bối cảnh không gian,
thời gian, đề tài và chủ đề của nó, miễn là sự thay đổi đó không làm đứt quãng cuộc
thoại. Điều này hoàn toàn tự nhiên và phổ biến trong các cuộc giao tiếp hàng ngày.
b. Đoạn thoại (sequence): Là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp
liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng, có tính hoàn chỉnh bộ
phận để có thể cùng với các đoạn thoại khác làm thành cuộc thoại. Các đoạn thoại
được định dạng bởi tính duy nhất về chủ đề và tính duy nhất về đích.
c. Cặp thoại (cặp trao đáp - exchange): Là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất.
Thông thường, để duy trì cuộc thoại giữa hai vai giao tiếp, cặp thoại được cấu thành
từ một tham thoại dẫn nhập và một tham thoại hồi đáp.
Dựa vào số lượng các tham thoại, có thể chia ra:
- Cặp thoại một tham thoại (còn gọi là cặp thoại hẫng): Là trường hợp tham
thoại của người nói Sp1 không được người nghe Sp2 hưởng ứng hồi đáp, nghĩa là

Về cấu tạo, một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên.
+ Tham thoại chỉ có một hành vi ngôn ngữ tạo nên (cũng đồng thời là hành
động chính) gọi là tham thoại đơn. Ví dụ:
A: Giang gói bánh đẹp quá!
B: Có gì đâu anh.
+ Tham thoại có từ hai hành vi trở lên gọi là tham thoại phức. Một tham
thoại phức gồm có một hành vi chủ hướng (viết tắt CH) và có thể có một hoặc một
số hành vi phụ thuộc (viết tắt PT). Hành vi chủ hướng có chức năng trụ cột, quyết
định hướng của tham thoại và quyết định hành vi đáp lời thích hợp của người đối
thoại, còn hành vi phụ thuộc có nhiều chức năng khác nhau. Cấu trúc của tham
thoại phức có thể là:
CH
PT

PT

CH
CH

PT

PT

CH

PT

PT

CH

lời trước đó chỉ có tác dụng đưa đẩy, rào đón. Cả ba lượt lời của A mới làm
thành một tham thoại: Em có chuyện ni muốn nói với anh, thực sự em cụng
không biết bắt đầu từ đâu nựa, em biết chắc chắn sẽ làm anh thất vọng nhưng
em không thể không nói. Anh Hùng - người yêu cũ của em hẹn gặp em, và em đã
đến gặp anh ấy.
Chúng tôi không chủ trương nghiên cứu hành động rào đón được phát ngôn
thành những lượt lời riêng lẻ mà chỉ khảo sát các tham thoại hoàn chỉnh trong một
lượt lời, có sự xuất hiện đồng thời cả hành động rào đón và hành động chủ hướng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status