Xưng hô trong giao tiếp của người việt qua ngữ liệu tác phẩm văn học giai đoạn 1930 1945 - Pdf 50

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*******&*******

NGUYỄN NGỌC LƯƠNG

XƯNG HÔ TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT
(QUA NGỮ LIỆU TÁC PHẨM VĂN HỌC
GIAI ĐOẠN 1930 - 1945)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI – 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*******&*******

NGUYỄN NGỌC LƯƠNG

XƯNG HÔ TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT
(QUA NGỮ LIỆU TÁC PHẨM VĂN HỌC
GIAI ĐOẠN 1930 - 1945)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học
TS. KHUẤT THỊ LAN

HÀ NỘI - 2018

Nguyễn Ngọc Lương


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ...................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...................................................................... 1
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 5
4. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................. 6
5. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 6
6. Phương pháp nghiên cứu......................................................................... 6
7. Đóng góp khóa luận ................................................................................ 7
8. Bố cục khóa luận ..................................................................................... 7
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ............. 8
1.1. Khái quát về giao tiếp và hội thoại....................................................... 8
1.1.1. Giao tiếp và các vấn đề về giao tiếp ............................................. 8
1.1.2. Hội thoại và các vấn đề của hội thoại ....................................... 13
1.2. Những vấn đề về “Xưng hô”.............................................................. 21
1.2.1. Khái niệm về xưng hô.................................................................. 21
1.2.2. Các kiểu xưng hô của người Việt ................................................ 22
1.2.3. Xưng hô và các quan hệ được biểu hiện ..................................... 23
1.3. Bức tranh văn học giai đoạn 1930- 1945 ........................................... 24
1.3.1. Văn học lãng mạn 1930- 1945 .................................................... 24
1.3.2. Văn học hiện thực 1930- 1945 .................................................... 25
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM XƯNG HÔ TRONG GIAO TIẾP CỦA
NGƯỜI VIỆT ....................................................................................................... 26
2.1. Cách xưng hô trong giao tiếp của người Việt .................................... 26
2.1.1. Cách xưng hô trực diện (đúng vai) ............................................. 26
2.1.2. Cách xưng hô không trực diện (không đúng vai) ....................... 29


đoạn 1930 - 1945 như “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam), “Chí phèo”, “Lão Hạc”
(Nam Cao), “Tắt đèn” (Ngô Tất Tố), “Số đỏ” (Vũ Trọng Phụng)…Các tác
phẩm có hệ thống từ xưng hô khá đa dạng và mang những đặc trưng dụng học
rõ nét.
Bời những lẽ đó nên chúng tôi đã chọn đề tài “Xưng hô trong giao tiếp
của người Việt qua ngữ liệu tác phẩm văn học giai đoạn 1930 - 1945” để
nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Vấn đề xưng hô trong tiếng Việt
Từ lâu vấn đề xưng hô đã được nhiều nhà ngôn ngữ Việt quan tâm và xem
xét, có thể kể tới các công trình nghiên cứu của một số nhà ngôn ngữ học như:

1


Diệp Quang Ban (chủ biên), 2009, Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1), tái bản
lần thứ mười một, Nhà xuất bản giáo dục. Khi tác giả bàn về nhân xưng từ
tiếng Việt đã chú ý đến lớp nhân xưng từ đích thực, phân biệt với các lớp từ
khác được dùng làm nhân xưng từ. Cụ thể ông đề cập đến các lớp từ : Nhân
xưng từ đích thực; Danh từ chỉ quan hệ thân tộc; Danh từ chỉ chức vị; Và một
số từ, tổ hợp từ khác.
Theo Diệp Quang Ban, từ nhân xưng là từ dùng để chỉ ra người hay vật
tham gia quá trình giao tiếp. Từ nhân xưng được chia thành ba ngôi: Ngôi thứ
nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba. Trong đó, ngôi thứ nhất qui chiếu đến người
nói, ngôi thứ hai qui chiếu đến người nghe. Đặc biệt ngôi thứ ba dễ dàng dùng
trong cả hai cách qui chiếu, qui chiếu đến vật, hiện tượng ngoài văn bản và
qui chiếu đến từ ngữ trong văn bản. Ông còn cho rằng: “Trong tiếng Việt, việc
dùng từ nhân xưng trong xưng hô không thật phổ biến, vì chúng đem lại sắc
thái không kính trọng, chúng mang nhiều tính thân mật, suồng sã”. Bởi vậy,
ông đưa ra quan niệm: “Trong xưng hô hàng ngày, thay vì việc sử dụng các

hoặc chỉ người được nói tới như: nó, hắn, thị, y, chúng, nó... Ngoài ra, trong
tiếng Việt, còn có nhiều danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng như đại từ
xưng hô như: Ông, bà, anh, chị, em, cháu,…Trong đó, các đại từ xưng hô của
tiếng Việt cũng phân biệt theo ngôi và số. Còn các danh từ thân tộc dùng để
xưng hô trong gia đình và trong xã hội không phân biệt theo ngôi, cùng một từ
có thể dùng cả ba ngôi, tùy theo tình huống giao tiếp. Ông cũng nhấn mạnh
việc dùng đại từ và nhất là đại từ xưng hô, bởi người Việt rất chú ý đến việc
bày tỏ tình cảm, thái độ của mình đối với người khác trong giao tiếp. Có thể nói
đó là một trong những sắc thái riêng của đại từ xưng hô trong tiếng Việt.
Trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, Cù Đình Tú đã
cho rằng ngoài các đại từ nhân xưng và các đại từ chỉ quan hệ họ hàng thân tộc
thì còn “lấy cả tiếng đệm giữa họ và tên của nữ giới (thị) để dùng làm từ xưng
hô, thậm chí còn dùng cả cách nói trống không (từ xưng hô zero) để xưng hô”
[13; 166]. Và ông còn cho rằng: “Trong tiếng Việt, từ xưng hô, cách xưng hô là

3


phương tiện biểu cảm, là phương tiện phong cách” [13; 168].
Lê Biên trong cuốn “Từ loại tiếng Việt hiện đại” đã có những nghiên cứu
khá sâu về đại từ xưng hô, theo tác giả có thể chia đại từ xưng hô trong tiếng
Việt thành hai lớp là đại từ xưng hô đích thực và yếu tố được đại từ hóa dùng
để xưng hô như: các danh từ lâm thời đảm nhận chức năng đại từ, các từ chỉ
tên riêng, từ chỉ nghề nghiệp, chức danh…Bên cạnh đó, ông còn chia từ xưng
hô trong tiếng Việt thành hai lớp có phạm vi sử dụng khác nhau, gồm: những
từ xưng hô dùng trong gia tộc và những từ xưng hô dùng ngoài xã hội. Và ông
còn nhận định “Xưng hô trong giao tiếp là một vấn đề lớn, liên quan đến
nhiều nhân tố” [2; 123].
Theo quan điểm của Cao Xuân Hạo (2001); Nguyễn Đức Thắng (2002)
đều cho rằng: “Bên cạnh nhóm đại từ nhân xưng đích thực dùng trong xưng

1930 - 1945).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Củng cố và nâng cao những kiến thức lý thuyết về ngôn ngữ học, cụ thể
là các vấn đề về xưng hô, giao tiếp.
Xác định đặc điểm, mô tả các phương diện cụ thể của “xưng hô” trong
giao tiếp, tìm hiểu sự tác động và chi phối của những nhân tố giao tiếp đối với
vấn đề xưng hô.
Xác định đặc trưng của “xưng hô” trong giao tiếp của người Việt thông
qua các tác phẩm văn học giai đoạn 1930- 1945, góp phần hình thành tư liệu
cho việc học tập và giảng dạy các tác phẩm văn học giai đoạn 1930- 1945
trong chương trình phổ thông.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu các vấn đề lí thuyết về giao tiếp, hội thoại, xưng hô và đặc
điểm văn học giai đoạn 1930 - 1945.

5


Khảo sát, thống kê các cách xưng hô, từ xưng hô trong tác phẩm văn học
giai đoạn 1930 - 1945 của các tác giả tiêu biểu: Nam Cao, Nhất Linh, Khái
Hưng, Thạch Lam…
Phân tích, đánh giá các cuộc thoại ở các tác phẩm để làm nổi bật vấn đề
“xưng hô” trong giao tiếp của người Việt trong giai đoạn 1930 - 1945.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Xưng hô trong giao tiếp của người
Việt được thể hiện qua các tác phẩm văn học giai đoạn 1930 - 1945” là: cách
xưng hô, từ ngữ dùng để xưng hô, mối quan hệ giữa xưng và hô, lịch sự trong
giao tiếp xưng hô của người Việt.

Chương 2: Đặc điểm xưng hô trong giao tiếp của người Việt.

7


NỘI DUNG
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Khái quát về giao tiếp và hội thoại
1.1.1. Giao tiếp và các vấn đề về giao tiếp
1.1.1.1.Giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữa người và người trong xã hội, ở đó
diễn ra sự trao đổi thông tin, sự trao đổi nhận thức, tư tưởng tình cảm và sự
bày tỏ mối quan hệ, sự ứng xử, thái độ của người với người và với những vấn
đề giao tiếp.
“Giao tiếp là một hoạt động diễn ra khi chí ít có hai nhân vật cùng luân
phiên sử dụng cùng một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ để trao đổi với nhau
những nhận thức, những tình cảm và những ý muốn của mình nhằm đạt đến
một mục đích nào đó” [9; 1]. Giao tiếp là nhu cầu không thể thiếu trong cuộc
sống của con người. Nó diễn ra thường xuyên, ở mọi nơi, mọi lúc, bởi vì
không ai có thể sống cô độc, lẻ loi mà không cần giao tiếp với người khác.
1.1.1.2. Giao tiếp bằng ngôn ngữ
“Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động trao đổi thông tin của
con người trong xã hội, được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ
(dạng nói hoặc dạng viết), nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức, về
tình cảm, về hành động…” [16; 15]
1.1.1.3. Các nhân tố chi phối hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Mỗi hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình: tạo lập văn bản (do người
nói, người viết thực hiện) và lĩnh hội văn bản (do người nghe, người đọc thực
hiện. Hai quá trình này diễn ra trong quan hệ tương tác. Và trong một hoạt
động giao tiếp thì luôn có sự tham gia của nhiều nhân tố. Các nhân tố giao

tiếp nhận diễn ngôn, kí hiệu Sp2. Trong cuộc giao tiếp, mặt đối mặt, hai vai
nói và nghe thường có sự luân chuyển, tức là sau khi Sp1 nói thì sẽ chuyển
thành vai nghe, khi đó Sp2 sẽ trở thành vai nói và ngược lại. Tuy nhiên trong

9


thực tế hai vai nói nghe không hề đơn giản, ví dụ một diễn ngôn có thể có sự
xuất hiện của bốn vai giao tiếp như chủ ngôn, đích ngôn, thuyết ngôn và tiếp
ngôn thì trong cuộc giao tiếp ấy cần có sự khéo léo trong việc luân chuyển lời.
“Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội,
hiểu biết tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau” [5; 17]. Quan hệ liên
cá nhân bao gồm quan hệ theo chiều ngang và quan hệ theo chiều dọc giữa
các nhân vật giao tiếp. Đỗ Hữu Châu trong cuốn giáo trình “Ngôn ngữ học đại
cương” gọi mối quan hệ theo chiều ngang là trục khoảng cách hay trục thân
cận và mối quan hệ theo chiều dọc là trục quyền uy hay trục vị thế xã hội.
Giữa hai trục quyền uy và trục thân cận có sự tương ứng tỉ lệ thuận. Khoảng
cách địa vị xã hội càng lớn thì người ta càng khó gần gũi nhau. Vị thế xã hội
cũng là yếu tố thuộc hình ảnh tinh thần mà người tham gia giao tiếp xây dựng
về nhau. Có thể thấy rõ như khi chúng ta trò chuyện với người chưa từng
quen biết, thông thường chúng ta sẽ thăm dò để xác định vị thế của người giao
tiếp và chúng ta sẽ phải dựa vào những chỉ dẫn ở bên ngoài như cách ăn mặc,
điệu bộ, cử chỉ, cách nói năng cho đến bên trong như những hiểu biết, hứng
thú… mà người giao tiếp với mình để lộ ra trong quá trình giao tiếp. Bên cạnh
khái niệm về vị thế xã hội còn có khái niệm về vị thế giao tiếp, vị thế giao tiếp
cũng có mạnh yếu, người nào trong một cuộc hội thoại nắm quyền chủ động
nêu đề tài diễn ngôn, lái cuộc hội thoại theo hướng của mình, điều hành việc
nói năng của những người cùng giao tiếp với mình… thì người đó ở vị thế
giao tiếp mạnh. Vị thế giao tiếp có thể thương lượng và chuyển giao từ người
này sang người kia.

tiếp, của hiện thực ngoài diễn ngôn thay đổi liên tục suốt trong quá trình
giao tiếp… Chúng ta nói tác động tổng hợp của các yếu tố tạo nên ngữ
cảnh ở từng thời điểm của cuộc giao tiếp là các ngữ huống của cuộc giao
tiếp.” [5; 26]

11


2. Ngôn ngữ
Tất cả các cuộc giao tiếp đều phải sử dụng một tín hiệu làm công cụ, trong
trường hợp giao tiếp bằng ngôn ngữ thì hệ thống tín hiệu là các ngôn ngữ tự
nhiên. Các phương diện sẽ chi phối diễn ngôn của ngôn ngữ tự nhiên gồm:
Kênh thính giác và kênh thị giác của ngôn ngữ: Kênh thính giác là
đường kênh cơ bản của ngôn ngữ tự nhiên, còn sau này, cùng với sự phát triển
của xã hội, ngôn ngữ có đường kênh thị giác. Từ đó mà diễn ngôn có hai dạng
thức là diễn ngôn nói và diễn ngôn viết.
Các biến thể của ngôn ngữ - biến thể chuẩn mực hóa, biến thể phương ngữ
địa lí và phương ngữ xã hội, ngữ vực và phong cách chức năng: Chính là điểu
dễ thấy trong các diễn ngôn khi mà các nhân vật giao tiếp sử dụng ngôn ngữ
không theo chuẩn, mà nó bị ảnh hưởng bởi vùng miền hay văn hóa nơi đó.
Loại thể: Là những biến thể sử dụng của các diễn ngôn. Loại thể đã khởi
động và tâm lí tiếp nhận và quy tắc thuyết giải diễn ngôn theo loại thể khi gặp
những diễn ngôn được viết theo một loại thể nào đó.
3. Diễn ngôn
Theo Đỗ Hữu Châu, diễn ngôn được hiểu: “Là lời của từng người nói ra
trong một cuộc giao tiếp. Cũng có những diễn ngôn do hai hay hơn hai nhân
vật giao tiếp xây dựng nên (như trường hợp trong một cuộc thoại tay ba, hai
người liên kết với nhau để chống lại người thứ ba).” [5, 34]
Hay cũng có thể hiểu một cách khác như bản dịch của Lã Nguyên về
định nghĩa diễn ngôn của Teun Adrianus Van Dijk trong cuốn “Các lí thuyết

hai, ba, bốn hay thậm chí là nhiều hơn thế nữa các nhân vật tham gia hội thoại
như ở các hội nghị, hội thảo…
Thứ ba là nói tới cương vị và tư cách của những người tham gia hội
thoại. Đó có thể là một người có vị thế giao tiếp mạnh, chủ động trong cuộc
giao tiếp hay là một người ở vị thế giao tiếp yếu… Sự khác biệt giữa các yếu
tố ấy tạo nên sự khác nhau giữa các cuộc thoại.

13


Thứ tư đó chính là các cuộc hội thoại khác nhau ở tính có đích hay
không có đích. Tức là nói tới đặc tính nội dung của cuộc hội thoại đó, có cuộc
hội thoại có nội dung nghiêm túc, có cuộc hội thoại lại nói những chuyện tào
lao, có cuộc hội thoại bày tỏ nỗi niềm riêng tư, có cuộc hội thoại lại đề cập tới
vấn đề chính trị của một quốc gia…
Và cuối cùng, các cuộc thoại có thể khác nhau về tính hình thức hay
không có hình thức. Đối với những cuộc họp, những buổi hội thảo… thì
hình thức tổ chức chặt chẽ, mang tính nghi lễ nên việc sử dụng từ ngữ bắt
buộc trang trọng, nghiêm túc hơn chứ không suồng sã, thân quen như ở
buổi họp chợ…
Chính sự khác nhau ở các cuộc hội thoại đã tạo nên tính đa dạng,
phong phú về cách thức cũng như biểu hiện về xưng hô trong giao tiếp của
con người.
Ví dụ trong đoạn hội thoại giữa Thị và chồng:
“Nhà còn gạo không?
 Làm gì mà còn gạo?
 Thế thì làm sao được?
 Muốn làm sao thì làm. (…)
 Bu mày chịu khó đi đong chịu vậy?”
(Trẻ con không được ăn thịt chó - Nam Cao)

Quy tắc điều hành nội dung hội thoại gồm hai nguyên tắc là: nguyên tắc
cộng tác hội thoại và nguyên tắc quan yếu.
 Nguyên tắc cộng tác hội thoại
Nguyên tắc cộng tác hội thoại có dạng tổng quát như sau: “Hãy làm cho
phần đóng góp của anh chị đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất
hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh chị chấp
nhận tham gia vào.” [5; 229].

15


Theo Grice, nguyên tắc này bao gồm bốn phạm trù: phạm trù lượng,
phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức theo tinh thần các phạm
trù của nhà triết học Kant. Mỗi phạm trù đó tương ứng với một phương châm
và mỗi phương châm lại bao gồm một số tiểu phương châm.
Phương châm về lượng được phát biểu bằng hai tiểu phương châm:
Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi.
Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin lớn hơn đòi hỏi.
Phương châm về chất được phát biểu bằng hai tiểu phương châm:
Đừng nói những điều mà anh tin rằng không đúng.
Đừng nói điều mà anh không có bằng chứng xác thực.
Phương châm quan hệ được phát biểu:
Hãy quan yếu.
Phương châm cách thức được phát biểu bằng bốn tiểu phương châm:
Tránh lối nói tối nghĩa.
Tránh lối nói mập mờ.
Hãy ngắn gọn, tránh dài dòng.
Hãy nói có trật tự.
[5; 230].
 Nguyên tắc quan yếu: Xuất phát từ việc các phương châm hội thoại

Trục vị thế xã hội có thể khác nhau do chức quyền, tuổi tác, nghề
nghiệp... mà thành. Trục khoảng cách có hai cực thân tình và xa lạ. Giữa hai
trục quyền uy và thân cận có sự tương ứng. Khoảng cách địa vị xã hội càng
cao thì người ta càng khó gần gũi nhau. Quan hệ liên cá nhân có khả năng chi
phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức của diễn ngôn. Vì vậy,
qua xưng hô mà người nhận biết người phát đã xác định quan hệ vị thế và
quan hệ thân cận giữa anh ta với mình như thế.
Theo Đỗ Hữu Châu, phép lịch sự sẽ đề cập tới các phương diện của quy
tắc chi phối quan hệ liên cá nhân, chính vì vậy có thể xem xét các quy tắc chi
phối quan hệ liên cá nhân thông qua phép lịch sự :

17


“Những người tham gia hội thoại có thể lựa chọn cách xử sự lịch sự,
tránh cục cằn, thô lỗ. Họ còn có thể lựa chọn cách xử sự tùy thích không đếm
xỉa đến tình cảm và nguyện vọng của người khác. Họ còn có thể dựa vào
những hiểu biết của mình về các quy tắc lịch sự để tỏ ra cục cằn, thô lỗ một
cách cố ý.” (Theo G.M Green)
Có ba quan điểm về lịch sự tiêu biểu mà chúng ta cần quan tâm sau: :
Quan điểm lịch sự của R. Lakoff, của G. N Leech và của P. Brown và S.
Levinson.
Ba quan điểm đó tương đối hoàn chỉnh về phép lịch sự và có những hiệu
quả nhất định đối với việc nghiên cứu lịch sự.
 R. Lakoff thể hiện quan điểm về lịch sự trong ba quy tắc:
Thứ nhất là quy tắc lịch sự quy thức, đó là quy tắc không được áp đặt.
Thứ hai phi quy thức hơn, đó là quy tắc dành cho người đối thoại sự lựa
chọn.
Thứ ba là quy tắc về phép lịch sự bạn bè hay thân tình, đó là quy tắc
khuyến khích tình cảm bạn bè.

Thể diện được Brown và Levinson định nghĩa là “Hình ảnh về ta công
cộng mà mỗi thành viên muốn mình có được” [5; 264].
Thể diện gồm hai phương diện là thể diện âm tính và thể diện dương
tính. Có thể hiểu thể diện âm tính là “mong muốn không bị can thiệp, mong
muốn được hành động tự do theo như cách mình đã lựa chọn” (Theo J.
Thomas). Còn thể diện dương tính có thể hiểu là cái “đượcphản ánh trong ý
muốn của mình được ưa thích, tán thưởng, tôn trọng, đánh giá cao” (J.
Thomas) hay là “sự thỏa mãn khi một giá trị của mình được tán thưởng” (G.
M. Green).
Lịch sự được định nghĩa lại theo khái niệm thể diện: “Lịch sự trong
tương tác có thể được xác định là những phương thức được dùng để tỏ ra
rằng thể diện của người đối thoại với mình được thừa nhận và tôn trọng.”
[5; tr.267].
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status