Báo cáo
CÁCH XƯNG HÔ TRONG GIAO TIẾP THƯƠNG MẠI TIẾNG NHẬT
CHỊU ẢNH HƯỞNG CỦA QUAN HỆ “UCHI” - “SOTO”
Tóm tắt:
Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng có khả năng tiếp cận nhanh nhất
với một nền văn hóa và qua đó tiếp thu được những tinh hoa của nền khoa học
công nghệ của một quốc gia. Bởi lẽ, ngôn ngữ chính là tấm gương phản ánh
sâu sắc và đầy đủ văn hóa của một đất nước. Tiếng Nhật là ngôn ngữ rất giàu
tính văn hóa nên việc sử dụng chính xác ngôn ngữ chính là sự thể hiện am hiểu
về văn hóa Nhật Bản. Với sinh viên học tiếng Nhật của trường Đại học Ngoại
ngữ, những nhà Nhật Bản học, nhà phiên dịch, biên dịch trong tương lai thì
việc sử dụng chính xác ngôn từ và am hiểu về văn hóa, đất nước, con người
Nhật Bản là hết sức quan trọng. Trong xã hội Nhật Bản, quan hệ trên - dưới,
quan hệ trong – ngoài được coi trọng và được biểu hiện trong giao tiếp thường
ngày. Đặc biệt, trong giới kinh doanh, mối quan hệ này lại càng được thể hiện
rõ nét bởi sự khác biệt giữa các đối tượng tham gia giao tiếp: giữa những
người cùng nhóm (người cùng công ty, cơ quan…) hay giữa những người khác
nhóm (khách hàng, đối tác làm ăn…). Sự khác biệt này được thể hiện ngay
trong cách xưng hô khi giao tiếp giữa các đối tượng khác nhau thuộc hai vùng
uchi (những người có quan hệ gia đình, thân mật, đồng nghiệp) – soto (những
người có quan hệ xã giao, khách hàng, đối tác làm ăn…). Với khuôn khổ của
bài viết, chúng tôi khảo sát một số cách xưng hô được biểu hiện trong giao tiếp
thương mại của người Nhật nhằm giúp người học tránh được những nhầm lẫn
khi giao tiếp với người Nhật trong nơi làm việc hoặc khi phiên dịch các buổi
trao đổi, thương lượng, đàm phán…
Nội dung:
1. Khái niệm về uchi– soto
Người Nhật luôn có sự phân biệt rạch ròi về mối quan hệ thân quen và xa lạ
giữa những người tham gia giao tiếp. Đó là sự phân biệt giữa những người có
quan hệ thân mật như người trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong cùng
một tổ chức… với những người có quan hệ không thân thiết, quan hệ xã giao
người tham gia giao tiếp.
Trường hợp a): Người nói giới thiệu ông trưởng phòng với nhân viên mới
hoặc đồng nghiệp trong cùng bộ phận, cùng phòng ban hay cùng công ty. Cả
người nói, người nghe và người được giới thiệu đều là người trong cùng công
ty.
Trường hợp b): Người nói giới thiệu ông trưởng phòng của công ty mình
với người của công ty đối tác. Có nghĩa là: người nói và ông trưởng phòng là
người cùng một công ty còn người nghe là người thuộc công ty khác.
Trường hợp c): Người nói giới thiệu ông trưởng phòng của công ty đối tác
với người của công ty mình. Có nghĩa là: ông trưởng phòng là người không
cùng một công ty với người nói và còn người nghe.
2.1. Người nói giao tiếp với người trong nhóm uchi
Trong giao tiếp tiếng Nhật, có nhiều từ khác nhau để chỉ cách xưng hô của
người nói (đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất) như: 「おれ」、「ぼく」、「あた
し」、「わたし」、「わたくし」… Tuy nhiên,「ぼく」chỉ được sử dụng khi
người nói là nam (otoko), 「あたし」chỉ được sử dụng khi người nói là nữ. Các
đại từ 「おれ」、「ぼく」、「あたし」thường được sử dụng đối với người nghe
ngang hàng hoặc ở vai dưới, nhưng đôi khi cũng được sử dụng khi người đối
thoại ở vai trên nhưng có quan hệ thân mật với người nói. Theo nguyên tắc, các
đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất này hoàn toàn không được sử dụng ở công sở,
nơi làm việc khi giao tiếp. Khi những người trong cùng cơ quan, công ty hay
cùng một phòng ban (trong nhóm uchi) giao tiếp với nhau thì tuyệt đối không
được sử dụng các từ xưng hô mang tính suồng sã mà người nói phải dùng từ
trung tính「わたし」để xưng hô. Đại từ này không phân biệt người nói là nam
hay nữ.
Ngược lại, khi gọi người đối thoại với mình, người nói cũng có thể sử dụng
nhiều đại từ nhân xưng ngôi thứ hai như:「「「「「「「「「「「「「「「「「「「「
「「「「「「「「. Các từ「「「「「「「「「「được sử dụng trong trường hợp để
gọi người ngang hàng hay ở vai dưới, còn 「「「「「「「「「「「là các từ có tính
chất phỉ bang, khinh miệt nên chỉ bắt gặp trong các cuộc tranh cãi gay gắt mà
したち」 (chúng tôi), từ vẫn sử dụng trong giao tiếp thông thường. Đặc biệt khi
nói về công ty, phòng ban hay bộ phận mà mình đang làm việc trong giao tiếp
với đối tác, người Nhật cũng sử dụng những từ khiêm nhường như: 「「「「「「「
「「「「「…Tuy nhiên, trong hệ thống đại từ nhân xưng hết sức phong phú của
tiếng Nhật lại không tồn tại một đại từ ngôi thứ hai nào có dùng để gọi người ở
vai trên hay người không phải thân thích (những người thuộc nhóm soto). Khi
người nói sử dụng đại từ khiêm nhường ngôi thứ nhất「わたくし」hay「わたく
しども」thì không có một đại từ ngôi thứ hai nào đứng cặp với nó để gọi người
đối thoại. Vì vậy, người nói thường phải gọi người đối thoại bằng tên riêng đã
được kính ngữ hóa (bằng cách cộng thêm các tiếp vĩ ngữ tôn kính) hay bằng
danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp thích hợp.
- Người đối thoại là cấp trên, đồng cấp của bên đối tác
HỌ + chức danh (((((((((((((
「 「「「「「「「「 「「 「「「「
Hoặc
chức danh + HỌ +
「「「 「「 「「 「 「「「「「「「「「「「「「
Tuy nhiên, trường hợp người đối thoại là người đồng cấp, có quan hệ
thân mật thì đôi khi người nói cũng có thể thay đổi cách xưng hô khi gọi người
đối diện:
HỌ + chức danh + さん
山本 + 部長 + さん = 山本部長
さん
- Người đối thoại là người cấp dưới
HỌ + さん