1
MỞ ĐẦU
1. Mục đích, lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây ngữ dụng học đã có những phát triển mạnh
mẽ. Nó đánh dấu sự thay đổi trong nhận thức của các nhà nghiên cứu, họ mở
rộng phạm vi nghiên cứu, không coi các mô hình trừu tượng là mục đích duy
nhất của việc miêu tả ngôn ngữ mà chú trọng đến các nhân tố ngữ nghĩa học
và ngữ dụng học đứng đằng sau mô hình đó, đặc biệt là chú trọng đến khía
cạnh tương tác xã hội khi ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp.
Trong các hoạt động giao tiếp, các nghi thức lời nói thường không đảm
nhận nhiệm vụ cung cấp thông tin, nhưng lại có vai trò trong việc thu hút,
thiết lập, duy trì, củng cố mối quan hệ giữa những người tiếp xúc để giao tiếp
đạt hiệu quả cao. Người Việt từ ngàn xưa vốn đã có truyền thống trọng lễ
nghĩa nên các nghi thức trong giao tiếp đặc biệt được đề cao. Ngày nay, trong
xu thế hội nhập và phát triển toàn cầu, mối quan hệ giữa các cộng đồng trên
thế giới cần được đề cao nên vai trò của các nghi thức lời nói càng được coi
trọng hơn. Chúng đã trở thành nghi thức nói năng không thể thiếu của một thế
giới hội nhập – văn minh – hiện đại và lịch sự.
Xuất phát từ lý thuyết ngữ dụng học và từ thực tế giao tiếp hội thoại,
chúng tôi thấy rằng trong tất cả các hoạt động của xã hội từ giao tiếp hằng
ngày trong gia đình đến cộng đồng xã hội đều tồn tại yếu tố lịch sự. Vì thế,
khi giao tiếp người nói thường chọn cách nói năng phù hợp để vừa đạt mục
đích giao tiếp vừa duy trì được mối quan hệ xã hội.
Huế là cái nôi văn hóa của miền Trung vừa là cái nôi văn hóa của Việt
Nam, người Huế là những người thanh lịch, tế nhị, dịu dàng, đồng thời cũng
rất mực, tinh tế, dung dị và trầm lắng. Đây chính là một nét tính cách rất đặc
trưng của người Huế. Nét tính cách này không chỉ thể hiện trong cách ứng xử
2
hằng ngày từ gia đình mà còn đến nơi công sở, nơi công cộng. Đến Huế bất kì
ai cũng có những ấn tượng khó phai và những lắng đọng trọng tâm trí không
thể quên được, đó chính là cách xưng hô của các cô gái Huế với những câu
giao tiếp” (2 Tập).
Trong cuốn Ngữ dụng học – tập 1 (Nhà xuất bản Giáo dục, 2000), Giáo
sư Nguyễn Đức Dân cũng đã trình bày khá đầy đủ về lý thuyết Ngữ dụng học.
Cuốn Dụng học Việt ngữ (2009) của Giáo sư Nguyễn Thiện Giáp cũng giới
thiệu hai quan điểm của hai nhà ngữ dụng học nổi tiếng Thế giới J. Austin và
J. Searle. Tuy nhiên, cả hai tác giả này cũng chỉ mới dừng lại ở mức độ lý
thuyết khái quát mà chưa đi sâu và từng hành vi ngôn ngữ nào cụ thể. Bên
cạnh đó các tác giả còn giới thiệu nguyên lý hội thoại và phép lịch sự bao
gồm cả nguyên lý cộng tác và nguyên lý lịch sự.
Những năm gần đây, xu hướng nghiên cứu hành vi ngôn ngữ trong mối
quan hệ với các quy tắc giao tiếp và đặc điểm văn hóa dân tộc được các nhà
nghiên cứu chú ý, phát triển. Có thể kể đến các bài viết của các tác giả: Lời
chào gián tiếp của người Việt với phép lịch sự - Nguyễn Thị Lương (2006),
Chiến lược trung tính trong mời và từ chối lời mời trong tiếng Anh Mỹ và
tiếng Việt – Dương Bạch Nhật (2008).
Liên quan đến đề tài còn có các công trình nghiên cứu của Giáo sư
Nguyễn Thiện Giáp – Dụng học việt ngữ, Giáo sư Đỗ Hữu Châu – Đại cương
ngôn ngữ học (tâp 2), Võ Đại Quang – Lịch sự chiến lược giao tiếp hướng cá
nhân hay chuẩn mực xã hội. Tuy nhiên, vẫn chưa có tác giả nào giới thiệu
một cách có hệ thống và cụ thể về lịch sự của người Việt ở từng vùng miền mà
chỉ tập trung giới thiệu về lịch sự của người Việt nói chung. Chúng tôi đã mạnh
dạn nghiên cứu đề tài chiến lược lịch sự của người Việt ở thành phố Huế.
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
•Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà đề tài tập trung nghiên cứu là yếu tố lịch sự trong ngôn
ngữ giao tiếp.
•Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận sẽ trực tiếp đi sâu hơn vào các chiến lược lịch sự, các hành vi
giao tiếp ngôn ngữ của người Việt trên địa bàn thành phố Huế. Đồng thời,
Việt ở thành phố Huế. Chương này nêu lên những giá trị về ngữ nghĩa và ngữ
dụng trong giao tiếp của người Việt ở thành phố Huế. Đồng thời, chúng tôi
tập trung làm rõ những giá trị, hiệu quả của yếu tố này mang lại trong quá
trình giao tiếp.
6
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Ngữ cảnh
Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta đang thực hiện
một lọat hành động và đặc biệt thông qua phương tiện là ngôn ngữ. Giao tiếp
hội thoại là một hoạt động cơ bản của ngôn ngữ, ngôn ngữ là phương tiện
giao tiếp trọng yếu nhất của con người. Hành động ngôn ngữ gắn bó chặt chẽ
với các ngữ cảnh tình huống của nó và sự tương tác lẫn nhau giữa người nói
và người nghe. Do vậy các vấn đề thuộc ngữ dụng học như ngữ cảnh, hành vi
ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại, chiến lược lịch sự, hàm ngôn sẽ là cơ sở lý luận
cho việc triển khai đề tài này.
Muốn hiểu được chính xác và thấu đáo một phát ngôn thì không thể dựa
vào các yếu tố ngôn ngữ mà phải đặt phát ngôn đó vào ngữ cảnh diễn ra cuộc
hội thoại đó. Ai nói? Nói với ai? Nói bao giờ? Nói ở đâu? và nói về vấn đề gì?
Tất cả những yếu tố này có tác động và chi phối không nhỏ đến việc giải thích
ý nghĩa của phát ngôn. Do vậy, trong khi phân tích hội thoại cần đặc biệt chú
ý tới yếu tố ngữ cảnh. Mỗi cuộc hội thoại đều được diễn ra vào lúc nào đó, ở
đâu đó, trong hoàn cảnh nào đó. Nhân tố ngữ cảnh có vai trò to lớn trong việc
tạo lập và lĩnh hội các phát ngôn trong hội thoại. Tất cả các diễn ngôn như
một bài văn nghị luận một bài văn miêu tả hay một tờ giấy đề nghị… tuy
không có sự hiện diện đối mặt của người nghe, người nói, tuy không gắn chặt
với tình huống cụ thể nào nhưng vẫn hàm ẩn một cuộc trao đổi.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm ngữ cảnh. Trong cuốn
giáo trình Đại cương ngôn ngữ học (tập 2), Đỗ Hữu Châu quan niệm ngữ
8
- Trục tung là trục vị thế xã hội còn gọi là trục quyền uy (power) do chức
quyền, tuổi tác, nghề nghiệp…mà có. Theo trục quyền uy thì những người
giao tiếp ở mức độ cao – thấp hoặc bình đẳng với nhau và quan hệ vị thế là
quan hệ phi đối xứng, tức là một khi đã được xác định đúng thì sẽ giữ nguyên
trong quá trình giao tiếp, không thể qua thương lượng mà thay đổi.
- Trục hoành là trục quan hệ khoảng cách (distance), còn gọi là trục thân
cận (solidarity). Trên trục khoảng cách các nhân vật giao tiếp có thể gần gũi mà
cũng có thể xa cách nhau. Trục này có hai cực là thân tình và xa lạ với mức độ
khác nhau. Thân cận là trục đối xứng, có thể thay đổi theo hướng cùng giãn
cách hoặc cùng thu hẹp khoảng cách giữa các nhân vật giao tiếp [1,tr.17].
Hai trục quyền uy và thân cận có sự tương ứng nhau và chi phối cả quá
trình giao tiếp, cả nội dung lẫn hình thức diễn ngôn.
1.1.2. Hiện thực ngoài diễn ngôn
Trừ nhân vật giao tiếp, tất cả các yếu tố vật chất, văn hóa, xã hội… có tính
cảm tính và những nội dung tinh thần tương ứng không được nói đến trong diễn
ngôn của một cuộc giao tiếp được gọi là hiện thực ngoài diễn ngôn.
Nhân tố hiện thực ngoài diễn ngôn gồm 4 bộ phận:
- Hiện thực – đề tài của diễn ngôn là một mảng trong hiện thực ngoài
diễn ngôn được các nhân vật giao tiếp thỏa thuận lấy làm đối tượng để trao
đổi trong cuộc giao tiếp đó.
- Hoàn cảnh giao tiếp bao gồm những hiểu biết về thế giới vật lý, sinh
lý, tâm lý, xã hội, văn hóa, tôn giáo, lịch sử các ngành khoa học nghệ thuật…
ở thời điểm và không gian trong đó đang diễn ra cuộc giao tiếp.
- Thoại trường được hiểu là cái không gian – thời gian cụ thể diễn ra
cuộc giao tiếp. Đây là không gian có những đặc trưng chung, đòi hỏi người ta
phải xử sự, nói năng theo những cách thức ít nhiều cũng chung cho nhiều lần
xuất hiện. Ngữ dụng học quan tâm đến thoại trường trước hết là vì mỗi thoại
trường quy định cách thức sử dụng ngôn ngữ phù hợp với nó.
9
và lĩnh hội các phát ngôn trong hội thoại. Tất cả các diễn ngôn như một bài
văn nghị luận, một bài văn miêu tả hay một giấy đề nghị v.v…tuy không có
sự hiện diện đối mặt cả người nói và người nghe, tuy không gắn chặt vào tình
huống cụ thể nào nhưng vẫn hàm ẩn một cuộc trao đổi.
Lúc đầu, hội thoại được xã hội học, xã hội ngôn ngữ học, dân tộc ngôn
ngữ học Mĩ nghiên cứu. Từ năm 1970 nó là đối tượng chính thức của một
phân ngành ngôn ngữ học Mĩ, phân ngành phân tích hội thoại (conversation
analysis). Sau đó phân tích hội thoại được tiếp nhận ở Anh với tên gọi phân
tích diễn ngôn (discourse analysis), ở Pháp (khoảng năm 1980) và ở các nước
thuộc cựu lục địa. Cho đến nay thì ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia trên
thế giới đều bàn đến hội thoại.
Đặc điểm hội thoại
Hội thoại bao gồm các đặc điểm:
Thứ nhất, đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) ở đó diễn ra
cuộc hội thoại. Thoại trường hội thoại có thể là công cộng (mít tinh, hội nghị,
hội thảo, ngoài chợ…) hay riêng tư (trong phòng khách, trong phòng ngủ…).
Thoại trường không phải chỉ có nghĩa không – thời gian tuyệt đối mà gắn với
khả năng can thiệp của những người thứ ba đối với cuộc hội thoại đang diễn
ra. Thí dụ, cuộc hội thoại của hai vợ chồng trong tiệm ăn vẫn là cuộc hội thoại
riêng tư mặc dầu tiệm ăn là không gian công cộng. Nhìn chung, thoại trường với
những cần thiết của nó và với sự hiện diện của những nhân vật đang hội thoại
ảnh hưởng ít hay nhiều đến cuộc hội thoại cả về nội dung, cả về hình thức.
Thứ hai, số lượng người tham gia. Số lượng nhân vật hội thoại – còn gọi
là đối tác hội thoại hay đối tác – thay đổi từ hai đến một số đối tượng lớn. Có
những cuộc hội thoại tay đôi, tay ba, tay tư hoặc nhiều hơn nữa. những cuộc
11
hội thoại như một cuộc hội nghị, một giờ học…thì số lượng nhân vật không
cố định được.
Thứ ba, cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại. Cương
vị và tư cách người tham gia hội thoại khác nhau tùy theo các cuộc hội thoại,
những cuộc hội thoại như thương thuyết ngoại giao, hội thảo khoa học có đích
được xác định trước rõ ràng, những cuộc tán gẫu được xem là không có đích.
Nói đến đích hội thoại cũng là nói đến đặc tính nội dung của cuộc hội thoại:
Có những đối thoại ngẫu hứng tự do và những cuộc hội thoại được định trước
về nội dung, có những cuộc hội thoại có nội dung nghiêm túc và có những
cuộc hội thoại có nội dung “tào lao”, có những cuộc hội thoại về những nỗi
niềm riêng tư và những cuộc hội thoại bàn về những vấn đề chung của một
đơn vị, một xã hội.
Thứ năm, các cuộc hội thoại có thể khác nhau về tính có hình thức hay
không có hình thức. Những cuộc thương nghị, hội thảo…là những cuộc hội
thảo mà hình thức khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành nghi lễ còn những
chuyện trò đời thường không cần một hình thức tổ chức nào cả.
Cuối cùng là vấn đề ngữ vực. Do tính có hình thức hay không có hình
thức mà các cuộc hội thoại có thể diễn ra ở một trong ba ngữ vực đã biết.
Hội thoại có thể gồm hai bên, đó là song thoại (P: dialogue), cũng có thể
có ba bên hoặc nhiều bên, đó là tam thoại (P: triogue), hoặc đa thoại (P:
polylogue). Chẳng hạn trong chèo, tiếng để từ ngoài vào là hình thức tam
thoại; trong cuộc vận động tranh cử, nếu có ba ứng cử viên tổng thống tham
gia tranh luận công khai và cuộc tranh luận này được truyền hình tại chỗ thì
trường hợp này ít nhất là tam thoại, có thể nói đây là trường hợp đa thoại vì cả
ba ứng cử viên này tranh luận cốt là để giành giật phiếu bầu của cử tri, trong
13
mỗi vấn đề tranh luận khán – thính giả rồi những người ngồi tại chỗ trong
phòng họp có thể hỏi, có thể chất vấn vọng lên. Tuy nhiên, trong các loại hội
thoại thì song thoại là phổ biến và quan trọng nhất. Song thoại cũng là một
đối tượng nghiên cứu của lý thuyết hội thoại.
1.2.2. Tương tác hành động
Sự tương tác tức là tác động vào nhau làm cho nhau biến đổi trong quá
trình hội thoại giữa các nhân vật giao tiếp.
Tương tác xảy ra rất phổ biến ở bất kì xã hội nào, chẳng hạn như sự
tính và thể diện dương tính.
•Thể diện âm tính là mong muốn không bị can thiệp, mong muốn được
hành động tự do theo như cách mình đã lựa chọn mà không bị người khác áp
đặt.
•Thể diện dương tính là cái “được phản ánh trong ý muốn mình đươc ưa
thích, tán thưởng, tôn trọng, đánh giá cao”
G. Yule giải thích cụ thể hơn: “Thể diện dương tính của một người là cái
nhu cầu được chấp nhận, thậm chí được yêu thích bởi ngưởi khác, được đối
xử như là thành viên của cùng một nhóm xã hội và nhu cầu được biết rằng
mong muốn của mình được người khác chia sẻ. Nói đơn giản hơn thì thể diện
âm tính là nhu cầu được độc lập, còn thể diện dương tính là nhu cầu được liên
thông với người khác.
Tồn tại trong môi trường hội thoại, hai loại thể diện trên là hai mặt bổ
sung cho nhau, phát huy vai trò, tác dụng theo hướng tương hỗ, nghĩa là một
sự vi phạm thể diện âm tính cũng đồng thời làm mất thể diện dương tính.
Thông thường khi giao tiếp bằng ngôn ngữ thì thể diện của các vai tham
gia giao tiếp phụ thuộc vào việc người khác có giữ thể diện cho mình hay
15
không. Người tham gia giao tiếp được chờ đợi là sẽ bảo vệ thể diện nếu nó bị
đe dọa và trong khi bảo vệ thể diện của mình thì tránh để không làm mất thể
diện của những người khác. Nói chung bảo vệ thể diện cho nhau là phục vụ
lợi ích cho tất cả mọi người một cách tốt nhất góp phần mang đến hiệu quả
giao tiếp như mong muốn.
Lịch sự là chiến lược căn bản giúp những người tham gia giao tiếp hạn
chế một cách hữu hiệu những đe dọa mất thể diện.
1.2.4. Lịch sự trong giao tiếp
1.2.4.1. Khái niệm chiến lược lịch sự
Chẳng phải ngẫu nhiên mà khi tham gia giao tiếp chúng ta phải suy tính,
nói thể nào để không làm mất thể diện của mình cũng như của người khác,
diễn đạt một hành động lời nói bằng cách này mà không phải bằng cách khác.
•Quy tắc không áp đặt: Người nói sẽ tránh hoặc giảm nhẹ khi yêu cầu
người nghe làm một việc gì đó mà người nghe không muốn làm.
•Quy tắc dành cho người nghe sự lựa chọn: Quy tắc này hoạt động khi
những người tham gia hội thoại cần bình đẳng với nhau nhưng không gần gũi
về quan hệ xã hội.
•Quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè: Trong phép lịch sự bạn bè, hầu
như những đề tài cấm kị, những nỗi niềm riêng tư đều được đưa ra để nói.
Những người đối thoại theo phép lịch sự này thường dùng những từ xưng hô
thân thuộc, kể cả những biệt danh hay những lởi chửi thề.
- Quan điểm về phép lịch sự của G. Leech
17
•Phương châm khéo léo: Đó là biện pháp giảm thiểu những điều bất lợi,
tang tối đa những điều có lợi cho người nghe (trong những phát ngôn cầu
khiến hay cam kết)
• Phương châm rộng rãi: là phương châm giảm lợi ích cho ta, tăng tối đa
tổn thất cho ta (trong những phát ngôn cầu khiến hay cam kết)
• Phương châm tán thưởng: là giảm sự chê bai đối với người, đồng thời
tăng tối đa sự khen ngợi người nghe (trong những phát ngôn biểu cảm).
• Phương châm khiếm tốn: Giảm thiểu sự khen ngợi ta, tăng tối đa sự
chê bai ta.
• Phương châm tán đồng: Giảm thiểu sự bất đồng giữa ta với người,
đồng thời tăng tối đa sự đồng ý giữa ta với người.
• Phương châm thiện cảm: Là giảm thiểu sự ác cảm giữa ta với người và
tăng tối đa thiện cảm giữa người với ta.
1.2.4.3. Nguyên tắc cộng tác trong hội thoại
Tác giả của nguyên tắc này là H.P Grice, những phác thảo đầu tiên của
nguyên tắc cộng tác được Grice nêu ra trong bài giảng của mình ở trường đại
học Havard năm 1967 và được xuất bản trong tác phẩm Logic and conversation
năm 1975. Từ năm 1978 đến năm 1981, Grice thuyết minh và bổ sung thêm
nguyên tắc của mình trong một số bài báo.
châm cộng tác hội thoai của Grice.
- Có 3 loại biểu thức rào đón:
Rào đón phương châm cộng tác:
Các biểu thức rào đón liên quan đến phương châm về lượng: chúng ta đã
biết, như đã nói, cậu đã biết rồi đấy,theo một chừng mực nhất định, tất cả
những gì tôi biết là
19
Các biểu thức rào đón liên quan đến phương châm về chất: Nghe đâu,
nghe đồn, theo tôi nghĩ, tôi cho rằng, có lẽ, hình như
Các biểu thức rào đón liên quan đến phương châm quan yếu: à mà này,
nhân tiện, tiện đây, có lẽ đã đến lúc nói điều này
Các biểu thức rào đón liên quan đến phương châm cách thức: Nói khí dài
dòng, nói hơi lộn xộn, nói gọn lại, nói cho đơn giản
Rào đón hành động ở lời:
Các biểu thức rào đón liên quan đến điều kiện sử dụng hành động ở lời:
Chân thành (cảm ơn), thực lòng góp ý, tôi bảo thật, chị không nịnh e đâu,
mạo muội hỏi bác, chỗ bạn bè mới hỏi
Rào đón lịch sự:
Các biểu thức rào đón giảm thiểu tác động xấu của hành động ở lời: phỉ
phui, nói đổ xuống sông xuống biển, nói trộm vía
20
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM CỦA YẾU TỐ LỊCH SỰ TRONG NGÔN NGỮ
GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT Ở THÀNH PHỐ HUẾ
2.1. Khái quát tự nhiên, đặc điểm văn hóa - xã hội của thành phố Huế
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Huế nằm ở dải đất hẹp miền trung Việt Nam và là thành phố trực thuộc
tỉnh Thừa Thiên – Huế. Thành phố là trung tâm về nhiều mặt của miền trung
như văn hóa, kinh tế, chính trị, giáo dục, y tế, du lịch, khoa học kỹ thuật. Huế
là đô thị thuộc cấp quốc gia của Việt Nam và cố đô của Việt Nam thời phong
xưng hô ở làng xã, gia đình, không phân biệt kẻ giàu, người nghèo hèn, vì thế ở
Huế có cả một hệ thống từ xưng hô khác với các vùng miền khác. Đối với xóm
làng, lạ cũng như quen đều căn cứ vào tuổi tác, vị thế xã hội mà nói năng sao
cho lịch sự mà không đe dọa thể diện của người đối thoại.
Xuất phát từ lý thuyết ngữ dụng học và từ thực tế giao tiếp hội thoại,
chúng tôi thấy rằng trong tất cả các hoạt động của xã hội từ giao tiếp hằng
ngày trong gia đình đến cộng đồng xã hội, bất cứ ở đâu chúng ta cũng phải
lịch sự khi đối thoại với người khác. Người Việt luôn coi trong yếu tố lịch sự
trong giao tiếp đặc biệt ở Huế, nơi có truyền thống văn hóa từ lâu đời.
Giao tiếp là nhu cầu cần thiết cho mối quan hệ giữa người với người,
việc giao tiếp diễn ra từng ngày, từng giờ mà không phụ thuộc vào bất kỳ môi
trường hay hoàn cảnh nào song lại luôn đòi hỏi sự khéo léo, lịch sự của các
bên tham gia giao tiếp, mà ngôn ngữ chính là phương tiện duy nhất và hữu
hiệu nhất để thực hiện điều này. Hơn nữa, Huế là một vùng đất với những con
người trọng tình, trọng nghĩa vậy nên với họ lịch sự là một yếu tố tất yếu làm
22
nên giá trị con người. Những ai đã từng đến Huế, nói chuyện với người dân ở
đây hẳn sẽ nhận thấy ngay ở họ sự thân thiện, mến khách và rất nhiệt thành.
Dù thời gian qua đi nhưng nghe tiếng “dạ”, “thưa” thì hẳn ai cũng dễ dàng
nhận ra giọng Huế - người Huế như lời bài hát “Tình yêu từ chiếc nón bài
thơ, từ giọng nói ấm trầm sâu lắng lạ”. Con người Huế dù đi đâu thì hình ảnh
khắc sâu trong tâm khảm họ cũng như những người dân vùng khác đó là tà áo
dài. Vẻ đẹp tự nhiên của người Huế, thân thiện, dễ gần, cuộc sống thanh bình,
không xô bồ như những thành phố lớn khác. Ba yếu tố thiên nhiên, văn hóa, con
người hòa quyện với nhau tạo thành những nét đặc thù, riêng biệt của dân tộc.
2.2. Đặc điểm của yếu tố lịch sự trong ngôn ngữ giao tiếp của người
Việt ở thành phố Huế
2.2.1. Đặc điểm văn hóa vùng miền ảnh hưởng đến ngôn ngữ giao tiếp
Nhân tố văn hóa – xã hội thường chi phối hành vi của con người, vì thế
trong hoạt động giao tiếp nhất là với những người có vị thế cao hơn mình họ
Việt rất có ý thức tuân theo các quy tắc đã được xã hội công nhận để giảm
thiểu hiệu lực đe dọa thể diện xã hội đối với người đối thoại, tránh gây đến sự
tổn hại liên cá nhân.Vậy nên, phép lịch sự trong xã hội là một chuẩn mực thể
hiện ý thức đó. Con người trong giao tiếp không chỉ bó hẹp trong vai người
nói (Speaker – S) và người nghe (Header – H) chung chung mà là các thành
viên của hệ thống giao tiếp xã hội cụ thể. Trong giao tiếp hội thoại các quan
hệ vai giao tiếp chịu sự chi phối của các yếu tố sau:
2.2.2.1. Vai giao tiếp và phương tiện biểu hiện lịch sự trong giao tiếp
24
Người Huế luôn có lối sống chan hòa và vui vẻ dù là lạ hay quen họ đều
có một lối cư xử rất thân thiện, dễ gần. Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản
phẩm của lối sống trọng tình và lối tư duy coi trọng các mối quan hệ, đây
cũng là một đặc trưng trong văn hóa phương Đông nói chung và người Huế
nói riêng. Khi nói người nói luôn đắn đo, cân nhắc kỹ càng lựa chọn những
cặp từ xưng hô phù hợp để không làm mất lòng người đối thoại, họ luôn giữ
mối quan hệ hài hòa và luôn ý thức tôn vinh thể diện của người nghe.
Trong các dấu hiệu thể hiện quan hệ liên cá nhân trong giao tiếp, chúng
tôi đặc biệt chú ý đến các từ ngữ xưng hô. Từ xưng hô thể hiện được vị thế xã
hội thể hiện ở các mức thân cận khác nhau, đảm bảo sự lịch sự của người nói
đối với những người cùng giao tiếp. Nó không chỉ là công cụ để người nói
đưa mình và người đối thoại vào diễn ngôn mà còn là công cụ để người nói
câu thúc mình và câu thúc người đối thoại trong khuôn khổ một kiểu liên cá
nhân nhất định. Sự lựa chọn từ ngữ xưng hô phù hợp với mối quan hệ, thể
hiện đúng thái độ, tình cảm của người nói với người nghe có một vai trò rất
quan trọng trong sự thành công của cuộc hội thoại.
Liên quan đến việc sử dụng hay không sử dụng từ ngữ xưng hô, theo kết
quả khảo sát của chúng tôi, đối với các nghi thức như chào, mời, cảm ơn ở
người Huế chúng tôi thấy:
Nếu người nói có vị thế xã hội, tuổi tác cao hơn hoặc bằng người nghe
thì các phát ngôn trong các nghi thức này có thể tối giản, tức chỉ có duy nhất
người nói, người nghe cụ thể gắn với ngữ cảnh tình huống cụ thể, do đó, việc
ứng xử theo vai xuất hiện trong mọi tình huống giao tiếp.
Trong giao tiếp để cuộc thoại được duy trì phát triển theo những gì mình
mong muốn, những người tham gia giao tiếp không chỉ ý thức vai của mình
không thôi mà còn cần phải ý thức được vai của người đối thoại. hiệu quả của