Hành động mời trong giao tiếp của người Việt và một số vấn đề về dạy hành động mời cho người nước ngoài - Pdf 26


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ MAI HƢƠNG HÀNH ĐỘNG “MỜI” TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƢỜI VIỆT
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DẠY HÀNH ĐỘNG MỜI
CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Đỗ Việt Hùng

Hà Nội-2012 5
Bảng viết tắt
Quy ước viết tắt
M = mời
TXH = từ xƣng hô
ĐT = động từ

Quy ước trích dẫn
01. NVH
6
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
BẢNG VIẾT TẮT VÀ QUY ƢỚC VIẾT TẮT
MỤC LỤC
Mở đầu………………………………… ……………………………… ………….03
1. Đặt vấn đề……… ………………………………………… ………….03
2. Lý do chọn đề tài….………………………… ……………… ………….04
3. Mục đích, ý nghĩa đề tài……… ……… ….………………… ……… 05
4. Phạm vi nghiên cứu…… ……………… ………………… ……………06
5. Phƣơng pháp nghiên cứu… ………………………………… ………….07
6. Bố cục luận văn……… ……… …………………………….……………08
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LÀM CƠ SỞ LÝ LUẬN …………09
1.1 Lý thuyết về giao tiếp………………… ……………………… ………09
1.2 Lý thuyết về lịch sự……… …………………………………….……….15
1.3 Lý thuyết về hành động ngôn trung…………………………………… 18
Chƣơng 2: CÁC KIỂU MỜI TRONG GIAO TIẾP NGƢỜI VIỆT………….……….20
2.1 Những hoàn cảnh giao tiếp của lời mời…………………………………20
2.1.1 Ngữ cảnh rộng của lời mời………………………… ………….………21
2.1.2 Ngữ cảnh hẹp của lời mời…… ……………………………… ………24
2.1.3 Tiểu kết………………… …………………………………… ………27
2.2 Các kiểu mời trong văn hóa giao tiếp ngƣời Việt…………….…………28
2.2.1 Phát ngôn mời trực tiếp có từ xưng hô……….……………… ………30

PHỤ LỤC

8
Mở đầu
1. Đặt vấn đề
Trong các nhu cầu của con ngƣời thì nhu cầu giao tiếp vừa là thiết yếu, vừa
là bắt buộc. Bởi con ngƣời không thể sống mà không giao tiếp với nhau.
Trong hoạt động giao tiếp của mình, con ngƣời phải và cần thực hiện rất
nhiều các hành động giao tiếp khác nhau. Một trong những hành động đó chính là
hành động mời. “Mời” là một nghi thức – nghi thức lời nói nhƣng đồng thời nó
cũng là một hành động giao tiếp của con ngƣời trong cuộc sống. Và có thể nói
rằng, cuộc sống của con ngƣời không thể thiếu vắng những lời mời. Xã hội ngày
càng phát triển thì văn hóa mời càng đƣợc ngƣời ta coi trọng.
Sự ra đời của chuyên ngành Ngữ dụng học đánh dấu một bƣớc phát triển mới
trong ngành Ngôn ngữ học, đã chuyển hƣớng nghiên cứu từ chính bản thân ngôn
ngữ sang sự hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp thì rất nhiều các hành động
giao tiếp bằng ngôn ngữ của con ngƣời đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của các
nhà Ngôn ngữ học, trong đó có hành động mời. Nghiên cứu ngôn ngữ theo hƣớng
Dụng học đã kéo theo một loạt các nghiên cứu liên ngành, tạo tiền đề cho khoa học
xã hội phát triển.
Hiện nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, học ngoại ngữ trở thành một
nhu cầu thiết yếu và thiết thực. Tiếng Việt trở thành ngoại ngữ đối với những ngƣời
nƣớc ngoài sang du lịch, nghiên cứu hay làm việc… tại Việt Nam. Do đó, dạy tiếng
Việt cho ngƣời nƣớc ngoài đã và đang là một yêu cầu đƣợc đặt ra. Đổi mới phƣơng
pháp trong việc dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ là vấn đề luôn luôn đƣợc quan
tâm nhằm nâng cao chất lƣợng giảng dạy và hiệu quả học tập cho sinh viên.
Do điều kiện thời gian và trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi

hề đơn giản.

10
Nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học trong vấn đề dạy tiếng Việt nhƣ một
ngoại ngữ thì việc không ngừng tìm tòi, đổi mới và sáng tạo để tìm ra các phƣơng
pháp dạy và học là một điều tất yếu. Xu hƣớng dạy và học tiếng Việt nhƣ một
ngoại ngữ theo hƣớng giao tiếp đang là xu hƣớng mới, đƣợc triển khai và áp dụng
sâu rộng. Trong đó, dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ lấy hành động ngôn từ làm
cơ sở cũng nằm trong xu hƣớng mới trên và là một trong những phƣơng pháp đƣợc
chúng tôi quan tâm trong luận văn này.
Vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài về “Mời trong văn hoá giao
tiếp người Việt và một số vấn đề dạy hành động mời cho người nước ngoài”.
3. Mục đích, ý nghĩa đề tài
Mục đích
Tìm hiểu về đề tài này, chúng tôi có ba mục đích chính:
- Thứ nhất tìm hiểu về lời mời trong văn hoá giao tiếp ngƣời Việt – những
vấn đề về môi trƣờng văn hoá giao tiếp ảnh hƣởng và quy định đến cách mời mọc
của ngƣời Việt.
- Từ đó, chúng tôi tìm và phát hiện ra những đặc điểm riêng có trong cách
mời (cấu trúc mời) của ngƣời Việt.
- Trên cơ sở ứng dụng lý thuyết hành động ngôn từ để nghiên cứu hành động
mời, cũng có thể ứng dụng lý thuyết này vào việc dạy và học tiếng Việt nhƣ một
ngoại ngữ (lấy hành động ngôn từ làm cơ sở) cho ngƣời nƣớc ngoài nhằm nâng cao
chất lƣợng dạy và học.
Ý nghĩa
Đề tài có hai ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận: Bổ sung thêm những quan điểm, ý kiến về hành động ngôn
từ nói riêng và những ý kiến về vấn đề lý thuyết cho ngành Ngữ dụng nói chung.
- Về mặt thực tiễn:
+ Giúp ngƣời Việt Nam hiểu sâu hơn về văn hoá giao tiếp mời của dân tộc.


12
Phương pháp mô tả
Từ việc thống kê, phân loại tƣ liệu, chúng tôi sẽ tiến hành mô tả lại một cách
cụ thể và chi tiết hơn tƣ liệu mà chúng tôi có.
Phương pháp phân tích tổng hợp
Trên cơ sở thống kê và phân loại tƣ liệu chúng tôi tiếp tục tiến hành phân
tích kỹ tƣ liệu trên lý thuyết mà chúng tôi đã lấy làm cơ sở.
Từ việc phân tích nhƣ trên, chúng tôi sẽ đƣa ra bảng thống kê và nhận xét
đánh giá của mình.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần MỞ ĐẦU và KẾT LUẬN, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý thuyết làm cơ sở lý luận
Chƣơng 2: Các kiểu mời trong giao tiếp ngƣời Việt
Chƣơng 3: Một số vấn đề về dạy hành động mời cho ngƣời nƣớc ngoài
Mỗi chƣơng đƣợc chia thành các mục và các tiểu mục khác nhau.
trình tƣơng tác giữa hai hay một số ngƣời bằng ngôn ngữ. Ở nghiên cứu này, chúng
tôi chỉ đi tìm hiểu về một hành động ngôn ngữ – hành động mời, vậy nên chúng tôi
chỉ quan tâm đến vấn đề giao tiếp ngôn ngữ – giao tiếp bằng lời (trong sự phân biệt
với giao tiếp phi ngôn ngữ – phi lời).
Theo những cách hiểu về giao tiếp nhƣ trên thì một cuộc giao tiếp bao gồm
các nhân tố: nhân vật giao tiếp, thực tế được nói đến, hoàn cảnh giao tiếp, hệ thống
tín hiệu được sử dụng làm công cụ.
Chúng tôi xin trích dẫn lƣợc đồ tổng hợp các yếu tố và các chức năng trong
giao tiếp của Jakobson mà chúng tôi cho là đầy đủ nhất:
Ngữ cảnh
Chức năng quy chiếu
Ngƣời phát Thông điệp Ngƣời nhận
Chức năng biểu cảm Chức năng thi học Chức năng tác động

Tiếp xúc
Chức năng đƣa đẩy

Chức năng siêu ngôn ngữ
Nhìn vào lƣợc đồ trên chúng ta nhận thấy, để đảm bảo một cuộc giao tiếp
hiệu quả, cần tính đến rất nhiều yếu tố. Hay nói cách khác, lý thuyết về giao tiếp
quan tâm đến những vấn đề sau:
1.1.1 Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp hay còn gọi là vai giao tiếp bao gồm ngƣời phát và ngƣời
nhận. Ngƣời phát đƣợc gọi là vai ngƣời nói, ngƣời nhận đƣợc gọi là vai ngƣời
nghe; trong quá trình giao tiếp sẽ có sự luân phiên thay đổi vai trò ngƣời nói và
ngƣời nghe giữa các nhân vật giao tiếp.
Trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sẽ có những đặc điểm về
văn hóa, kinh nghiệm sống, hoàn cảnh giao tiếp, thói quen… đặc biệt là có chung

15

của mình với thái độ vui vẻ, niềm nở và thoải mái, chân thành. Việc mời ở đâu và
vào thời gian nào cũng góp phần tăng hiệu quả mời mọc.
1.1.2 Hiện thực được nói tới
Hiện thực đƣợc nói tới chính là nội dung của các thông điệp trong lƣợc đồ
mà Jakobson đã đƣa ra.
Ở cái nhìn khái quát, hiện thực chính là cuộc sống, mà cuộc sống thì muôn
hình muôn vẻ. Vậy có phải tất cả cái muôn hình muôn vẻ ấy đều có thể trở thành
nội dung của các thông điệp hay nói cách khác, có phải tất cả cái muôn hình muôn
vẻ đều trở thành nội dung của các cuộc giao tiếp? Thực tế thì, bất cứ cái gì, chuyện
gì cũng có thể là cái đƣợc nói tới. Điều quan trọng là cái gì ấy, chuyện gì ấy đƣợc
nói nhƣ thế nào – nói với ai, lúc nào và ở đâu.
Vì theo lý thuyết lịch sự thì có những nội dung, đề tài chỉ có thể đƣa ra nói
với ngƣời ngang hàng hoặc ngƣời dƣới mà không thể nói với ngƣời trên. Mặt khác,
lại có những hiện thực liên quan đến ngƣời trên, dù không muốn nhƣng ngƣời ở vị
thế dƣới vẫn phải nói tới trong cuộc thoại. Trong trƣờng hợp đó, hiện thực đƣợc nói
tới rất dễ vi phạm tính lễ phép, lịch sự. Lúc này, ngƣời ở vị thế dƣới lại phải tính
toán, cân nhắc lời ăn tiếng nói của mình sao cho lời nói vẫn biểu thị đƣợc sự lễ
phép, lịch sự hoặc nó bị vi phạm ở mức độ thấp nhất. Chẳng hạn nhƣ việc phê bình,
nhắc nhở một đồng nghiệp lớn tuổi hơn, có vị trí xã hội cao hơn so với mình thì
việc “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” là cần thiết.
Còn ở đề tài mà chúng tôi nghiên cứu, hiện thực đƣợc nói tới chính là những
nội dung liên quan đến việc mời mọc.
Khi ngƣời ta mời nhau nghĩa là ngƣời ta giao tiếp với nhau, và mời nhau về
chuyện gì, mời nhau làm gì chính là nội dung của những lời mời. Đó có thể là mời
ăn, mời uống, mời chơi, mời xem, mời mua hàng, mời tham gia chương trình, mời
tham dự hội thảo…; đơn giản hơn, có thể đó là những lời mời nhƣ: “mời anh vào
nhà”, “mời anh ngồi xuống”, “mời anh uống nước”, “mời ở lại ăn cơm”, “mời ngày
quay lại”… của chủ nhà khi có khách đến chơi.

17

vấn đề Ngữ dụng nói chung và trong nghiên cứu hành động mời nói riêng. Bởi có
những phát ngôn chỉ đƣợc coi là phát ngôn mời nếu đƣợc xuất hiện tại thời điểm
nói đó – trong tình huống giao tiếp đó; còn xuất hiện tại thời điểm nói khác trong
tình huống giao tiếp khác thì sẽ thuộc vào những loại phát ngôn khác.
Một số tác giả có sự phân tích tỉ mỉ hơn về tình huống giao tiếp và họ cho
rằng trong tình huống giao tiếp còn có các thoại trƣờng. Đó là một bộ phận nhỏ,
hiện hữu của hoàn cảnh giao tiếp, ảnh hƣởng trực tiếp đến cuộc giao tiếp. Đó là
không gian, thời gian cụ thể với những con ngƣời, sự vật… tạo thành không gian,
thời gian đó – đây cũng là một cách nhấn mạnh đến tính thời điểm của các phát
ngôn ngôn hành nói chung và phát ngôn mời nói riêng.
Trong một cuộc giao tiếp, cái động chính là ngôn ngữ – ngôn ngữ liên tục
đƣợc thay đổi do các vai giao tiếp luân phiên giao tiếp với nhau; còn cái ở trạng
thái tĩnh hơn chính là hoàn cảnh giao tiếp. Nếu chúng ta càng “chia nhỏ” hoàn cảnh
ra thì chúng ta càng nhìn thấy rõ hơn sự thay đổi của hoàn cảnh giao tiếp. Bởi nếu ở
góc độ khái quát thì rất khó nhận ra sự biến động của hoàn cảnh giao tiếp vì mỗi
cuộc giao tiếp chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, thậm chí là rất ngắn nếu
đặt nó vào hoàn cảnh giao tiếp theo nghĩa rộng là điều kiện xã hội, lịch sử, văn hóa,
phong tục tập quán, tín ngƣỡng… – những nhân tố mà sự thay đổi của nó phải tính
bằng năm, thậm chí hàng chục năm…
Tuy nhiên, nhiều khi để giải thích cho một hiện tƣợng ngôn ngữ, ngƣời ta
cần mƣợn đến rất nhiều cách hiểu của một khái niệm. Vận dụng lý thuyết này khi
nghiên cứu lời mời – hành động mời, chúng tôi cũng làm theo cách đó.
1.2 Lý thuyết lịch sự
Vấn đề lịch sự chỉ thực sự bƣớc vào lĩnh vực của Ngôn ngữ học một cách
chính thức khi ngành Ngữ dụng học ra đời. Giờ đây, nó trở thành cái không thể
thiếu để góp phần giải thích, phân tích một cách thấu đáo các hành động ngôn ngữ.
Lịch sự nhƣ một cái thang để đánh giá các hành vi ứng xử của con ngƣời. Soi chiếu

19
điều này vào lĩnh vực ngôn ngữ học, các hành động ngôn từ sẽ đƣợc phóng chiếu

Tất cả những con ngƣời khi đã tham gia vào giao tiếp đều có thể diện âm
tính và thể diện dƣơng tính. Một sự vi phạm nào đó làm mất thể diện âm tính thì
đồng thời cũng làm ảnh hƣởng hay mất thể diện dƣơng tính. Nhƣ vậy, giữ thể diện
là một yêu cầu có tính nguyên tắc trong giao tiếp đối với cả ngƣời nói và ngƣời
nghe.
Hành động giao tiếp mời hƣớng đến thể diện tích cực của ngƣời đƣợc mời
nhƣng đồng thời lại tiềm ẩn nguy cơ đe dọa thể diện âm tính của ngƣời mời.
1.2.2 Chiến lược lịch sự
“Chiến lược lịch sự” trong giao tiếp, hiểu một cách đơn giản là “không làm
mất lòng” nhau, là việc “lựa lời mà nói” để “cho vừa lòng nhau”. Sử dụng thuật
ngữ ngôn ngữ học, đó là phải biết cách “giữ thể diện” và tránh “đe dọa thể diện”
của ngƣời tham gia giao tiếp. Biết cách để “giữ thể diện” và tránh “đe dọa thể diện”
chính là biết về các “chiến lược lịch sự” trong giao tiếp.
Chiến lược lịch sự dương tính (phép lịch sự tích cực): Chiến lƣợc này hƣớng
đến thể diện tích cực của ngƣời nghe. Đó là chiến lƣợc giao tiếp làm cho ngƣời
nghe vui lòng, thể hiện lòng ngƣỡng mộ, tình tƣơng thân tƣơng ái, sự chia sẻ, sự
quan tâm và sự đền đáp của ngƣời nói đối với ngƣời nghe. Chiến lƣợc này hƣớng
ngƣời nói và ngƣời nghe đến mục đích chung.
Chiến lược lịch sự âm tính (phép lịch sự tiêu cực): Chiến lƣợc này hƣớng
đến thể diện tiêu cực của ngƣời nghe. Đó là chiến lƣợc giao tiếp làm cho ngƣời
nghe không cảm thấy bị ngăn cản hay ép buộc. Nó đƣợc coi là “trái tim” của hành
động tôn trọng” [21, tr.78].
Chiến lược lịch sự gián tiếp (chiến lƣợc lịch sự tàng ẩn) là chiến lƣợc giao
tiếp mà ngƣời nói “cố tình” không nói thẳng ra mà để cho ngƣời nghe “tự hiểu” để
rồi “tự hành động”. Cách nói này làm cho ngƣời nói không phải chịu trách nhiệm

21
về lời nói của mình để làm giảm đi khả năng động chạm đến thể diện của ngƣời
nghe.
Về bản chất, “mời” là một nghi thức xã hội – một hành vi lịch sự của con

Sự xuất hiện hay thiếu vắng của từ “mời” trong các phát ngôn mời, cũng nhƣ
sự có mặt hay vắng mặt của từ xƣng hô trong các phát ngôn mời cùng những nhân
tố khác ảnh hƣởng đến nó sẽ đem lại những sắc thái ý nghĩa mời mọc khác nhau,
góp phần làm nên nét văn hóa mời riêng có của ngƣời Việt cũng nhƣ góp phần vào
sự đa dạng của bức tranh giao tiếp của ngƣời Việt.

23
Chƣơng 2
CÁC KIỂU MỜI TRONG GIAO TIẾP NGƢỜI VIỆT
“Mời” trong giao tiếp ngƣời Việt là mời trong bối cảnh giao tiếp văn hoá xã
hội Việt – trong hiện thực cuộc sống đa dạng và muôn màu muôn sắc.
Lẽ thƣờng, khi con ngƣời thực hiện bất kỳ một hành động nào cũng đều có lý
do và mục đích. “Mời” cũng vậy, đây là một hành động có chủ đích của con ngƣời,
nghĩa là không tự nhiên mà ngƣời ta đi mời nhau. Vì vậy, ngƣời ta sẽ thực hiện
hành động mời này trong những hoàn cảnh giao tiếp xã hội nhất định.
2.1 Những hoàn cảnh giao tiếp của lời mời
Hoàn cảnh giao tiếp là một trong những nhân tố của quá trình giao tiếp. Đây
là một nhân tố ngoài ngôn ngữ nhƣng lại quy định đến sự lựa chọn và sử dụng các

2.1.1 Ngữ cảnh rộng của lời mời
Ngữ cảnh rộng của lời mời, nhƣ trên đã nói là bối cảnh văn hóa xã hội mang
tính cộng đồng. Vì mang tính cộng đồng nên bất kỳ ngƣời nào sống trong cộng
đồng văn hóa xã hội ấy cũng phải tuân theo nhƣ một lẽ tất nhiên.
Dấu ấn văn hóa xã hội của một giai đoạn lịch sử nào đó đƣợc phản ánh rõ rệt
ở ngôn ngữ. Những lời mời xuất hiện trong giai đoạn 1930 – 1945 có những từ ngữ
mà đến ngày nay không còn dùng nữa nhƣ “rước”, “xin rước” (tƣơng đƣơng với từ
“mời”): “Xin rước các quan xơi rượu.” (NCH:78), “Xin rước quan về nhà nghỉ cho
đỡ nắng.” (NCH: 292), “Rước bà vào.” (TNVN: 471)… hoặc ít dùng nhƣ “xơi”,
“xơi tạm”… (tƣơng đƣơng với từ “ăn”); những từ xƣng hô nhƣ: cậu (ngƣời đàn ông
còn trẻ) “Mời cậu Tú vào xơi cháo cho nóng” (TNVN: 463); bà phó “Mời bà phó”
(TNVN: 643)… cũng không còn phù hợp với thời nay.
Những ứng xử tƣơng ứng với hoàn cảnh văn hóa xã hội đƣợc cả cộng đồng
xã hội chấp nhận trong một thời gian dài tạo thành những phong tục tập quán của
ngƣời Việt. Những phong tục ấy có thể bền vững với thời gian hoặc tồn tại trong
một thời gian dài sẽ quy định lại những ứng xử của con ngƣời với con ngƣời. Sẽ bị

25
coi là lệch chuẩn khi những ứng xử của con ngƣời với nhau vi phạm vào những
khuôn mẫu, phép tắc xã hội.
“Mời” là một nghi thức xã hội, đồng thời cũng là một kiểu ứng xử của con
ngƣời sống với nhau trong cuộc đời này. Vì mang bản chất của một nghi thức nên
lối ứng xử này – hành động này luôn đƣợc thực hiện ở cấp ứng xử trang trọng và
lịch sự và đƣợc cả cộng đồng xã hội thừa nhận và thực hiện.
Trong văn hóa Việt Nam, khi gia đình có công việc nhƣ đám cưới, đám hỏi,
ma chay, giỗ chạp…, ngƣời ta không thể không mời nhau. Dù thân hay sơ thì
ngƣời ta vẫn phải có lời với nhau. Nhỡ khi vì quá bận rộn mà quên mất không mời
ai thì họ sẽ áy náy cho đến mãi sau này.
Bình thƣờng, ứng xử giữa những ngƣời cùng làng cùng xóm đƣợc thể hiện
trong sinh hoạt thƣờng ngày, và đƣợc thể hiện ở mức độ cao hơn trong những dịp

tuổi lấy vợ lấy chồng, họ vẫn về tận quê để mời. Còn bạn bè thân thiết, ở khoảng
cách không xa lắm, ngƣời ta cũng có thể bỏ qua lệ đến tận nhà đƣa thiếp mời để
mời mà có thể mời qua điện thoại.
Nhƣng dù là chỉ mời miệng hay có thiếp mời, dù là đến tận nhà mời hay mời
qua điện thoại thì cũng không bao giờ bỏ qua đƣợc những lời mời kiểu: “Hôm này
bố mẹ tớ cho tớ đi ở riêng (nếu là con gái)/ xây dựng gia đình cho tớ (nếu là con
trai), mong bạn bớt chút thời gian để đến chung vui với gia đình tớ/ đến mừng hạnh
phúc cho tớ…”; hay “Hôm này tôi cho cháu đi ở riêng/ xây dựng gia đình cho
cháu, mời hai bác thu xếp thời gian đến dự bữa cơm thân mật với gia đình chúng
tôi”…
Những phong tục tập quán nhƣ ăn hỏi, cưới xin, giỗ chạp, mừng tân gia, lễ
đầy tháng, lễ thôi nôi… là những sinh hoạt cộng đồng trong đó không thể vắng mặt
những lời mời. Những lời mời chính là những ứng xử văn hóa của con ngƣời với
con ngƣời nói riêng và của con ngƣời đối với truyền thống dân tộc nói chung. Lời
mời càng chân thành, lịch sự càng thể hiện đƣợc tình cảm của ngƣời đi mời thì
càng dễ đƣợc chấp nhận.

27
Rõ ràng, lời mời là một nghi thức xã hội của Việt Nam, đồng thời cũng là
một hành vi giao tiếp xã hội của ngƣời Việt nên nó thuộc về văn hóa ứng xử. Đó
chính là nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của ngƣời Việt. Nhƣ vậy, những gì thuộc
về phong tục tập quán, ứng xử văn hóa của ngƣời Việt liên quan đến nghi thức này
chính là ngữ cảnh rộng bao trùm lên những phát ngôn mời.
2.1.2 Ngữ cảnh hẹp của lời mời
Ở đây, chúng tôi đề cập đến ngữ cảnh ít mang tính chất nghi thức hơn. Đó là
những lời mời xuất hiện trong những ngữ cảnh có không gian và thời gian hạn
định, nghĩa là chúng ta có thể xác định đƣợc không gian và thời gian giao tiếp với
những nhân vật giao tiếp và nội dung giao tiếp cụ thể, do đó chúng tôi dùng thuật
ngữ “tình huống giao tiếp” để gọi nó.
Trong truyện ngắn “Hai anh học trò có vợ” (Bùi Hiển) có đoạn:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status