Khảo sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy tiếng Việt hiện nay - Pdf 26



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN BÍCH DIỆP
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM ĐOẠN THOẠI
TRONG MỘT SỐ SÁCH DẠY
TIẾNG VIỆT HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

1.6. Cấu trúc hội thoại 24
1.7. Ngữ pháp hội thoại 30
1.8. Tính thống nhất của cuộc thoại 32
1.9. Tiểu kết 32
Chương 2: Khảo sát đặc điểm hội thoại trong một số sách dạy Tiếng Việt
cho người nước ngoài 34
2.1. Giới thiệu khái quát về nguồn tư liệu khảo sát 34
2.2. Nội dung khảo sát đặc điểm hội thoại trong một số sách DTVCNNN 36
2.3. Tiểu kết 66
Chương III: Thiết kế bài giảng hội thoại Tiếng Việt cho người nước ngoài
và đề xuất một số bài hội thoại luyện nói theo chủ đề ở TĐCS 69
2

3.1. Dẫn nhập 69
3.2. Thiết kế bài giảng hội thoại Tiếng Việt cho người nước ngoài69
3.3. Đề xuất một số hội thoại luyện nói cho học viên ở TĐCS 82
3.4. Tiểu kết 93
PHẦN KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 102
3

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, đặc biệt là trong giai
đoạn hiện nay, khi đất nước Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức, được
tham gia vào sân chơi lớn nhất thế giới WTO. Có thể nói vị thế của Việt Nam


Trong các nghiên cứu khoa học đặc biệt là các khóa luận, luận văn của các
sinh viên, học viên cao học, số đề tài viết về sách dạy Tiếng Việt cho người nước
ngoài cũng đang dần mở rộng địa hạt của mình. Ví dụ như: Đỗ Thị Thúy Hoàn tác
giả luận văn thạc sỹ ngôn ngữ về “Khảo sát hệ thống bài luyện và bài tập trong
một số sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài ở Việt Nam từ năm 1980 đến
nay” bảo vệ năm 2008; Đinh Thị Thùy Trang tác giả luận văn thạc sỹ ngôn ngữ
học về “Trợ từ tình thái trong các giáo trình dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài
”, bảo vệ năm 2009; Nguyễn Thị Lệ Hằng viết khóa luận tốt nghiệp ngành ngôn
ngữ học khóa 2005-2009 về “Bước đầu khảo sát việc cung cấp vốn từ trong một số
giáo trình dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài” bảo vệ năm 2009 Điều đó
chứng tỏ, việc dạy và học Tiếng Việt đang dần được quan tâm nhiều hơn không
chỉ đối với các giáo viên và học viên có nhu cầu mà cả những nhà nghiên cứu
ngôn ngữ, những người làm việc trong ngành cũng ít nhiều dành cho địa hạt này
một sự lưu tâm nhất định.
Trong quá trình học Tiếng Việt, một trong những nội dung được học viên
quan tâm, thực hành và sử dụng nhiều và hiệu quả nhất đó chính là các hội thoại
trong sách. Có thể thể nói mục đích cuối cùng và cơ bản nhất đối với hầu hết học
viên nước ngoài trong quá trình học ngoại ngữ đó là giao tiếp được bằng ngoại
ngữ đó với người bản địa.
Trong nghiên cứu ngôn ngữ nói chung, việc nghiên cứu hội thoại đã được
lưu tâm xem xét ở một số bình diện, dù vậy việc khảo sát các đoạn hội thoại để
nắm bắt các đặc điểm cơ bản từ đó tiến tới chỗ giúp người sử dụng ngôn ngữ chủ
động trong việc hiểu hội thoại, sử dụng hội thoại một cách tự nhiên, xây dựng hội
thoại chuẩn mực vẫn chưa được chú ý nhiều. Luận văn của chúng tôi sẽ hướng
vào việc tìm hiểu, khảo sát các hội thoại trong các sách dạy Tiếng Việt cho người
nước ngoài. Trên cơ sở đó, chúng tôi cũng đề xuất một số cách thiết kế bài giảng
về hội thoại Tiếng Việt, đồng thời tiến hành tìm hiểu và bước đầu xây dựng một số
bài hội thoại tự nhiên, đạt chuẩn. Chính bởi vậy, chúng tôi chọn nội dung “Khảo
sát đặc điểm đoạn thoại trong một số sách dạy Tiếng Việt hiện nay” làm đối tượng

Luận văn tập trung nghiên cứu các hội thoại có trong sách đã được lựa chọn
dưới đây. Do điều kiện hạn chế nên luận văn chỉ tiến hành khảo sát tất cả các hội
thoại chính trong sách học. Còn một số hội thoại của phần bài tập và cả một số hội
thoại được trích từ đáp án bài nghe cũng như trong phần bài tập triển khai trong
sách học tạm thời chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu và hy vọng sẽ có cơ hội
nghiên cứu trong đề tài có phạm vi rộng hơn.
Bên cạnh đó trong quá trình khảo sát, luận văn cũng xem xét đến cả một số
hoạt động đi kèm với hội thoại như: bảng từ mới, tranh ảnh, một số dạng bài tập
triển khai cùng với hội thoại vv nhằm làm rõ hơn đặc điểm của hội thoại trong
sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài.
6

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Mục đích nghiên cứu
+ Vận dụng lý thuyết hội thoại nói chung và một số khái niệm cơ bản có
liên quan đến lý thuyết hội thoại vào việc xem xét, khảo sát và tìm hiểu một cách
khoa học về cấu trúc hội thoại trong sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài.
+ Cố gắng tìm ra được một số đặc điểm cơ bản nhất trong các hội thoại
trong sách dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài.
+ Thiết kế bài soạn giảng về dạy hội thoại Tiếng Việt cho người nước ngoài
và đề xuất được được một số bài hội thoại luyện nói cho học viên người nước
ngoài một cách hiệu quả.
- Để đạt được những mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện những
nhiệm vụ sau:
+ Tóm tắt những nét cơ bản nhất về lý thuyết hội thoại và một số khái niệm
có liên quan.
+ Khảo sát cụ thể toàn bộ hệ thống các hội thoại trong các sách dạy Tiếng
Việt cho người nước ngoài đã được lựa chọn.
+ Nhận diện một số đặc điểm hội thoại trong các sách đã được lựa chọn
nghiên cứu.

2. Phan Văn Giưỡng (2004), Tiếng Việt cho người nước ngoài, Tập 2, NXB
Trẻ, TPHCM
3. Nguyễn Văn Huệ (chủ biên) (2004), Tiếng Việt dành cho người nước ngoài,
Tập 1, NXB GD, TPHCM
4. Nguyễn Văn Huệ (chủ biên) (2004), Tiếng Việt dành cho người nước ngoài,
Tập 2, NXB GD, TPHCM
5. Nguyễn Văn Huệ (chủ biên) (2004), Tiếng Việt dành cho người nước ngoài,
Tập 3, NXB GD, TPHCM
6. Nguyễn Việt Hương (1996), Thực hành Tiếng Việt, NXB ĐHQG, Hà Nội
7. Nguyễn Văn Phúc (chủ biên), Đào Văn Hùng, Nguyễn Văn Chính (2004),
Tiếng Việt cho người nước ngoài, Chương trình cơ sở, NXB ĐHQG, Hà Nội
8. Đoàn Thiện Thuật(chủ biên) (2004), Thực hành Tiếng Việt Trình độ A, Tập
1, NXB Thế giới, Hà Nội
9. Đoàn Thiện Thuật (chủ biên) (2004), Thực hành Tiếng Việt Trình độ A, Tập
2, NXB Thế giới, Hà Nội
Giáo trình Tiếng Việt nâng cao:
8

1. Mai Ngọc Chừ (2005), Học Tiếng Việt qua Tiếng Anh, NXB Thế giới, Hà
Nội
2. Trịnh Đức Hiển(chủ biên), (2004), Tiếng Việt cho người nước ngoài trình độ
nâng cao, ĐHQG, Hà Nội
3. Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), (2004), Tiếng Việt dành cho người nước ngoài ,
Tập 4, NXB GD, TP HCM
4. Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), (2004), Tiếng Việt dành cho người nước ngoài ,
Tập 5, NXB GD, TP HCM
5. Nguyễn Thiện Nam (1998), Tiếng Việt nâng cao, NXB GD, Hà Nội
6. Nguyễn Anh Quế (2000), Tiếng Việt cho người nước ngoài, NXB VHTT Hà
Nội
7. Đoàn Thiện Thuật (chủ biên) (2004), Thực hành Tiếng Việt Trình độ B, NXB

Đây là chương mà chúng tôi đã thiết kế, xây dựng có vận dụng việc nghiên
cứu và tìm hiểu hệ thống lý thuyết hội thoại ở chương 1 và lĩnh hội những kết quả
khảo nghiệm thực tế cụ thể qua phần khảo sát ở chương 2. Do vậy, chúng tôi mạnh
dạn đề xuất chương này với mong muốn làm thế nào để có thể dạy hội thoại Tiếng
Việt cho học viên người nước ngoài một cách hiệu quả nhất. Đây cũng là mục đích
mà chúng tôi hướng tới khi chọn đề tài nghiên cứu “Đặc điểm đoạn thoại trong
một số sách dạy Tiếng Việt hiện nay”.
10

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát cơ sở lý thuyết hội thoại
Bản chất của quá trình giao tiếp bao giờ cũng mang tính xã hội. Điều này
được thể hiện trước hết ở chỗ con người là một thực thể xã hội. Chỉ khi con người
giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ con người mới thực sự thoát khỏi cuộc sống
mang tính bản năng động vật để trở thành con người có ý thức, con người với bản
tính xã hội. Để quá trình giao tiếp đạt được kết quả mong đợi nhất đòi hỏi nội
dung hội thoại phải đảm bảo được tính nhất quán, khoa học cũng như đảm bảo
được tất cả các mục tiêu mà một quá trình giao tiếp hiệu quả hướng tới. Bởi vậy,
hội thoại không chỉ là sản phẩm của quá trình giao tiếp mà nó còn là cơ sở để hình
thành và phát triển quá trình giao tiếp.
Một số khái niệm cơ bản dưới đây sẽ phần nào cung cấp một số nội dung về
lý thuyết hội thoại để có thể tiếp cận một cách khoa học vấn đề đặt ra :
1.1. Hội thoại là gì?
Theo Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ
biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác.
”[2, tr. 201]
Còn theo Nguyễn Thiện Giáp: “Hội thoại là phương tiện phổ biến và cơ bản
nhất để dẫn dắt công việc của con người. Giao tiếp hội thoại là hoạt động cơ bản
của ngôn ngữ. Trong giao tiếp hội thoại luôn có sự hồi đáp giữa người nói và
người nghe, chẳng những người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói

Và cuối cùng, là sự khác nhau về tính có hình thức hay không có hình thức.
Những cuộc thương nghị, hội thảo là những cuộc hội thảo mà hình thức tổ chức
khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành nghi lễ, còn những chuyện trò đời thường
không cần một hình thức tổ chức nào cả.”[2, tr. 203, 204]
1.2. Vận động hội thoại
Trong bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: trao lời, trao
đáp và tương tác.
1.2.1. Sự trao lời (allocution, allocution)
Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt
đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một
lượt lời. Chúng ta đã dùng kí hiệu SP chỉ người tham gia vào hội thoại. SP1 là vai
nói, SP2 là vai nghe. SP1, SP2 và SPn là các đối tượng hội thoại. Trao lời là vận
động mà SP1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía SP2
nhằm làm cho SP2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là dành cho SP2.
12

Trong lời trao, sự có mặt của SP1 là điều tất yếu. Sự có mặt đó thể hiện ở từ
xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình cảm, thái độ, hiểu biết, ở quan điểm của SP1 trong
nội dung của lượt lời trao.
Nói một cách tổng quát, ngay trước khi SP2 đáp lời, tức thực hiện sự trao
lời của mình, người nghe đã được đưa vào lượt lời, cùng tồn tại với ngôi thứ nhất “
tôi” trong lượt lời, thường xuyên kiểm tra và điều hành sự trao lời của SP1. Trong
hội thoại dù trong những cuộc đối thoại tùy ý, ngẫu hứng nhất, SP1 không hoàn
toàn tự do, muốn nói gì, nói theo cách nào thì nói. SP2 luôn luôn theo dõi anh ta
và SP2 sẽ có phản ứng nếu như lượt lời của SP1 có gì không phù hợp với SP2.
Chính vì vậy, phía mình, SP1 người trao lời phải lấn trước (anticipation,
anticipation) vào SP2 phải dự kiến trước, phải hình dung được SP2 về tâm lí, tình
cảm, sở thích, hiểu biết tình trạng công việc v.v trước khi nói. Không những thế,
SP1 còn phải dự đoán trước hiệu quả của lượt lời của mình, dự đoán cả cách đáp
lời của SP2 nữa. Hình ảnh tâm lí, vật lí, xã hội về SP2 càng đúng với SP2 bao

về thế cực thứ hai.
Ba vận động trao lời, trao đáp và tương tác là ba vận động đặc trưng cho
hội thoại, trong đó hai vận động đầu do từng đối tác thực hiện nhằm phối hợp với
nhau thành vận động thứ ba. Bằng vận động trao lời và trao đáp, các nhân vật hội
thoại sẽ hòa phối để thực hiện sự liên hòa phối. Đó là cốt lõi của vận động tương
tác.
1.3. Các yếu tố kèm lời và phi lời
Trong những cuộc đối thoại, ngoài việc sử dụng những yếu tố ngôn ngữ -
được hiểu theo nghĩa hẹp - bao gồm các đơn vị từ vựng và các đơn vị cú pháp,
chúng ta còn sử dụng những yếu tố kèm lời và những yếu tố phi lời.
Yếu tố kèm lời (paraverbal) là các yếu tố mặc dầu không có đoạn tính như
âm vị và âm tiết nhưng đi kèm với các yếu tố đoạn tính. Không một yếu tố đoạn
tính nào được phát âm ra mà không có yếu tố kèm lời đi theo. Những yếu tố kèm
lời gồm có: ngữ điệu, trọng âm, cường độ, độ dài và đỉnh giọng (pitch). Các yếu tố
này có vai trò biểu nghĩa, đặc biệt biểu nghĩa ngữ dụng của các yếu tố kèm lời là
hiển nhiên.
Yếu tố phi lời (non verbal) là những yếu tố không phải là những yếu tố kèm
lời được dùng trong đối thoại mặt đối mặt. Thuộc yếu tố phi lời là: cử chỉ, khoảng
không gian, tiếp xúc cơ thể, tư thế cơ thể và định hướng cơ thể, vẻ mặt, ánh mắt
(gesture, proxemics, body contact, posture and body orientation, facial expression,
gaze). Cũng được tính là tín hiệu phi lời những tín hiệu âm thanh như tiếng gõ,
tiếng kéo bàn, xô ghê, tiếng huýt sáo, tiếng còi v.v
Nói một cách tổng quát, chúng ta không thể loại bỏ các tín hiệu kèm lời và
phi lời khi giao tiếp bằng lời. Ngay cả khi chúng ta nói chuyện bằng điện thoại,
nghĩa là không đương diện với người đối thoại, không ít người vẫn “hoa chân múa
tay” với cái máy điện thoại kẹp ở cổ. Arbercrombie viết “chúng ta nói bằng các cơ
14

quan cấu âm nhưng chúng ta hội thoại với cả cơ thể chúng ta” Những sự kiện
kèm ngôn ngữ (paralinguistic) xuất hiện song song với ngôn ngữ nói, hòa lẫn vào

Nghiên cứu hội thoại có nhiệm vụ tường minh hóa các loại quy tắc hội
thoại khác nhau đó, những quy tắc làm cơ sở, đứng đằng sau sự vận hành của hội
thoại.
1.4.1. Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời
Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời gồm một hệ những điều khoản
mà Sacks và các đồng tác giả phát biểu như sau:
+ “Thứ nhất, vai nói thường xuyên thay đổi nhau (luân phiên) trong một
cuộc hội thoại. Theo điều khoản này thì một cuộc hội thoại lí tưởng là cuộc hội
thoại có sự cân bằng về lượt lời.
Điều khoản cân bằng lượt lời này cũng có tác dụng về mặt nội dung: người
nào nói quá nhiều về mình trong cuộc hội thoại - dù nói theo kiểu tự khen hay kể
khổ - cũng đều đáng bị lên án.
+ Thứ hai, mỗi lần chỉ có một người nói.
+ Thứ ba, lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài, do đó cần có
những biện pháp để nhận biết khi nào thì một lượt lời chấm dứt.
+ Thứ tư, vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưng
không bao giờ kéo dài.
+ Thứ năm, thông thường lượt lời của đối tác này chuyển tiếp cho đối tác
kia diễn ra không bị ngắt quãng quá dài, cũng không bị dẫm đạp lên nhau.
+ Thứ sáu, trật tự (nói trước, nói sau) của những người nói không cố định,
trái lại luôn luôn thay đổi. Do đó một số phương tiện được dùng để chỉ định và
phân phối lượt lời là cần thiết.”[2, tr. 226- 227]
Đằng sau sự liên hòa phối là các quy tắc luân phiên lượt lời. Phải liên hòa
phối là để cho các quy tắc luân phiên lượt lời vận hành được tốt, mà các quy tắc
luân phiên lượt lời có vận hành tốt thì cuộc hội thoại mới có kết quả.
1.4.2. Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại
Nội dung của một cuộc hội thoại được phân phối thành nội dung của các
lượt lời. Quy tắc luân phiên lượt lời có mục đích là phục vụ cho sự phát triển vấn
đề mà cuộc hội thoại chấp nhận làm nội dung. Bởi vậy, một cuộc hội thoại còn
cần đến những quy tắc điều hành nội dung của nó, đúng hơn là quy tắc điều hành

tôi cần bốn cái vít thì người đó đưa cho tôi không phải sáu, cũng không phải hai
cái vít.
+ Phương châm về chất: Tôi trông đợi một sự giúp đỡ thực sự chứ không
phải một sự giúp đỡ vớ vẩn. Nếu tôi cần đường để làm một chiếc bánh ga tô thì tôi
17

mong đợi người đó đưa cho tôi đường chứ không phải đưa cho tôi muối. Nếu tôi
cần một chiếc thìa thì tôi mong anh ta đưa tôi một chiếc thìa chứ không phải một
cái cặp chả.
+ Phương châm quan hệ: Tôi trông đợi sự giúp đỡ của người giúp tôi đúng
vào điều tôi đang cần ở thời điểm cụ thể của việc tôi đương làm. Nếu tôi đang
nhào bột làm bánh thì tôi không mong người giúp tôi đưa cho tôi cuốn sách hướng
dẫn làm bánh hoặc đưa tôi một cái dĩa để xiên thịt. (Mặc dầu cuốn sách làm bánh,
chiếc dĩa xiên thịt có thể cũng cần cho việc làm bánh nhưng không phải ở giai
đoạn nhào bột.)
1.4.2.2. Lý thuyết quan yếu
Quan yếu theo Grice là tính chất của phát ngôn xét trong quan hệ với các
phát ngôn khác, chủ yếu là với tiền ngôn trong ngôn cảnh với hướng và đích của
cuộc hội thoại. Không đối chiếu phát ngôn đang xem xét với tiền ngôn thì không
thể kết luận rằng nó có quan yếu hay không.
Khái niệm về hiệu lực đối với ngữ cảnh là cơ bản để xác định tính quan
yếu. Có thể nói, hiệu lực đối với ngữ cảnh là điều rất cần thiết của tính quan yếu
và trong những điều kiện giống nhau thì hiệu lực đối với ngữ cảnh càng cao thì
tính quan yếu của phát ngôn càng lớn. Một phát ngôn càng quan yếu với lượng tin
càng ít thì nó sẽ làm cho người nghe làm giàu thêm hoặc thay đổi càng nhiều hiểu
biết và quan niệm của anh ta.
“Theo C.K. Orecchioni, một phát ngôn có thể quan yếu về các phương diện
sau đây:
- Quan yếu về ngữ dụng: Một phát ngôn quan yếu về ngữ dụng khi nó có
những hệ quả đối với hành động, cách xử sự của những người tham gia hội thoại.

1.4.3.1. Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân
Quan hệ liên cá nhân giữa những người tham thoại cũng có tầm quan trọng
đặc biệt trong tương tác hội thoại. Đó là những nhân tố sẵn có trong cuộc tương
tác nhưng chúng nằm ngoài tương tác. Chúng liên quan tới quan hệ thân - sơ, quan
hệ vị thế xã hội, tuổi tác, quyền lực và được thể hiện khác nhau ở cộng đồng
người. Theo Nguyễn Đức Dân, quan hệ cá nhân được xem xét dưới các góc độ:
quan hệ ngang (quan hệ thân - sơ) và quan hệ dọc (quan hệ vị thế). Trong đó:
- Quan hệ ngang chỉ rõ mối quan hệ gần gũi, thân cận hay xa cách giữa
những người tham gia giao tiếp. Mối quan hệ này có thể thay đổi và điều chỉnh
trong quá trình hội thoại từ thân đến sơ hoặc ngược lại.
- Quan hệ dọc là quan hệ tôn ti trong xã hội tạo thành các vị thế trên dưới
trong giao tiếp. Quan hệ này được đánh dấu bằng yếu tố quyền lực. Quan hệ này
có tính chất tương đối và phụ thuộc vào những yếu tố khách quan như cương vị xã
hội, giới tính, tuổi tác
Có nhiều dấu hiệu thể hiện qua hệ vị thế như bằng lời, bằng cử chỉ hoặc
điệu bộ Hầu như mọi yếu tố trong hội thoại đều thể hiện quan hệ vị thế và điều
19

này được thể hiện khác nhau ở từng cộng đồng ngôn ngữ - văn hóa. Do vậy, người
tham gia giao tiếp cần hiểu và nắm bắt được những quan niệm về vị thế giữa các
dân tộc, giữa các nền văn hóa để có những hành vi ứng xử đúng đắn.
1.4.3.2. Phép lịch sự
a. Định nghĩa lịch sự
- Theo Lakoff, lịch sự là một phương thức để giảm thiểu sự xung đột diễn
ra trong diễn ngôn. Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc
tương tác được thuận lợi.
- Còn Brown và Levinson đưa ra định nghĩa về lịch sự dựa trên khái niệm
thể diện (face), đó là hình ảnh về ta - cộng đồng mà mỗi thành viên muốn mình có
được. Thể diện gồm thể diện âm tính và thể diện dương tính. Thể diện âm tính có
nghĩa là mong muốn không bị can thiệp, mong muốn được hành động tự do theo

b. Tăng tối đa tổn thất cho ta.
3. Phương châm tán thưởng
a. Giảm thiểu sự chê bai đối với người.
b. Tăng tối đa khen ngợi người.
4. Phương châm khiêm tốn
a. Giảm thiểu khen ngợi ta.
b. Tăng tối đa sự chê bai ta.
5. Phương châm tán đồng
a. Giảm thiểu sự bất đồng giữa người và ta.
b. Tăng tối đa sự đồng ý giữa người và ta.
6. Phương châm thiện cảm
a. Giảm thiểu ác cảm giữa người và ta.
b. Tăng tối đa thiện cảm giữa người và ta.
Theo Leech, những phương châm trên có tính chuyên dụng đối với những
hành vi ở lời nhất định. Mức độ lịch sự của một hành vi ở lời theo ông phụ thuộc
vào ba nhân tố. Đó là: bản chất của hành vi, hình thức ngôn từ thể hiện hành vi và
mức độ quan hệ giữa người cầu khiến và người được cầu khiến.
c. Kết luận
Có thể nói, quy tắc lịch sự chi phối quan hệ giữa thể diện của người nói và
thể diện của người nghe trong hội thoại. Phép lịch sự có hiệu lực giải thích các
phát ngôn, các cách thức nói năng và giải thích cái mà ngữ dụng học thường đề
cập tới là hàm ngôn và hành vi gián tiếp.
21

Trong hội thoại, một mặt người nói phải tự làm nổi mình lên (thể diện
dương tính), mặt khác lại phải tôn trọng thể diện của bên đối tác. Trong hội thoại,
phải tôn trọng lãnh địa của người nhưng cũng phải làm sao cho lãnh địa của mình
không bị xúc phạm.
Lịch sự là hiện tượng có tính phổ quát đối với mọi xã hội trong mọi lĩnh
vực tương tác. Không lịch sự thì cuộc sống dường như không thể chịu đựng nổi.

lượng trong diễn tiến hội thoại mà biến đổi.
1.5.1.4. Các yếu tố ngôn ngữ
Các nhân vật hội thoại còn phải thương lượng về từ ngữ được dùng, thương
lượng về ý nghĩa của chúng, về câu cú. Không phải chỉ vì trình độ ngôn ngữ của
các đối tác không đồng đều mà ý nghĩa của từ ngữ, của câu cú trong giao tiếp cũng
thay đổi, trong chừng mực nhất định, chúng còn mang ý nghĩa do cuộc hội thoại
mang lại.
1.5.1.5. Nội dung hội thoại
Các nhân vật hội thoại phải thương lượng với nhau về các vấn đề được đưa
ra trò chuyện với nhau. Trong các cuộc hội thoại thường ngày, có thể A thích đề
tài này, B thích đề tài khác, C lại thích đề tài khác nữa Lúc đó, vận động thương
lượng đề tài sẽ được đặt ra. Ngay cả khi A muốn kết thúc nhưng B, C chưa muốn,
cũng phải qua thương lượng mới có thể quyết định được việc chấm dứt hội thoại.
Như vậy, biểu hiện đầu tiên của thương lượng về nội dung cuộc hội thoại là
thương lượng về đề tài. Cần có sự phân biệt về đề tài và chủ đề. Đề tài là mảng
hiện thực được lựa chọn để đề cập đến trong hội thoại. Chủ đề là chiều hướng phát
triển của đề tài đó. Chủ đề sẽ quyết định đích của hội thoại. Dẫn nhập đề tài và xác
lập chủ đề là bộ phận cần nghiên cứu trong hội thoại. Trong quá trình hội thoại
kéo dài, không phải cứ hết một đề tài diễn ngôn là cuộc hội thoại kết thúc. Trong
quá trình hội thoại có thể có sự thay đổi đề tài hay lảng tránh đề tài. Có khá nhiều
cuộc hội thoại trong đó, đề tài chính lúc ẩn, lúc hiện, lúc bị lãng quên, lúc được
phục hồi trở lại. Những biến hóa đó của đề tài diễn ngôn cũng phải qua thương
lượng mới có được.
Nói tóm lại, về mặt nội dung, trong một cuộc hội thoại, các đối tác vừa
trình bày tư tưởng, quan điểm của mình, vừa tiến hành thương lượng với đối tác để
mong có được sự nhất trí của đối phương.
1.5.2. Phương thức thương lượng
Việc thương lượng sẽ diễn ra tùy theo các yếu tố sau:
1.5.2.1. Thời gian thương lượng
23


Thành công
Thất bại

Thỏa thuận
Tự nguyện liên kết

Mỗi người giữ vững
lập trường riêng

gồm có bốn vấn đề là:
+ Đơn vị hội thoại (cụ thể là các lượt lời)
+ Cặp kế cận.
+ Cấu trúc được ưa thích.
+ Cặp chêm xen.
1.6.2. Cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tích diễn ngôn ở
Anh
Đây được xem là nền tảng của lý thuyết phân tích diễn ngôn. Theo quan điểm
của trường phái này, các cuộc hội thoại có cấu trúc năm bậc như sau:

Trích đoạn Ngữ pháp hội thoại Giới thiệu khái quát về nguồn tư liệu khảo sát
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status