Khảo sát đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế của trung quốc - Pdf 96

Khảo sát đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật
trong lĩnh vực kinh tế của Trung Quốc

Lê Tuệ Nhã

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Ngôn ngữ học
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60.22.01
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Việt Thanh
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về văn bản quản lý, quy phạm pháp luật trong
lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc. Đặc trưng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) trong
lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc từ góc độ cấu trúc tổng thể. Đặc trưng ngôn ngữ VBQPPL
trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc từ góc độ cấu trúc nội tại.So sánh sự tương đồng và
khác biệt giữa VBQPPL của tiếng Trung và tiếng Việt trong lĩnh vực kinh tế.

Keywords. Văn bản quy phạm; Ngôn ngữ học; Trung Quốc
Content.
PHẦN MỞ ĐẦU
Xây dựng một xã hội ổn định hài hoà và phát triển mạnh về kinh tế được đảm bảo
dựa trên cơ sở pháp luật. Để pháp luật đi vào cuộc sống, làm kim chỉ nam cho hành vi
của con người đỏi hỏi ý thức pháp luật phải được nâng cao. Với tinh thần chủ động, Nhà
nước phải giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng và kiện toàn hệ thống pháp luật nói
chung, củng cố và hoàn thiện ngành Luật kinh tế nói riêng để có đủ khả năng thúc đẩy,
định hướng cho sự phát triển kinh tế, tăng cường pháp chế trong các hoạt động kinh tế.
Các tổ chức, cá nhân cần hiểu biết pháp luật, tích cực sử dụng và sử dụng có hiệu quả
pháp luật qua phương tiện văn bản quy phạm pháp luật vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh theo đúng tinh thần sống, làm việc theo ngành Luật kinh tế.
Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức của pháp luật, do cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự
chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đây là sự


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN
1.1 Văn bản
Có thể coi văn bản là chuỗi ký hiệu ngôn ngữ thuộc một hệ thống nào đó, bao gồm
ít nhất từ hai câu trở lên, tạo thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn và
được cấu tạo tuân theo đặc trưng của một phong cách chức năng nhất định, tức hoàn
chỉnh cả về hình thức lẫn nội dung.
Hiện nay, tồn tại nhiều loại văn bản trong đời sống xã hội mà được sản sinh ra với
nội dung và hình thức khác nhau. Mỗi loại văn bản đều nhằm mục đích riêng của chủ thể
tạo văn bản và đảm nhận chức năng nhất định. Trong đó chúng tôi sẽ khảo sát loại văn
bản điển hình có chức năng như tính pháp lí, tính quản lý điều hành, cụ thể là văn bản
quy phạm pháp luật thuộc văn bản quản lí nhà nước.

1.2 Văn bản quản lý nhà nƣớc
Là một thể loại văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật và các quan hệ pháp luật
tồn tại trong xã hội với chức năng thông tin, pháp lí và quản lí điều hành, trong việc vận
dụng các quy phạm pháp luật vào đời sống thực tiễn cũng như việc giải quyết các nhiệm
vụ có tính bắt buộc theo quy định của pháp luật. Nội dung trong văn bản chính là những
phát ngôn chính thức của cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội. Vì thế, loại
văn bản này là cơ sở pháp lý mang tính chuẩn mực cho hoạt động của mọi cá nhân, đơn
vị, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội.

1.3 Văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật là một bộ phận trong hệ thống văn bản quản lý nhà
nước, là biểu hiện hoặc chứa đựng nội dung pháp luật bằng hình thức văn bản, là văn bản
pháp luật do cơ quan Nhà nước có quyền chế định quy phạm pháp luật (Cơ quan Nhà
nước thẩm quyền-国家权力机关, Cơ quan hành chính Nhà nước-国家行政机关, Cơ
quan tư pháp Nhà nước-国家司法机关) chế định, ban hành theo thủ tục, trình tự luật
định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều

lực pháp luật hoặc tuy không có hiệu lực pháp luật nhưng có ý nghĩa pháp luật. Các văn
bản này đại diện cho ý chí nhà nước, thể hiện tinh thần pháp luật nhà nước một cách
trung thành và có thể tạo ra hậu quả pháp luật nhất định.

+ Phân loại
Phạm trùm nội dung của VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc rất rộng rãi.
Dựa vào các tiêu chí khác nhau, sự phân loại cũng tương ướng khác nhau:
1. Theo quy luật khách quan của kinh tế được phản ánh
Căn cứ Cục thống kê Nhà nước ban hành “Thông tư về in phát „Quy định phân loại ba
sản nghiệp lớn‟”(Ngày 14 tháng 5 năm 2003) -
国家统计局颁布《关于印发<三大产业划分规定>的通知》(2003年5月14日) ,
VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc có thể chia thành ba sản nghiệp lớn,
khoảng 13 lĩnh vực.
2. Theo yếu tố của quan hệ pháp luật
Giáo sư Hình Tinh (刑星) cho rằng: VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc có
thể được chia thành 9 loại theo yếu tố của quan hệ pháp luật.
3. Theo giai đoạn phát triển kinh tế
Mặc dù ở Trung Quốc đã có Luật kinh tế từ rất lâu, nhưng mãi sau năm 1978, Luật
kinh tế mới được ra đời và phát triển với chức năng chính thức với là: điều chỉnh toàn bộ
quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình vận hành hoạt động kinh tế và các quy phạm
pháp luật. Những VBQPPL trong lĩnh vực tương ứng được xuất hiện lần lượt vào các giai
đoạn như: Năm 1978 – 1984, Năm 1984 – 1992 và Sau năm 1992.
CHƢƠNG 2: ĐẶC TRƢNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH
VỰC KINH TẾ Ở TRUNG QUỐC TỪ GÓC ĐỘ CẤU TRÚC TỔNG THỂ
2.1 Cấu trúc tổng thể
Cấu trúc của VBQPPL được hiểu là các loại hình thức cụ thể đối với sự tổ chức và
sắp xếp yếu tố cấu thành, tài liệu, nội dung của VBQPPL.

2.2 Đặc điểm chung của cấu trúc tổng thể VBQPPL
Do nhu cầu của thực tế và tính chuyên môn, cấu trúc tổng thể của VBQPPL có đặc

hệ, liên hệ cả về hình thức và nội dung giữa các câu trong văn bản. Về hình thức, tham
gia vào LK văn bản là những từ, cụm từ, câu. Về nội dung, tham gia vào LK văn bản là
những hành động, sự việc, sự kiện đã, đang, sẽ diễn ra trong thế giới khách quan. LK
hình thức biểu hiện LK nội dung và LK nội dung được thể hiện thông qua LK hình thức.
Trong đó, LK nội dung lại được xem xét dưới hai bình diện là: LK chủ đề và LK logic.
2.2.2.2 Liên kết trong VBQPPL của lĩnh vực kinh tế Trung Quốc
Tìm hiểu VBQPPL của lĩnh vực kinh tế Trung Quốc cho thấy, có khá nhiều phương
tiện liên kết được sử dụng như: phép lặp từ vựng, lặp ngữ pháp, phép tỉnh lược mạnh,
phép nối, phép tuyến tính, phép thế đại từ. Song do bị quy định bởi yêu cầu tạo ra tính
chất đặc biệt đó là tính chặt chẽ, minh xác… nên một số phương tiên LK được sử dụng
nổi trội hơn hẳn.
Phần này chúng tôi khảo sát hai phương tiện LK đặc trưng được sử dụng chủ yếu
trong VBQPPL của lĩnh vực kinh tế Trung Quốc là phép lặp từ vựng, lặp ngữ pháp, phép
thế đại từ với vai trò LK chủ đề của văn bản và phép tuyến tính với vai trò tạo trật tự
logic chặt chẽ về nội dung trong văn bản.
2.2.3 Hình thức cấu trúc
Vấn đề về cấu trúc của văn bản có thể đa dạng và phức tạp khác nhau, có nhiều
cách nhìn nhận về vấn đề này khác nhau song về cơ bản đều có cái khuôn cứng của
VBQPPL có thể được thể hiện dưới hình thức tương ứng sau:
- Phần mở đầu: Lời nói đầu hoặc Căn cứ ban hành đảm bảo các nội dung.
- Phần nội dung: Nội dung chính.
- Phần kết: Điều khoản thi hành.
Không phải VBQPPL nào cũng yêu cầu phải đảm bảo đầy đủ các phần như mô hình
trên. Tùy vào văn bản đó thuộc kiểu loại nào thì sẽ có những yếu tố phù hợp cho loại văn
bản đó. Tuy nhiên, với các phần được thể hiện trong VBQPPL thì đó là việc triển khai
những quy định, quy phạm pháp luật dưới dạng như “chương”, “tiết”, “điều”, “khoản” rất
ngắn gọn, cụ thể, không diễn giải hay giải thích nội dung mà chỉ nêu ra những thông tin
cần.
2.3 Cấu trúc thể thức của những kiểu loại VBQPPL chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế ở
Trung Quốc

3.1.1 Tình thái
Phương tiện tình thái tương đối đa dạng và các kiểu loại ý nghĩa tình thái do chúng
biểu hiện cũng thuộc nhiều loại khác nhau. Kiểu động từ tình thái chức phận với ba loại ý
nghĩa chính là: sự bắt buộc, sự cấm đoán và sự cho phép được sử dụng chủ yếu để tạo lập
quyền và nghĩa vụ trong VBQPPL của lĩnh vực kinh tế.
Bắt buộc: “phải” (“应当”), “phải” (“须/必须”), “có nghĩa vụ”
(“有义务/有……的义务), “có/chịu trách nhiệm” (有责任/承担……的责任).
Cấm doán: “cấm” (“禁止”), “không được” (“不得”).
Cho phép: “có quyền” (“有权”), “được/có thể” (“可以”).
Để thực hiện chức năng cơ bản của quy phạm pháp luật là điều tiết các quan hệ xã
hội, các VBQPPL phải xác lập các quyền và nghĩa vụ cho đối tượng điều tiết. Thực chất
đó là việc nói ra những gì phải làm (nghĩa vụ), được làm hoặc có thể làm (quyền), không
được làm (cấm đoán) trong các trường hợp cụ thể. Áp dụng những phương tiên động từ
tình thái mà thể hiện phong cách ngôn ngữ VBQPPL một cách chính xác, ngắn gọn, đơn
giản, dễ hiểu, nghiêm túc và trang trọng có vai trò hết sức quan trọng. Việc sử dụng các
động từ ngữ vi có ý nghĩa cấm đoán. Các câu tồn tại dưới dạng mệnh lệnh, thể hiện tính
quyền uy của phía ban hành VBQPPL, và tính bắt buộc phải tuân thủ một cách nghiêm
túc của người dân bình thường (hoặc phía đối tác). Đây cũng là tiêu chí nội hàm để đảm
bảo tính quyền uy của các quy phạm pháp luật.
3.1.2 Một số cấu trúc nội tại đặc thù
Nhìn về góc độ “màu sắc” ngôn ngữ, so với ngôn ngữ văn học có màu sắc sặc sở,
thì ngôn ngữ VBQPPL chỉ là màu đen trắng. Theo tác phẩm nổi tiếng ngôn ngữ học
“Khái luận tu từ học” -《修辞学发凡》, phong cách ngôn ngữ VBQPPL thuộc về phạm
trùm tu từ tiêu cực. [50.55] Nó cứ chuyển đạt tư tưởng lập pháp khách quan không chứa
đựng những cảm xúc hoặc đánh giá chủ quan cá nhân, cũng không tô điểm bằng thủ pháp
tu từ tích cực, lời văn đơn điệu lạnh lùng, chỉ đòi hỏi sử dụng từ ngữ súc tích và câu chặt
chẽ quy luật để tập trung thể hiện tính trang nghiêm của ngôn ngữ.
Với mục đích tích cực, pháp luật đã thiết lập phong cách ngôn ngữ được diễn đạt
mang tính nghiêm túc và trang trọng và đặc tính này được thể hiện trong ngôn ngữ
VBQPPL của lĩnh vực kinh tế qua ba hình thức cấu trúc là: xử lý (处置), đối cử (对举),

vực riêng, cũng không phải do một lĩnh vực nào đó sáng tạo ra.
3.2.1.2 Nguồn gốc
Cũng như phần trên đã giới thiệu, TN pháp luật là đại diện của khái niệm pháp luật
hoàn chỉnh. Các khái niệm này được hình thành qua thời gian lâu dài và quá trình tích
luy lắng đọng, diễn biến, loại bỏ, ngưng tụ. Trong VBQPPL, có khuynh hướng sử dụng
nhiều TN thay vì sử dụng các từ mang tính dân dả, khẩu ngữ. Sau đây là những miêu tả
cụ thể về 4 nguồn gốc của TN pháp luật: Dùng tiếp TN pháp luật mang tính kế thừa;
Sáng tạo TN pháp luật mới; Trích dẫn TN pháp luật nước ngoài; Chuyển đổi từ ngữ
thông thường xã hội.

3.2.1.3 Đặc trƣng
Sau khảo sát cho thấy, có bốn đặc trưng chủ yếu của TN pháp luật là: đơn nghĩa,
chính xác, đối nghĩa, ngắn gọn, súc tích và mang tính dân tộc.
3.2.2 Những từ loại đặc trƣng trong VBQPPL của lĩnh vực kinh tế.
Theo chức năng ngữ pháp, ngôn ngữ VBQPPL có nội dung và đối tượng diễn tả đặc
biệt, cho nên từ ngữ sử dụng rất quy luật. Chúng tôi quy nạp những đặc điểm từ loại
mang tính tiêu biểu như: danh từ mang tính chất khái quát và trừu tượng và những
phương vị danh từ(方位名词) để biểu thị thời gian hoặc phạm vi không cố định; một số
động từ tình thái thể hiện thái độ dứt khoát, chính xác của pháp luật nhà nước và động từ
“是”-“là” đóng vai trògiải thích, phán đoán hoặc hạn chế phạm vi đối với một số khái
niệm pháp luật; những phó từ được sử dụng trong VBQPPL nhằm mục đích đảm bảo tính
chính xác và nghiêm chỉnh; giới từ xuất hiện trong VBQPPL để dẫn ra đối tượng, lý do,
mục đích và phương thức; những từ nối được sử dụng trong VBQPPL phù hợp với logic
pháp lý và lời văn súc tích, nghiêm chỉnh, chặt chẽ.
3.2.3 Cấu trúc từ ngữ VBQPPL mang tính linh hoạt
Sử dụng ngôn ngữ pháp luật mang tính linh hoạt trong VBQPPL để phù hợp với
những nội dung diễn tả không được tỉ mỉ, khiến cho sự phát triển vào chiều sâu và chiều
rộng của pháp luật. Đồng thời, sử dụng ngôn ngữ pháp luật mang tính linh hoạt cũng có
thể đảm bảo tính chính xác, tính nghiêm chỉnh và tính khoa học của ngôn ngữ VBQPPL
trong lĩnh vực kinh tế.

cảm thán, nhưng trong VBQPPL của lĩnh vực kinh tế không bao giờ xuất hiện câu hỏi và
câu cảm thán, nói cách khác, chỉ có câu trần thuật được áp dụng trong đó để biểu hiện
nghiêm túc, trang trọng và quyền uy tuyệt đối của pháp luật.
Đối với ngôn ngữ VBQPPL, để thuyết minh các quy phạm pháp luật một cách chính
xác và rõ ràng thì phải sử dụng rất nhiều câu trần thuật. Vì vậy, có thể nói rằng, câu trần
thuật là loại hình câu quan trọng rất của ngôn ngữ VBQPPL. Câu trần thuật bao gồm câu
khẳng định và câu phủ định, cả hai loại câu này đều là cú pháp câu không thể thiếu được
trong ngôn ngữ VBQPPL của lĩnh vực kinh tế. Ngoài ra, trong khi thuyết minh sự vật
pháp luật cũng phải dùng đến câu trần thuật.
3.3.1.2 Câu ghép
So với câu đơn, câu ghép được sử dụng trong VBQPPL với tỷ lệ tương đối ít hơn.
Nhưng chức năng biểu nghĩa có thể bị hạn chế, vậy cũng không tránh khỏi được trường
hợp sử dụng câu ghép để miêu tả nội dung pháp luật một cách hoàn chỉnh
Câu ghép có thể chứa đựng các loại quan hệ cấu trúc như: bình đẳng(并列), tiếp
nói(顺承), lựa chọn(选择), giải thuyết(解说), mục đích(目的), điều kiện(条件), giả
thiết(假设), chuyển tiếp(转折), tăng tiến(递进).
3.3.2 Câu chủ vị và câu phi chủ vị
3.3.2.1 Câu chủ vị
Sở dĩ câu chủ vị là hình thức kết cấu câu cơ bản nhất, điển hình nhất trong tiếng
Hán hiện đại là vì nó có cấu trúc tương đối hoàn chỉnh, biểu nghĩa nghiêm chỉnh khăng
khít. Chức năng biểu nghĩa toàn diện và trong khi sử dụng không yêu cầu môi trường
ngôn ngữ đặc biệt đã tạo cho câu chủ vị thích ứng với các loại ngữ thể. Tất nhiên, ngôn
ngữ VBQPPL cũng không ngoại lệ.
Đối tượng diễn tả của VBQPPL là các loại hành vi pháp luật, cho nên những câu chủ vị
được sử dụng trong đó đa số là câu vị ngữ động từ.
Trong câu vị ngữ động từ có chia thành câu chủ ngữ thi hành và câu chủ ngữ thực
hiện. Ngôn ngữ VBQPPL thường xuyên phải trình bày hoạt động trừng phạt hoặc xử lý
hành vi pháp luật nào đó, vì vậy, ngoài những câu chủ ngữ thi hành ra, mà còn đòi hỏi sử
dụng nhiều câu chủ ngữ thực hiện.
3.3.2.2 Câu phi chủ vị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status