1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
====================== LI HUI YA
(LÊ TUỆ NHÃ)
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ
CỦA TRUNG QUỐC
(CÓ SO SÁNH VỚI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC
KINH TẾ CỦA VIỆT NAM) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ VIỆT THANH
HÀ NỘI 2012
2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 4
CHƢƠNG 4: SO SÁNH SỰ TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA TIẾNG TRUNG VÀ TIẾNG
VIỆT TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ 91
4.1 Cấu trúc tổng thể 91
4.2 Từ ngữ 95
4.3 Liên kết 100
4.4 Một số ứng dụng trong biên dịch văn bản quy phạm pháp luật 105
4.5 Tiểu kết 109
PHẦN KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 119
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xây dựng một xã hội ổn định hài hoà và phát triển mạnh về kinh tế
được đảm bảo dựa trên cơ sở pháp luật. Để pháp luật đi vào cuộc sống, làm
kim chỉ nam cho hành vi của con người đỏi hỏi ý thức pháp luật phải được
nâng cao. Với tinh thần chủ động, Nhà nước phải giữ vai trò quyết định trong
việc xây dựng và kiện toàn hệ thống pháp luật nói chung, củng cố và hoàn
thiện ngành Luật kinh tế nói riêng để có đủ khả năng thúc đẩy, định hướng
cho sự phát triển kinh tế, tăng cường pháp chế trong các hoạt động kinh tế.
Các tổ chức, cá nhân cần hiểu biết pháp luật, tích cực sử dụng và sử dụng có
hiệu quả pháp luật qua phương tiện văn bản quy phạm pháp luật vào hoạt
động sản xuất, kinh doanh theo đúng tinh thần sống, làm việc theo ngành Luật
kinh tế.
Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức của pháp luật, do cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có
các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh
liệu cho việc nghiên cứu các loại hình văn bản, đặc biệt là loại hình văn bản
quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, đồng thời làm rõ những nét tương
đồng và khác biệt cơ bản so với ngôn ngữ trong thể loại văn bản này của Việt
Nam.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật và đặc điểm văn bản quy phạm pháp
6
luật sẽ đóng góp gián tiếp vào việc xây dựng luật pháp, nghiên cứu so sánh
luật pháp, cung cấp những căn cứ khoa học và sự ủng hộ như phương pháp
và tiêu chuẩn kiểm nghiệm cho những kỹ thuật liên quan đến ngôn ngữ pháp
luật. Các kết quả của luận văn này cũng đóng góp trực tiếp vào việc dịch văn
bản quy phạm pháp luật giữa hai tiếng Trung và tiếng Việt, đồng thời góp
phần trong công tác giảng dạy ngôn ngữ chuyên ngành luật trong lĩnh vực
kinh tế và các ứng dụng khác thuộc ngôn ngữ và pháp luật.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thể loại văn bản quy phạm pháp
luật, trong đó luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp
luật của lĩnh vực kinh tế.
Văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế là một đề tài đang
được chú ý, quan tâm và nghiên cứu bởi vai trò quan trọng đặc biệt của nó
trong công việc điều hành, quản lý và quy phạm các hoạt động kinh tế thị
trường. Chủ yếu thông qua 350 văn bản của lĩnh vực kinh tế Trung Quốc
được ban hành từ năm 1992 đến năm 2011, luận văn tập trung vào nghiên
cứu một số vấn đề cơ bản như: phân loại, đặc điểm cấu trúc tổng thể và ngôn
ngữ cấu trúc nội tại trong thể loại văn bản này.
Cũng căn cứ một số công trình và tài liệu tham khảo nghiên cứu
VBQPPL của lĩnh vực kinh tế Việt Nam, luận văn cố gắng so sánh đối chiếu
8
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN
Do phạm vi nghiên cứu là văn bản pháp luật nên trong phần cơ sở lí
luận, trước hết chúng tôi sẽ đề cập đến các khái niệm như: văn bản, văn bản
quản lý nhà nước, văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời chương này cũng
giới thiệu một bức tranh chung về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của
Trung Quốc nói chung, và hệ thống thể loại văn bản này trong lĩnh vực kinh
tế nói riêng.
1.1 Văn bản
Từ “văn bản (text, 文本)” được áp dụng nhiều trong ngôn ngữ học và
có ý nghĩa rất phong phú, có thể nói văn bản là hình thái ngôn ngữ được áp
dụng trong thực tế. Nhà nghiên cứu kí hiệu(Юрий Михайлович Лотман,
1922-1993)cho rằng: Văn bản thuộc phạm trùm bề ngoài mà được biểu hiện
bằng kí hiệu nhất định. Giống như các đơn vị khác của ngôn ngữ, văn bản là
một bộ phận của hệ thống kí hiệu ngôn ngữ, đồng thời văn bản có cấu trúc nội
tại đặc thù.
Có thể coi văn bản là chuỗi ký hiệu ngôn ngữ thuộc một hệ thống nào
đó, bao gồm ít nhất từ hai câu trở lên, tạo thành một chỉnh thể mang một nội
dung ý nghĩa trọn vẹn và được cấu tạo tuân theo đặc trưng của một phong
cách chức năng nhất định, tức hoàn chỉnh cả về hình thức lẫn nội dung.
Hiện nay, tồn tại nhiều loại văn bản trong đời sống xã hội mà được sản
sinh ra với nội dung và hình thức khác nhau. Mỗi loại văn bản đều nhằm mục
đích riêng của chủ thể tạo văn bản và đảm nhận chức năng nhất định. Trong
đó chúng tôi sẽ khảo sát loại văn bản điển hình có chức năng như tính pháp lí,
tính quản lý điều hành, cụ thể là văn bản quy phạm pháp luật thuộc văn bản
triển rất mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống kinh tế, chính
trị, xã hội của đất nước cũng như của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế,
chính trị và xã hội.
Các văn bản quản lý tồn tại ở tất cả mọi nơi, mọi lĩnh vực với mục đích
quản lý xã hội, thể hiện tính pháp lý, tính mệnh lệnh, tính thông tin, chỉ huy
điều hành và tính thống nhất về hình thức và nội dung của từng kiểu loại và
phản ánh kết quả hoạt động trong các lĩnh vực quản lý. Thực tiễn cho thấy,
mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức đều dùng đến văn bản
quản lý với khối lượng lớn. Văn bản quản lý nhà nước được sử dụng trong các
hoạt động quản lý nhà nước. [32.23] Văn bản quản lý nhà nước là phương tiện
quan trọng để ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý; là hình thức để cụ
thể hoá pháp luật, thể hiện ý chí, mệnh lệnh của các cơ quan nhà nước đối với
cấp dưới; là phương tiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản
lý của nhà nước một cách thuận tiện và chính xác.
Như vậy, có thể hiểu văn bản quản lý nhà nước là những quyết định,
thông tin quản lý thành văn do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành thẩm
quyền, trình tự thủ tục, hình thức nhất định và được nhà nước đảm bảo thi
hành bằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản
lý nội bộ nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công
dân.
1.2.2 Chức năng
a. Chức năng thông tin
Để thực hiện việc điều hành, quản lý đất nước theo những chính sách
và mục tiêu đã định trước, các cấp, các ngành ít nhiều phải sử dụng đến các
loại văn bản quản lý nhà nước. Hệ thống văn bản đó chứa đựng những thông
11
tin và truyền đạt cho cấp dưới. Những cơ quan, tổ chức kinh tế - xã hội trao
đổi thông tin lẫn nhau để cùng nhau giải quyết, để duy trì mối quan hệ giữa
định trước, trên cơ sở tính toán đầy đủ những điều kiện, những nhân tố ảnh
hưởng nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Hệ thống các biện pháp đó chủ yếu
được chuyển tải và truyền đạt thông qua hệ thống văn bản quản lý. Mọi chủ
thể của xã hội, để thực hiện việc quản lý trong phạm vi đảm nhiệm của mình
đều cần phải thông qua hệ thống văn bản quản lý. Hệ thống văn bản đó thể
chế hoá các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức, lề lối làm việc, quan hệ giữa
các cấp, giữa các bộ phận trong đơn vị để tạo ra sự thống nhất trong mọi hoạt
động chung.
Vì văn bản quản lý nhà nước là phương tiện để truyền đạt các quyết
định quản lý nên việc sử dụng phương tiện này như thế nào là tuỳ thuộc vào
năng lực của người quản lý, người lãnh đạo. Qua hệ thống văn bản quản lý
nhà nước, người lãnh đạo hiểu rõ được yêu cầu, mệnh lệnh của cấp trên. Từ
đó, người lãnh đạo tiến hành yêu cầu cấp dưới thực hiện các quyết định quản
lý đã ban hành, kiểm tra hiệu lực của các loại văn bản thông qua kết quả công
tác vận dụng vào các công tác nghiệp vụ hay tổ chức sản xuất. Như vậy, hệ
thống văn bản quản lý nhà nước trong mỗi cơ quan phải quán triệt được việc
giải quyết hài hoà các mối quan hệ trong nội bộ cơ quan, quan hệ trên dưới,
cũng như các mối quan hệ khác của toàn xã hội; đồng thời thể hiện sự tác
động qua lại giữa những người lãnh đạo và những người bị lãnh đạo, giữa các
cấp, các ngành.
13
1.3 Văn bản quy phạm pháp luật
Pháp luật được soạn thảo theo quy định tuyệt đại đa số tồn tại dưới
dạng ngôn ngữ viết là chính. Nguồn của pháp luật nói chung là tất cả các
VBQPPL do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. Nguồn của luật
điều chỉnh các hoạt động cuộc sống - xã hội cũng là các văn bản quy phạm
pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh
hơn 500.000 VBQPPL liên quan đến các lĩnh vực xã hội (Hiến pháp, Dân sự,
Hình sự, Kinh tế, Hành chính, Xã hội, Quốc tế…), trong đó bao gồm cả
những văn bản đã mất hiệu lực. Sau đây là số liệu thống kê cụ thể:
Văn bản quy phạm pháp luật TQ
Chủ thể
Trung ương
Địa phương
Quốc tế
HongKong
Macao
Số lƣợng
137495
377524
5409
2475
10794
Tỷ lệ
25.76%
70.75%
1.01%
0.46%
2.02%
1.3.2 Đặc điểm
Từ khái niệm nói trên có thể thấy VBQPPL có những đặc điểm sau:
a. VBQPPL là hình thức của pháp luật.
Ở Trung Quốc chỉ có VBQPPL mới được coi là hình thức của pháp luật,
hay nói cách khác, không thừa nhận tập quán pháp và tiền lệ pháp là hình thức
của pháp luật. Mặc dù, trong thực tiễn áp dụng pháp luật những hình thức này
vẫn có giá trị tham khảo đối với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Do vậy,
16
đảm bảo tính thống nhất của pháp luật nhằm phát huy vai trò của nó trong
việc điều chỉnh các quan hệ xã hội thì yêu cầu tất yếu khách quan đặt ra là
cũng cần một hệ thống các VBQPPL để chứa đựng hệ thống quy tắc ấy. Xuất
phát từ yêu cầu khách quan ấy mà mỗi loại VBQPPL trong hệ thống VBQPPL
phải có tên gọi, nội dung và trình tự ban hành khác nhau, sự khác nhau ấy
không chỉ là yếu tố cần thiết nhằm đảm bảo tính thống nhất, tính đồng bộ của
hệ thống pháp luật. Ví dụ: cũng là VBQPPL nhưng Hiến pháp có nội dung và
trình tự ban hành khác với các văn bản Luật, Điều lệ, Quyết định… Về tên gọi,
nội dung và trình tự ban hành các VBQPPL khác nhau xuất pháp từ cơ quan
ban hành cũng như lĩnh vực, phạm vi mà văn bản ấy tác động tới.
1.3.3 Phân loại
Có nhiều tiêu chí để phân loại VBQPPL, mỗi người phân loại văn bản
đứng từ các góc độ khác nhau sẽ đưa ra tiêu chí không giống nhau. Vì thế mà
các tiêu chí phân loại rất đa dạng, như dựa vào:
1. Chế độ và chủ thể áp dụng: pháp luật trong nước, pháp luật quốc tế; pháp
luật nội địa, pháp luật đặc khu…
2. Tính chất, hiệu lực: luật căn bản – Hiến pháp, luật phổ thông (Pháp luật,
Pháp quy hành chính, Pháp quy địa phương…)
3. Cơ quan ban hành: Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, Quốc Vụ Viện,
Chính phủ nhân dân…
4. Địa điểm ban hành: tỉnh Quảng đông, khu tự trị dân tộc Choang Quảng
Tây, thành phố Bắc kinh…
5. Thời gian ban hành: năm 1995, năm 2003, năm 2008…
6. Tên loại văn bản: Điều lệ, Biện pháp, Quy định…
7. Nội dung, chủ đề: Luật dân sự, Luật hình sự, Luật thương mại…
17
Sau đây là sự phân loại cơ bản thường được sử dụng tại Trung Quốc.
任何组织或者个人扰乱社会经济秩序。”
b. Pháp luật và giải thích pháp luật (bao gồm pháp luật cơ bản và
pháp luật phi cơ bản) -
法律及法律解释(包括基本法律和非基本法律)
:
Theo quy định của Hiến pháp Trung Quốc, luật cơ bản và luật pháp là do Đại
hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc và Ủy ban Thường vụ của Đại hội Đại biểu
Nhân dân toàn quốc (全国人民代表大会和全国人民代表大会常务委员会)
chế định, chủ tịch Nhà nước ký lệnh chủ tịch (主席令) để cho phép công bố.
Về mặt hiệu lực, pháp luật thấp hơn Hiến pháp. Pháp luật là sự tổng hợp có hệ
thống theo chương, mục những quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội
quan trọng của từng lĩnh vực đòi sống xã hội. Giữa pháp luật với các luật
chuyên ngành có mối quan hệ nhất định. Ở đây pháp luật cơ bản là chỉ những
VBQPPL về hình sự, dân sự, cơ quan Nhà nước và mặt khác do Đại hội Đại
biểu Nhân dân toàn quốc chế định và sửa đổi; Pháp luật phi cơ bản là chỉ
những VBQPPL do Ủy ban Thường vụ của Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn
quốc chế định và sửa đổi.
Giải thích pháp luật là có thể do Quốc Vụ Viện (国务院), Ủy ban
quân sự trung ương (中央军事委员会), Tòa án nhân dân tối cao (最高人
民法院), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (最高人民检察院), Ủy ban
Thường vụ của Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc (全国人民代表大会常
务委员会) theo chức quyền pháp luật làm ra những giải thích có hiệu lực
pháp luật phổ biến đối với pháp luật được ứng dụng cụ thể. Giải thích pháp
luật chỉ có thể áp dụng trong 4 hình thức VBQPPL: Giải thích (解释), Quy
định (规定), Phê duyệt (批复), Quyết định (决定). 19
c. Pháp quy hành chính -
quyền của cơ quan khu tự trị. Điều lệ đơn hành được chế định theo đặc điểm
20
chính trị, kinh tế và văn hóa của dân tộc trong khu tự trị đó. Đa số điều lệ tự
trị và điều lệ đơn hành đều được ban hành bằng hình thức điều lệ, tế tắc, cũng
có một bộ phận áp dụng thể loại văn bản như quyết định, quy định v.v.
f. Luật cơ bản của đặc khu hành chính -
特别行政区基本法
: Hiện
nay, Luật cơ bản của khu vực hành chính đặc biệt cụ thể là chỉ “Luật cơ bản
của đặc khu hành chính HONGKONG nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa” -
《中华人民共和国香港特别行政区基本法》và “Luật cơ bản của đặc vực
hành chính MACAO nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa”-《中华人民共和
国澳门特别行政区基本法》. Hai đặc khu hành chính này có quyền lập pháp
riêng và có thể chế định, sữa chữa và hủy bỏ những VBQPPL kinh tế theo
Luật cơ bản nhưng không được trái với Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa.
g. Quy chương -
规章
: Các Bộ, Ủy ban Quốc Vụ Viện (国务院各部、
委员会), Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (中国人民银行), Sở kiểm toán
Nhà nước (国家审计署) và các cơ quan trực thuộc có chức năng quản lý
hành chính có thể chế định quy chương theo pháp quy hành chính, quyết định,
mệnh lệnh của pháp luật và Quốc Vụ Viện. Ví du: “Quy định quản lí đăng ký
vốn đăng ký công ty” -《公司注册资本登记管理规定》do Tổng cục quản lí
hành chính công thương nhà nước nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (中华
人民共和国国家工商行政管理总局) chế định.
địa phương
自治条例和单行条例
Điều lệ tự trị và
Điều lệ đơn hành
特别行政区基本法
Luật cơ bản của
đặc khu
hành chính
规章
Quy chương
宪法
Hiến pháp
22
loại hình văn bản này là có giá trị pháp lí cao nhất và có vị trí rất quan trọng
nhất trong hệ thống VBQPPL. Đồng thời, các VBQPPL khác bằng thể loại cụ
thể như Điều lệ, Biện pháp, Tế tắc, Quyết định, Thông tư… sẽ làm cho các
quy phạm pháp luật cụ thể hơn, chi tiết hơn, linh hoạt hơn nhằm tăng tính
năng động, sáng tạo trong quản lý, điều hành của Chính phú, các cơ quan
thẩm quyền trong lĩnh vực kinh tế.
Sau đây chúng tôi sẽ giới thiệu một số kiểu loại VBQPPL cơ bản
thường được áp dụng trong lĩnh vực kinh tế:
a. Điều lệ -
条例
: Điều lệ là hình thức cơ bản và quy chương chế độ
pháp luật cao nhất để bổ sung những khoảng trống khi lập pháp. Các sự vật và
规定
: Quy định là những yêu cầu nguyên tắc do Đảng và
cơ quan hành chính đề xuất nhằm mục đích quán triệt chính sách hoặc tiến
hành hoạt động quản lý nào đó. Quy định là thể loại văn bản được sử dụng
nhiều nhất và phạm vi rộng rãi nhất trong VBQPPL. Khác với điều lệ, một
quy định chỉ thực hiện cho một quy phạm pháp luật, nó được chế định chỉ vì
tăng cường một công việc quản lý nào đó, vậy nội dung nó rất kỹ càng và cụ
thể, có sức ràng buộc và tính thao tác rất cao. Ví dụ: “Quy định kiểm soát giá
cả của Uỷ ban phát triển và cải cách nhà nước” -《国家发展和改革委员会价
格监测规定》, “Quy định quản lý tư cách đảm nhiệm người phụ trách tài
chính của công ty bảo hiểm” -《保险公司高级管理人员任职资格管理规定》.
d. Tế tắc (Quy định chi tiết) -
细则
: Tế tắc được chế định và ban
hành nhằm mục đích bổ sung hoặc cụ thể hóa những “Điều lệ”, “Quy định”,
“Biện pháp”, có vai trò thuyết minh và chỉ đạo việc quán triệt phương châm
và chính sách, thường thường được áp dụng vào mặt bổ sung những quy định
về các tế tắc thực hiện của sự lập pháp Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc,
quá trình thao tác tinh thần văn bản của các Bộ, Ủy thuộc Quốc Vụ Viện, quá
24
trình thao tác của sự lập pháp địa phương và những văn bản quản lý mang
tính tổng quát trong nội bộ cơ quan xí nghiệp, ví dụ: “Tế tắc thực hiện Luật
thống kê nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” -《中华人民共和国统计法实
施细则》, “Tế tắc thực hiện Điều lệ quản lý công ty bảo hiểm vốn nước ngoài
nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”-《中华人民共和国外资保险公司管理
条例实施细则》.
e. Quyết định -
Thông tư được áp dung trong những trường hợp ban hành, công bố quy
chương chế độ; đảm nhiệm, bỏ miễn hoặc tuyển dụng cán bộ; thường là cơ
quan cấp trên truyền đạt yêu cầu hoặc sự kiện cần thực hiện cho cấp dưới biết.
Ví dụ: “Thông tư về văn phòng Quốc Vụ Viện thanh lý dự án đầu tư tư sản cố
định” -《国务院办公厅关于清理固定资产投资项目的通知》, “Thông tư về
Bộ tài chính, Bộ giáo dục in phát „Biện pháp quản lý học bổng Nhà nước‟” -
《财政部、教育部关于印发〈国家助学奖学金管理办法〉的通知》.
1.4 VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc
Cũng như luật pháp của các nước khác, luật pháp Trung Quốc ra đời
nhằm mục đích ổn định trật tự xã hội, để thực hiện chế độ quản lý, điều hành
Nhà nước bằng pháp luật. Ngày nay, “kinh tế” thường được dùng để chỉ hoạt
động sản xuất của cải vật chất của con người, có ảnh hưởng và tác động rất
lớn đối với cuộc sống và toàn xã hội. Quản lý kinh tế là một trong những nội
dung quản lý thuộc thẩm quyền quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước
[45.3]. Trong đó, ban hành, phổ biến và hướng dẫn thực hiện các VBQPPL có
liên quan đến kinh tế là nội dung chủ yếu quản lý Nhà nước đối với các hoạt
động kinh tế.
VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế là văn bản viết do cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền soạn thảo và ban bố theo trình tự luật định để giải thích, điều