ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM NGUYÊN NHUNG
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ VIỆT THANH
1.5 Phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với một số loại văn bản
quản lí nhà nƣớc
1.6 Tiểu kết
10
10
22
30
36
41
43
Chƣơng 2. Đặc điểm cấu trúc nội dung của văn bản quy phạm
pháp luật
2.1 Các kiểu loại văn bản quy phạm pháp luật
2.2 Đặc điểm về cấu trúc nội dung của văn bản quy phạm pháp luật
2.3 Đặc điểm cấu trúc nội dung của từng kiểu loại văn bản quy phạm
pháp luật
2.4 Tiểu kết
46
46
54
65
72 2
Chƣơng 3. Một số đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ văn bản quy
4. Quy phạm pháp luật : QPPL
5. Văn bản quy phạm pháp luật : VBQPPL
6. Văn bản quản lí nhà nƣớc : VBQLNN
7. Uỷ ban nhân dân : UBND
8. Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội : UBTHVQH 4
MỞ ĐẦU
Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) có vai trò quan trọng trong điều
hành quản lí nhà nƣớc, là cơ sở pháp lí cho tất cả hoạt động của một xã hội. Do
đó, việc xây dựng đƣợc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh sẽ tạo
cơ sở pháp lí vững chắc, nâng cao hiệu lực quản lí, bảo vệ quyền và lợi ích của
mọi công dân. Vì vậy, chất lƣợng của văn bản khi ban hành và đƣa vào thực tiễn
sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, đến sự vận
động và phát triển của xã hội. VBQPPL là hình thức cơ bản thể hiện ý chí của
giai cấp cầm quyền về mặt chính trị và kinh tế đƣợc đƣa lên thành đạo luật, là
một trong những yếu tố quan trọng cấu thành thể chế của nền hành chính nhà
nƣớc. Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật thể hiện tính quyền lực
nhà nƣớc. Bên cạnh đó, vẫn còn có những VBQPPL chƣa đạt đƣợc mục đích,
nhanh bị lỗi thời, quy định không phù hợp với thực tế, hoặc thiếu tính khả thi.
Nội dung chƣa đƣợc diễn đạt gọn gàng, dùng từ vẫn chƣa chuẩn, chƣa phổ
thông, chƣa sát với thức tiễn, chƣa xuất phát từ điều kiện của đối tƣợng điều
chỉnh để ban hành văn bản. Điều đó đã dẫn tới việc áp dụng VBQPPL vào thực
tế có nhiều cách hiểu khác nhau, hay khó nhớ, khó hiểu.
Xuất phát từ các yếu tố chi phối, tác động tới chất lƣợng của văn bản, từ
những lí do thực tiễn của văn bản, hoạt động của VBQPPL trong quản lí nhà
nƣớc, đời sống xã hội, chúng tôi tiến hành xem xét các vấn đề của hệ thống văn
tác giả nhƣ Nguyễn Thị Việt Thanh với "Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt",
Phạm Văn Tình với "Phép tỉnh lƣợc và ngữ trực thuộc tỉnh lƣợc trong tiếng
Việt", Phan Văn Hoà 2. Khuynh hƣớng nghiên cứu văn bản phục vụ giảng
dạy: cùng với nhu cầu của việc dạy và học môn làm văn ở các trƣờng phổ thông
ngày càng cao và chuyên sâu hơn, vì vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng ngôn ngữ
học văn bản vào thực tế cũng trở nên cấp thiết. Nhiều cuốn sách chuyên khảo,
giáo trình phục vụ cho việc giảng dạy và học tập ra đời và đã phát huy đƣợc tác
dụng của mình và thực sự trở thành tài liệu hữu ích cho ngƣời dạy và học. Một
số công trình của các tác giả nhƣ: Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Diệp Quang
Ban đã tập trung vào một số vấn đề quan trọng của ngôn ngữ học văn bản nhƣ
6
kết cấu, mạch lạc, liên kết để phục vụ cho công việc giảng dạy tiếng Việt ở
bậc phổ thông và trong các trƣờng sƣ phạm. 3. Khuynh hƣớng tiếp cận theo
hƣớng phân tích diễn ngôn lấy đối tƣợng là từng kiểu loại văn bản cụ thể: quan
tâm đến hƣớng nghiên cứu này có các tác giả nhƣ Lê Hùng Tiến, Nguyễn Hoà,
Hữu Đạt và một số luận văn chuyên ngành ngôn ngữ học.
Chúng ta cũng có thể hình dung sự phát triển của ngôn ngữ học văn bản ở
Việt Nam thông qua việc lựa chọn đối tƣợng nghiên cứu. Bắt đầu từ sự quan tâm
tới các hiện tƣợng liên kết với những mối quan hệ về cả hình thức lẫn ngữ nghĩa
với các yếu tố bên ngoài câu, trong đó tập trung vào việc tìm sở chỉ của các yếu
tố đòi hỏi quy chiếu ngoài câu. Dần dần, mối quan tâm mở rộng ra các đơn vị
lớn hơn câu với những đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của chúng. Đó là các
đối tƣợng khi nghiên cứu văn bản đƣợc tiếp cận theo phƣơng thức vi mô. Bên
cạnh cách tiếp cận này có cách tiếp cận khác cũng thu hút đƣợc sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu. Đó là cách tiếp cận theo phƣơng thức vĩ mô – nghiên cứu
văn bản tổng thể với những đặc điểm riêng tiêu biểu cho từng loại hình văn bản.
Với cách tiếp cận này, các văn bản tin, nghệ thuật, khoa học, hành chính đã trở
thành đối tƣợng khảo sát của không ít công trình nghiên cứu. Đó cũng là hƣớng
tiếp cận mà luận văn này sử dụng.
luận văn về các văn bản thuộc lĩnh vực cụ thể nhƣ: giáo dục, kinh tế Song
chƣa có công trình nào khảo sát một cách hệ thống các kiểu loại cụ thể của
VBQPPL.
2. Ý nghĩa của đề tài
2.1 Ý nghĩa lí luận
Các kết quả của luận văn đóng góp thêm về phƣơng diện lí luận cho
những nghiên cứu về văn bản nói chung và văn bản thuộc phong cách hành
chính – công vụ nói riêng, đặc biệt cung cấp một cái nhìn có tính tổng quát về
một kiểu loại văn bản rất phổ biến và điển hình – VBQPPL. Đồng thời, luận văn
cũng góp phần xác định các vấn đề về liên quan tới đối tƣợng của luận văn nhƣ:
khái niệm, cách phân loại, đặc điểm cấu trúc nội dung và ngôn ngữ của văn bản.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc khảo sát, phân tích, nghiên cứu đặc điểm, cấu trúc nội
dung, và các vấn đề ngôn ngữ của VBQPPL, luận văn mong muốn đóng góp vào
8
việc xây dựng văn bản, đồng thời tránh đƣợc những lỗi, những sai sót không cần
thiết về ngôn ngữ khi xây dựng, thẩm tra, thẩm định VBQPPL. Bên cạnh đó,
những phân tích, đề xuất trong luận văn sẽ góp phần vào việc chuẩn hoá công
tác xây dựng, ban hành, và áp dụng các văn bản này trong thực tế sử dụng cũng
nhƣ trong khi giảng dạy chuyên đề này.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn mô tả những cấu trúc của văn bản, đƣa ra đƣợc những cấu tạo
chung cho các văn bản thuộc hệ thống VBQPPL. Tiếp đó, mô tả đƣợc những
đặc điểm chung về mặt ngôn ngữ, những nét riêng của ngôn ngữ VBQPPL, đồng
thời, chỉ ra những tồn tại về ngôn ngữ của văn bản và đƣa ra một số những ý
kiến nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng sử dụng ngôn ngữ trong VBQPPL, và
có cách nhìn chung trong quá trình dạy và học.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Năm 1996, Luật Ban hành văn bản quy phạm phạm luật ra đời, đánh dấu
những lí thuyết có liên quan đến đề tài nhƣ: khái niệm, đặc điểm về cấu trúc nội
dung, về ngôn ngữ, tiêu chí và cách phân loại của văn bản nói chung, văn bản
thuộc phong cách hành chính – công vụ, văn bản quản lí nhà nƣớc, văn bản quy
phạm pháp luật. Bên cạnh đó, chƣơng này cũng dành một phần để phân biệt, chỉ
ra sự khác biệt giữa một số loại văn bản và những khái niệm gần với đối tƣợng
khảo sát của luận văn.
Chƣơng 2. Đặc điểm cấu trúc nội dung của văn bản quy phạm pháp luật
Chƣơng này tập trung miêu tả cấu trúc nội dung của VBQPPL nói chung
và của từng văn bản cụ thể trong hệ thống này. Mục đích của chƣơng nhằm mô
tả, so sánh sự giống và khác nhau về cấu trúc nội dung của văn bản thuộc hệ
thống VBQPPL và chỉ ra đƣợc mô hình chung cho tất cả các văn bản, mô hình
riêng cho mỗi kiểu loại văn bản riêng biệt.
Chƣơng 3. Một số đặc điểm ngôn ngữ cơ bản của văn bản quy phạm pháp
luật
Nhiệm vụ của chƣơng này là nêu những đặc điểm về ngôn ngữ trong
VBQLNN và một số đặc điểm chủ yếu về từ, câu và một số phƣơng thức liên
kết chủ yếu trong VBQPPL. 10
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Khái niệm và đặc trƣng của văn bản
1.1.1 Khái niệm về văn bản
Đã có rất nhiều khái niệm về văn bản đƣợc đƣa ra theo nhiều quan điểm
khác nhau. Song, hiện nay vẫn chƣa có một khái niệm văn bản nào đƣợc tất cả
các nhà ngôn ngữ học chấp nhận. Chúng tôi sẽ nêu ra một số quan niệm, khái
Văn bản biến đổi từ những từ đơn đến những quyển sách kéo dài vài trăm trang.
[22, 21]
Mak Halliday quan niệm văn bản là sản phẩm của ngôn bản. Ngôn bản là
một cái gì đó xảy ra, dƣới hình thức nói hoặc viết, nghe hoặc đọc. Khi tiến hành
phân tích ngôn bản thì ngƣời ta phân tích sản phẩm của quá trình ấy; và thuật
ngữ "văn bản" (text) thƣờng đƣợc cho là chỉ sản phẩm – đặc biệt là sản phẩm
trong hình thức viết văn, bởi vì đây là một vật thể có thể tri giác dễ dàng nhất.
[12, 496]. Tƣơng tự với cách nói này, Halliday còn cho rằng: Từ "văn bản" đƣợc
dùng trong ngôn ngữ học để chỉ một đoạn nào đó, đƣợc nói ra hay đƣợc viết ra,
có độ dài bất kì, tạo lập đƣợc một tổng thể hợp nhất (dẫn theo Diệp Quang Ban
[4, 38])
Một quan niệm khác về văn bản vừa có tính khái quát cao vừa có tính
hiện đại, có tầm rộng đƣợc giải thích cụ thể trong cuốn Bách khoa thƣ ngôn ngữ
và ngôn ngữ học. Văn bản: 1. Một quãng viết hay phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà
do cấu trúc, đề tài – chủ đề của nó hình thành nên một đơn vị, loại nhƣ một
truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đƣờng 2. Văn học. Trƣớc
hết đƣợc coi nhƣ một tài liệu viết, thƣờng đồng nghĩa với sách, [ ] 3. Phân tích
diễn ngôn, đôi khi đƣợc đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì đƣợc
dành cho ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn đƣợc dùng bao gồm cả văn bản. (dẫn
theo Diệp Quang Ban, trong "Văn bản và liên kết trong tiếng Việt")
12
Đó là những quan niệm về văn bản, diễn ngôn của các nhà nghiên cứu
trên thế giới. Ở Việt Nam, các quan niệm về văn bản là sự kế thừa những quan
niệm, nghiên cứu đã có trên thế giới, đồng thời phát triển trên cơ sở nghiên cứu
những đặc thù riêng của văn bản tiếng Việt.
Đinh Trọng Lạc quan niệm: Văn bản với tƣ cách là sản phẩm của hoạt
động lời nói, với tƣ cách là tác phẩm lời nói không phải là một chuỗi câu hoặc
đoạn văn đƣợc tạo lập ra một cách tuỳ tiện, mà là một thể thống nhất toàn vẹn
đƣợc xây dựng theo những quy tắc nhất định. [18, 7]
của đời sống xã hội; tổ chức ngôn ngữ và đặc điểm từ vựng, cú pháp; phƣơng
thức tu từ cùng các phƣơng tiện biểu đạt mang tính phong cách cho mỗi thể loại
văn bản; phƣơng pháp diễn đạt theo cấu trúc logic khách quan; phƣơng pháp
diễn đạt theo cấu trúc chủ đạo: chức năng thẩm mĩ.
Dựa vào các nguyên tắc và dấu hiệu trên, chúng ta sẽ có những kiểu phân
loại văn bản:
a. Theo nguyên tắc chức năng giao tiếp; tổ chức ngôn ngữ và đặc điểm từ
vựng, cú pháp; phƣơng thức tu từ thì văn bản đƣợc chia thành các loại: Văn bản
hành chính, văn bản khoa học, văn bản chính luận, văn bản nghệ thuật.
b. Xét theo chức năng thẩm mĩ thì văn bản đƣợc chia thành hai loại lớn là:
văn bản nghệ thuật và văn bản phi nghệ thuật. Mỗi kiểu loại văn bản lại đƣợc
phân chia tƣơng ứng với chức năng và đặc trƣng tổ chức ngôn từ.
c. Một quan điểm khác khi phân loại văn bản là dựa vào mô hình hay
khuôn hình của văn bản. Đinh Trọng Lạc trong cuốn "Phong cách học văn bản"
đã chia toàn bộ các văn bản ra hai nhóm lớn. Nhóm thứ nhất bao gồm những
văn bản đƣợc xây dựng theo các mô hình kiểu nghiêm ngặt đã trở thành khuôn
mẫu. Nhóm này có các văn bản thuộc phong cách hành chính (nhƣ: đơn từ,
chứng chỉ, biên bản, tài liệu pháp lí, quảng cáo, tuyên bố, chỉ dẫn ) và một số
văn bản trong văn xuôi khoa học – kĩ thuật (những lời chú giải của các bài báo)
hoặc tính chất pháp lí (những bằng phát minh sáng chế). Nhóm thứ hai là
những văn bản đƣợc xây dựng theo mô hình kiểu mềm dẻo. Mô hình kiểu mềm
dẻo lại đƣợc chia ra làm hai mô hình nhỏ là: mô hình thông dụng và tự do. Trên
cơ sở các mô hình thông dụng (vốn quy định khá nghiêm ngặt tính chất của các
thành tố của lƣợc đồ và phần nào là trình tự của chúng), ngƣời viết có thể xây
14
dựng đƣợc những văn bản văn xuôi khoa học (nhƣ: bài báo, luận văn, bản tóm
tắt luận án, bản nhận xét công trình khoa học ) và một số văn bản báo (nhƣ:
thông báo, bình luận, thiên phóng sự). Những mô hình tự do không mang tính
chất điều chỉnh mà mang tính chất chỉ hƣớng. Các văn bản đƣợc tạo ra theo mô
bản thì đó là tính tình thái và hƣớng dụng học của văn bản. Tính tình thái của
văn bản bao gồm: tình thái chủ quan và khách quan và đa phần xuất hiện
trong các văn bản văn học nghệ thuật. Tình thái khách quan thƣờng đƣợc biểu
hiện trong truyện cổ tích, truyện khoa học viễn tƣởng. Trong khi đó, tính tình
thái chủ quan biểu hiện trong những thể loại diễn tả đƣợc thái độ, quan điểm
chủ quan của tác giả đối với sự tình đƣợc nói đến nhƣ: truyện ngắn, tuỳ bút,
bút kí Hƣớng dụng học của văn bản hƣớng vào giải quyết một nhiệm vụ
giao tiếp nhất định. Có mặt trong văn bản là những câu thuộc kiểu dụng học
cụ thể, mà nội dung của những câu này đƣợc tạo nên bởi:
- Sự xác nhận sự kiện trong những giấy chứng nhận, những ghi chú, những
thông báo ngắn trên báo
- Sự hứa hẹn trong những giấy cam đoan, những quy định, những lời hứa hẹn
(trƣớc cuộc bầu cử), những lời thề (chẳng hạn của quân đội), những lời tuyên
thệ (khi nhậm chức)
- Sự thúc đẩy đi đến hành động trong những quyết định, những mệnh lệnh,
những huấn thị, những chỉ dẫn (sử dụng các loại máy móc thiết bị), những
quảng cáo. [18, 73-80]
Trong các văn bản hành chính – công vụ, báo chí – chính luận, khoa
học, hƣớng dụng học trên thể hiện rõ ràng hơn cả. Khi một văn bản đã đạt về
ý đồ, đạt tới đích thì văn bản đã kết thúc đƣợc.
2. Sự thống nhất chủ đề của văn bản thể hiện ở chủ đề và đề tài, tính
liên kết chủ đề và liên kết đề tài. Sự thống nhất chủ đề đƣợc hình thành nên từ
tính liên kết đề tài và liên kết chủ đề.
Chủ đề có thể đƣợc tách thành đề tài và chủ đề. Đề tài là sự vật, sự
việc, hiện tƣợng đƣợc nói đến trong văn bản. Chủ đề là vấn đề chủ yếu mà
ngƣời tạo văn bản muốn giải quyết trong văn bản. Khi chủ đề và đề tài trùng
nhau, hoặc không cần thiết phân biệt chủ đề và đề tài thì có thể gọi chung là
16
chủ đề – đề tài hoặc nói gọn là đề. Mỗi loại văn bản có thể đƣợc cấu tạo từ
17
bằng các phƣơng tiện liên kết hình thức, còn liên kết hình thức đƣợc dùng để
diễn đạt sự liên kết nội dung. Liên kết nội dung có hai bình diện: liên kết chủ đề
và liên kết logic. Liên kết chủ đề là sự kết nối các sự vật, hiện tƣợng đƣợc nói
đến trong câu và có hai cách để thể hiện là: duy trì chủ đề và phát triển chủ đề.
Liên kết logic là đặc trƣng trong một câu hoặc giữa câu với câu (hoặc tập hợp
câu, giữa các phần trong văn bản). Liên kết hình thức là liên kết bằng các
phƣơng tiện ngôn ngữ. Nó có các phƣơng thức nhƣ: thế, lặp, liên tƣởng, tỉnh
lƣợc
1.1.3.2 Tính khả phân
Tính khả phân của văn bản là khả năng phân chia văn bản thành các phần,
đoạn. Việc phân chia văn bản hoàn chỉnh thành các phần là do ngƣời viết muốn
chuyển từ chủ đề này sang chủ đề khác, hoặc giữa các chủ đề con hay từ các nội
dung trong một chủ đề. Tính khả phân là chức năng bố cục chung của tác phẩm,
quy mô các phần và thông tin nội dung sự kiện cũng nhƣ mục đích thực tế của
ngƣời tạo dựng văn bản. Quy mô các phần thông thƣờng nhằm làm cho ngƣời
đọc có thể tiếp nhận khối lƣợng thông tin một cách đầy đủ, hợp lí và để cho
thông tin "không bị thất thiệt".
I.R. Gaperin [9] nói tới hai cách phân chia văn bản: theo khối lƣợng thực
tế của văn bản (trong đó có tính đến khối lƣợng (hay quy mô) của bộ phận và
hƣớng chú ý của ngƣời đọc) và theo cách phân chia đƣợc tạm gọi là biến thể -
ngữ cảnh. Cả hai hình thức phân chia đều quy định lẫn nhau và đều nêu ra thông
tin nội dung – quan niệm. Nhƣng một số nhà ngôn ngữ đề xuất những hình thức
phân chia khác cho văn bản văn học nghệ thuật và những văn bản khác. Khi tiến
hành nghiên cứu sâu vào từng loại văn bản, phân chia văn bản thực tế thì sẽ gặp
những khó khăn nhất định. Vì đối với văn bản văn học nghệ thuật, sự phân đoạn
văn bản nằm trong ý đồ của tác giả, mục đích sáng tạo nghệ thuật.
Trong các văn bản khoa học, công vụ, báo chí thì sự phân đoạn dựa vào
những nguyên tắc hoàn toàn khác. Trong một văn bản không đảm nhiệm chức
năng nhận thức thẩm mĩ thì nguyên tắc chủ đạo của phân đoạn là tổ chức logic
của thuật ngữ "thông tin" đƣợc sử dụng trong những công trình viết về lí thuyết
thông tin. Việc phân tích những loại thông tin khác nhau dựa vào những văn bản
công vụ chính thức, báo chí, nghệ thuật, chính luận cho thấy thông tin mang tƣ
19
cách một phạm trù cơ bản của văn bản, chỉ thuộc về văn bản. Gaperin cho rằng
nên phân biệt thông tin: a) về nội dung – sự việc, b) về nội dung – quan niệm, c)
về nội dung tiềm văn bản.
Thông tin nội dung sự việc gồm thông báo về sự việc, sự cố, quá trình
đang diễn ra, đã diễn ra, sẽ diễn ra, trên thế giới bao quanh ta, thế giới hiện thực
hoặc tƣởng tƣợng. Thông tin nội dung sự việc, xét thực chất là tƣờng minh,
nghĩa là bao giờ cũng biểu đạt thành lời. Những đơn vị ngôn ngữ trong thông tin
này thông thƣờng đƣợc sử dụng theo nghĩa đen, nghĩa logic sự việc, nghĩa từ
vựng mà ngƣời ta gắn cho những đơn vị ấy theo kinh nghiệm xã hội định ra.
Thông tin nội dung quan niệm thông báo với bạn đọc cách hiểu của cá nhân tác
giả về quan hệ giữa những hiện tƣợng đƣợc miêu tả bởi các phƣơng tiện của
thông tin nội dung sự việc, về những liên hệ nhân quả của chúng, giá trị của
chúng trong đời sống xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá của nhân dân, kể cả quan
hệ giữa những cá nhân cụ thể ; về tác động qua lại phức tạp giữa tâm lí với nhận
thức thẩm mĩ của họ. Sự khác biệt giữa thông tin nội dung – sự việc với thông
tin nội dung – quan niệm có thể đƣợc hình dung là thông tin mang tính cách hiện
thực và thông tin mang tính cách thẩm mĩ nghệ thuật, tuy nhiên phải hiểu thông
tin mang tính cách hiện thực không những là thực tế có thật mà còn cả tƣởng
tƣợng nữa. Thông tin nội dung quan niệm - thƣờng thuộc phạm trù văn bản nghệ
thuật, mặc dù có thể tiếp nhận từ văn bản nhận thức khoa học. Đây chỉ có khác ở
chỗ là thông tin nội dung quan niệm trong văn bản khoa học bao giờ cũng đƣợc
biểu đạt khá rõ, còn trong văn bản nghệ thuật (hẳn là loại trừ giáo huấn ca) thì
đòi hỏi phải suy ngẫm mới có thể giải mã thông tin này. Thông tin nội dung tiềm
văn bản là thông tin tiềm ẩn, đƣợc rút ra từ nội dung sự việc dựa vào khả năng
của các đơn vị ngôn ngữ có thể sản sinh những nghĩa liên tƣởng và nghĩa hàm
phần thực chứng và phần hiệu quả. Văn bản (quyết định, nghị quyết, lệnh )
trên bình diện tổ chức cú pháp, là một câu phức chính phụ, thực ra là gồm một
loại câu tạo thành chỉnh thể đơn nhất. Đây là câu – văn bản. Chính hình thức
những văn kiện nhƣ thế cũng có ý nghĩa thông tin. Nó nhấn mạnh tính đẳng
nghĩa của đề ngữ và thuyết ngữ trong câu dài – văn bản. Hình thức này tạo ra
khả năng tập trung chú ý vào những phần phụ xét từ góc độ quan hệ cú pháp.
Nội dung văn bản này, về logic đƣợc phân thành một loạt mệnh đề độc lập nằm
21
trong dạng một câu, khiến phải lí giải lại tính cách của quan hệ mệnh đề - thuyết
ngữ. Ở những văn bản (hành chính – công vụ) thông tin tƣơng đối dễ giải mã,
bởi vì những mô hình vạch sẵn của văn bản thật sự giúp ta tách biệt cái chính,
cái cơ bản với cái đi kèm, cái thứ yếu. Trong những văn bản phức tạp hơn thể
hiện đặc trƣng hành chính – công vụ thì thông tin đƣợc phân bố một cách không
đồng đều tuỳ theo sự triển khai của thông báo.
1.1.3.4 Tính định hướng trong giao tiếp văn bản
Tính định hƣớng trong giao tiếp là một trong những phạm trù quan trọng
của văn bản nói chung, bởi vì khi tạo lập ra một văn bản, tác giả bao giờ cũng –
hoặc tự giác hoặc không tự giác – nhằm vào một ngƣời hoặc nhóm ngƣời đọc
nhất định, với một mục đích nhất định tác động vào đối tƣợng đó. Trong văn bản
hành chính – công vụ, tính không tự giác trong tháo tác định hƣớng đối tƣợng sẽ
không có, mà tính tự giác sẽ là chính, đƣợc đề cao hơn, ý đồ giao tiếp đƣợc cụ
thể hoá rõ ràng. Đó có thể là sự định hƣớng về tình cảm (nhƣ: yêu, ghét ), về
thông tin (nhƣ: thông báo, mệnh lệnh ) Liên quan tới định hƣớng trong giao
tiếp chính là thông tin chứa trong mỗi loại hình văn bản. Thông tin sự việc là
thông tin chủ yếu trong văn bản thuộc phong cách hành chính - công vụ. Bên
cạnh đó, thông tin quan niệm cũng xuất hiện trong loại hình văn bản hành chính
– công vụ hay văn bản để quản lí, điều hành, nhất là ở những văn bản luật, hay
văn bản thể hiện ý kiến chỉ đạo, quyền lực nhà nƣớc. Từ việc xác định loại thông
tin cần thể hiện, chuyển đạt trong văn bản sẽ giúp cho việc định hƣớng đối
nhiều biểu hiện trong cách trình bày. Trong những văn bản đƣợc tạo lập theo
những mô hình tự do (mô hình nghệ thuật và mô hình chính luận), cá tính/ phi
cá tính của văn bản đƣợc biểu đạt ở mức độ khác nhau. [18, 161]. Trong những
văn bản nghệ thuật cá tính của văn bản vốn đƣợc hiện thực hoá thông qua khả
năng biểu đạt của nguồn gốc tác giả, là có tính chất bắt buộc, bởi vì chính nó là
nhân tố hàng đầu bảo đảm sự thống nhất của văn bản nghệ thuật.
1.2 Văn bản thuộc phong cách hành chính – công vụ
Trên cơ sở quan niệm, cách phân loại văn bản đã trình bày ở các phần trên
và đối tƣợng quan tâm của luận văn, chúng tôi muốn đi sâu về những vấn đề lí
thuyết cụ thể của phong cách hành chính – công vụ. Phong cách hành chính –
công vụ cũng sẽ có những quan điểm khác nhau khi đƣợc đem ra làm đối tƣợng
23
nghiên cứu. Dƣới đây là một số quan niệm đƣợc nhiều ngƣời chấp nhận và đã
quen thuộc trong nghiên cứu phong cách chức năng tiếng Việt.
1.2.1 Các quan niệm và khái niệm về phong cách hành chính – công vụ
a. Cù Đình Tú trong cuốn "Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt"
đã nêu ra hai luận điểm để làm căn cứ phân loại phong cách tiếng Việt: luận
điểm thứ nhất là, phân chia sự xuất hiện và tồn tại của tiếng nói ra hai dạng nói
và viết; luận điểm thứ hai là, chức năng giao tiếp xã hội của ngôn ngữ. Từ hai
luận điểm này, Cù Đình Tú đã chỉ ra sự đối lập cơ bản giữa phong cách tự nhiên
khẩu ngữ và phong cách gọt giũa. Ông đã thể hiện cách phân loại của mình qua
bảng dƣới đây:
Tiếng Việt toàn dân
Phong cách
khẩu ngữ tự nhiên
Phong cách ngôn ngữ gọt giũa
Phong cách
khoa học
Phong cách
Dựa trên chức năng giao tiếp; b. Dựa trên hình thức thể hiện; c. Dựa vào phạm
vi giao tiếp. Theo Hữu Đạt, phong cách chức năng tiếng Việt có sáu loại sau:
phong cách hành chính – công vụ, phong cách khoa học, phong cách báo chí,
phong cách chính luận, phong cách văn học - nghệ thuật, phong cách khẩu ngữ
tự nhiên. Phong cách hành chính – công vụ là phong cách được sử dụng để trao
đổi những công việc hành chính sự vụ hàng ngày giữa các cơ quan hành chính
đoàn thể các cấp từ Trung ương xuống địa phương với các thành viên và bộ
phận xã hội có liên quan.
Nhƣ vậy, xuất phát từ phong cách học, phong cách chức năng, các nhà
nghiên cứu ngôn ngữ đã đƣa ra cách phân loại các văn bản theo quan điểm của
mình. Song, họ đều có một điểm chung hay có một cách nhìn khá thống nhất về
khái niệm và đặc điểm của phong cách hành chính – công vụ, hay phong cách
hành chính.
1.2.2 Đặc điểm văn bản thuộc phong cách hành chính – công vụ
1.2.2.1 Quan niệm của Đinh Trọng Lạc về phong cách hành chính
Khi nghiên cứu về phong cách chức năng, ông đã đƣa ra ba đặc điểm chủ
yếu của phong cách hành chính là tính chính xác – minh bạch, tính nghiêm túc –
khách quan, tính khuôn mẫu.
Tính chính xác – minh bạch: Trong văn bản hành chính, tính chính xác
trong câu, từ phải đi đôi với tính minh bạch trong kết cấu đoạn văn nhằm đảm
bảo tính đơn nghĩa của văn bản. Bởi vì, văn bản loại này luôn đòi hỏi chỉ cho
phép một cách hiểu, không đƣợc gây hiểu lầm, đặc biệt là đối với các diễn đạt