Công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật - Pdf 19

Học viện hành chính
khoa sau đại học
---*****---

Tiểu luận môn
Đánh giá và tổ chức sử dụng
hệ thống văn bản quản lý nhà nớc
Tên đề tài:
Công tác thẩm định
văn bản quy phạm pháp luật
Họ và tên: Bùi Thị Lan Hơng
Lớp : CH13D - Tổ 3
Hµ Néi, th¸ng 10 n¨m 2009
LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta biết, trong hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, Nhà nước Việt
Nam đã ban hành một khối lượng rất lớn các văn bản quy phạm pháp luật để điều
hành và quản lý xã hội, quản lý Nhà nước. Quản lý Nhà nước bằng pháp luật là một
nguyên tắc rất quan trọng của Hiến pháp Việt Nam - đạo luật cơ bản của Nhà nước và
đã được thực thi trong thực tế. Nguyên tắc này đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật
hoàn chỉnh, đồng thời mỗi cơ quan, tổ chức và công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành
pháp luật, không có ngoại lệ. Để chấp hành pháp luật thì mọi công dân, cán bộ phải
hiểu biết pháp luật để thực hiện. Nhưng trong thực tế thì không ai có thể nắm vững
được tất cả hệ thống pháp luật để thực hiện, cho dù công tác tuyên truyền và phổ biến
pháp luật có tiến hành tốt đến đâu. Vì vậy, công tác thẩm định văn bản trước khi ban
hành là điều hết sức quan trọng và cần thiết để văn bản đó đi vào thực tế hiệu quả,
mọi người dễ tiếp cận, dễ hiểu và thực hiện nghiêm túc.
Hơn thế nữa, cuộc sống xã hội luôn luôn phát triển, nhiều văn bản pháp luật đã
ban hành không đáp ứng kịp thời tình hình xã hội, nhiều lĩnh vực chưa được pháp luật
điều chỉnh. Nhất là khi nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu sang kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước thì việc
ban hành văn bản quy phạm pháp luật và công tác thẩm định trở nên cần thiết và cấp

thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan có thẩm quyền tiến hành
nhằm nhận xét, đánh giá về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, về tính hợp
hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của văn bản trong hệ thống pháp luật hiện
hành. Thẩm định văn bản cũng đưa ra những nhận xét về chất lượng của văn bản
thông qua việc đánh giá về nội dung và kỹ thuật soạn thảo văn bản. Đồng thời, cơ
quan tiến hành thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cũng đưa ra những ý kiến và đề
xuất biện pháp giải quyết đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau giữa các cơ
quan có liên quan trong quá trình soạn thảo văn bản để cơ quan có thẩm quyền xem
xét, quyết định.
2. Vai trò của công tác thẩm định:
Công tác thẩm định là một khâu không thể thiếu được của quy trình soạn thảo
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Mục đích của thẩm định văn bản là "thẩm
tra" và "giám định" những vấn đề cơ bản, quan trọng trực tiếp liên quan đến chất
lượng và kỹ thuật của văn bản được thẩm định. Hoạt động thẩm định là khâu cuối
cùng trước khi cơ quan, người có thẩm quyền chính thức xem xét, ban hành văn bản
(đối với văn bản nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ
tướng Chính phủ và quyết định, thông tư, chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ) hoặc trước khi Chính phủ xem xét, thông qua để trình Quốc hội (đối với
văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội) hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội (đối với văn
bản pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội) xem xét, ban hành.
3. Cơ quan thẩm định văn bản quy phạm pháp luật:
Đối với các văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội do các Bộ, cơ quan ngang Bộ được phân công chủ trì
soạn thảo, nghị quyết, nghị định của Chính phủ thì các văn bản đó được gửi đến Bộ
Tư pháp để tiến hành thẩm định khi trình Chính phủ xem xét văn bản đó.
Đối với các văn bản luật, pháp lệnh do cơ quan khác, các tổ chức, đại biểu
Quốc hội trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì Văn phòng Chính phủ gửi
đến Bộ Tư pháp để thẩm định trước khi tổng hợp, hoàn chỉnh ý kiến trình Thủ tướng
4
Chính phủ xem xét văn bản tham gia ý kiến của Chính phủ về văn bản luật, pháp lệnh

4.2.1. Về sự cần thiết ban hành văn bản: Xác định xem văn bản đã thật sự cần
thiết ban hành hay chưa là vấn đề đầu tiên phải thẩm định bởi nó ảnh hưởng đến sự
tồn tại của văn bản. Những tiêu chí được dùng để đánh giá sự cần thiết này là:
- Yêu cầu quản lý nhà nước: công tác quản lý nhà nước đã thật sự đòi hỏi phải
có văn bản để đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý chưa. Ví dụ, cần thiết ban
5
hành Nghị định của Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của Thanh tra chuyên
ngành du lịch để đáp ứng yêu cầu thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực du lịch.
- Yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoặc đối
với vấn đề mà văn bản đó điều chỉnh.
- Cũng có khi, văn bản cần được ban hành để quy định chi tiết thi hành hoặc
hướng dẫn thi hành những văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên đã ban hành. Ví dụ,
Chính phủ ban hành nghị định để quy định chi tiết thi hành luật hoặc Bộ trưởng ban
hành thông tư để hướng dẫn thi hành nghị định của Chính phủ. Văn bản thẩm định
phải thể hiện sự tán thành hoặc không tán thành về việc soạn thảo, ban hành văn bản
tại thời điểm đó với lý do hợp pháp và hợp lý. Dưới đây là một ví dụ:
4.2.2. Về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản
Xem xét đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản nghĩa là xác định văn bản
điều chỉnh đối với đối tượng nào? Phạm vi điều chỉnh của văn bản giới hạn ở những
quan hệ xã hội nào? Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng vì nó ảnh hưởng đến chất
lượng của văn bản.
Tiêu chí để xem xét đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản có phù hợp với
văn bản hay không cần dựa trên các yếu tố sau đây:
- Vấn đề, lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh;
- Hình thức văn bản được soạn thảo.
Trên cơ sở cân nhắc, đánh giá về sự rộng, hẹp, về tính đa dạng hay phức tạp
của vấn đề, lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh để kết luận đối tượng, phạm vi điều chỉnh
của văn bản đã hợp lý chưa.
4.2.3. Về sự phù hợp với đường lối, chủ trương chính sách của Đảng

với quy định của Pháp lệnh Thanh tra ngày 1/4/1990; Nghị định số 224/HĐBT ngày
30/6/1990 về tổ chức của hệ thống thanh tra nhà nước và biện pháp bảo đảm hoạt
động thanh tra; Nghị định số 191/HĐBT ngày 18/6/1991 của Hội đồng bộ trưởng ban
hành Quy chế thanh tra viên và sử dụng cộng tác viên thanh tra; Luật khiếu nại, tố cáo
ngày 1/12/1998, Luật Giao thông đường bộ ngày 29/6/2001, v.v.
Bảo đảm tính thống nhất của nội dung văn bản quy phạm pháp luật với hệ
thống pháp luật hiện hành là bảo đảm sự phù hợp của các quy định hiện hành với quy
định trong văn bản, không có tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa nội dung của
Văn bản với các quy định hiện hành. Các quy định của văn bản và các quy định trong
các văn bản hiện hành có liên quan tạo thành một thể thống nhất. Điều đó cũng có
nghĩa bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động xây dựng pháp luật.
Bảo đảm tính đồng bộ của nội dung văn bản với hệ thống pháp luật hiện hành
nghĩa là các quy định của văn bản và các quy định hiện hành có sự ăn khớp nhịp nhàng
và phù hợp với nhau, không xẩy ra tình trạng mặc dù giữa các quy định này không mâu
thuẫn, chồng chéo nhưng có sự vênh váo, không ăn khớp giữa các quy định.
4.2.5. Về tính khả thi của văn bản
Tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật được thẩm định có thể kết luận
qua việc xem xét các khía cạnh sau đây của văn bản:
Một là, nội dung các quy định của văn bản phải bảo đảm tính cụ thể, chi tiết để
tổ chức thực hiện hoặc áp dụng được trong thực tiễn;
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status