HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
*****
TIỂU LUẬN MÔN
ĐÁNH GIÁ VÀ TỔ CHỨC SỬ DỤNG
HỆ THỐNG VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Tên đề tài:
Công tác thẩm định
văn bản quy phạm pháp luật
Họ và tên : Bùi Thị Lan Hương
Lớp : CH13D - Tổ 3
Hà Nội, tháng 10 năm 2009
LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta biết, trong hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, Nhà nước Việt
Nam đó ban hành một khối lượng rất lớn các văn bản quy phạm pháp luật để điều
hành và quản lý xó hội, quản lý Nhà nước. Quản lý Nhà nước bằng pháp luật là một
nguyên tắc rất quan trọng của Hiến pháp Việt Nam - đạo luật cơ bản của Nhà nước
và đó được thực thi trong thực tế. Nguyên tắc này đũi hỏi phải cú một hệ thống phỏp
luật hoàn chỉnh, đồng thời mỗi cơ quan, tổ chức và công dân phải nghiêm chỉnh
chấp hành pháp luật, không có ngoại lệ. Để chấp hành pháp luật thỡ mọi cụng dõn,
cỏn bộ phải hiểu biết phỏp luật để thực hiện. Nhưng trong thực tế thỡ khụng ai cú
thể nắm vững được tất cả hệ thống pháp luật để thực hiện, cho dù công tác tuyên
truyền và phổ biến pháp luật có tiến hành tốt đến đâu. Vỡ vậy, cụng tỏc thẩm định
văn bản trước khi ban hành là điều hết sức quan trọng và cần thiết để văn bản đú đi
vào thực tế hiệu quả, mọi người dễ tiếp cận, dễ hiểu và thực hiện nghiờm tỳc.
Hơn thế nữa, cuộc sống xó hội luụn luụn phỏt triển, nhiều văn bản pháp luật
đó ban hành khụng đáp ứng kịp thời tỡnh hỡnh xó hội, nhiều lĩnh vực chưa được
pháp luật điều chỉnh. Nhất là khi nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan
liêu sang kinh tế thị trường theo định hướng xó hội chủ nghĩa cú sự quản lý của Nhà
nước thỡ việc ban hành văn bản quy phạm phỏp luật và cụng tỏc thẩm định trở nờn
soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan có thẩm quyền tiến
hành nhằm nhận xét, đánh giá về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, về tính
hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của văn bản trong hệ thống pháp
luật hiện hành. Thẩm định văn bản cũng đưa ra những nhận xét về chất lượng của
văn bản thông qua việc đánh giá về nội dung và kỹ thuật soạn thảo văn bản. Đồng
thời, cơ quan tiến hành thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cũng đưa ra những ý
kiến và đề xuất biện pháp giải quyết đối với những vấn đề cũn cú ý kiến khỏc nhau
giữa cỏc cơ quan có liên quan trong quá trỡnh soạn thảo văn bản để cơ quan có thẩm
quyền xem xét, quyết định.
2. Vai trũ của cụng tỏc thẩm định:
Công tác thẩm định là một khâu không thể thiếu được của quy trỡnh soạn
thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Mục đích của thẩm định văn bản là
"thẩm tra" và "giám định" những vấn đề cơ bản, quan trọng trực tiếp liên quan đến
chất lượng và kỹ thuật của văn bản được thẩm định. Hoạt động thẩm định là khâu
cuối cùng trước khi cơ quan, người có thẩm quyền chính thức xem xét, ban hành văn
bản (đối với văn bản nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của
Thủ tướng Chính phủ và quyết định, thông tư, chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ) hoặc trước khi Chính phủ xem xét, thông qua để trỡnh Quốc hội
(đối với văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội) hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội
(đối với văn bản pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội) xem xét,
ban hành.
3. Cơ quan thẩm định văn bản quy phạm pháp luật:
Đối với các văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội do các Bộ, cơ quan ngang Bộ được phân công chủ trỡ
soạn thảo, nghị quyết, nghị định của Chính phủ thỡ cỏc văn bản đó được gửi đến Bộ
Tư pháp để tiến hành thẩm định khi trỡnh Chớnh phủ xem xột văn bản đó.
Đối với các văn bản luật, pháp lệnh do cơ quan khác, các tổ chức, đại biểu
Quốc hội trỡnh Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thỡ Văn phũng Chớnh phủ
gửi đến Bộ Tư pháp để thẩm định trước khi tổng hợp, hoàn chỉnh ý kiến trỡnh Thủ
4
thống pháp luật, bảo đảm tính khả thi của văn bản, qua đó góp phần bảo đảm hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước và xó hội bằng phỏp luật.
4.2.1. Về sự cần thiết ban hành văn bản: Xác định xem văn bản đó thật sự
cần thiết ban hành hay chưa là vấn đề đầu tiên phải thẩm định bởi nó ảnh hưởng đến
sự tồn tại của văn bản. Những tiêu chí được dùng để đánh giá sự cần thiết này là:
5
- Yờu cầu quản lý nhà nước: công tác quản lý nhà nước đó thật sự đũi hỏi
phải cú văn bản để đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý chưa. Ví dụ, cần thiết
ban hành Nghị định của Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của Thanh tra
chuyên ngành du lịch để đáp ứng yêu cầu thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực du lịch.
- Yêu cầu đấu tranh phũng, chống vi phạm phỏp luật trong lĩnh vực hoặc đối
với vấn đề mà văn bản đó điều chỉnh.
- Cũng cú khi, văn bản cần được ban hành để quy định chi tiết thi hành hoặc
hướng dẫn thi hành những văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên đó ban hành. Vớ
dụ, Chớnh phủ ban hành nghị định để quy định chi tiết thi hành luật hoặc Bộ trưởng
ban hành thông tư để hướng dẫn thi hành nghị định của Chính phủ. Văn bản thẩm
định phải thể hiện sự tán thành hoặc không tán thành về việc soạn thảo, ban hành
văn bản tại thời điểm đó với lý do hợp phỏp và hợp lý. Dưới đây là một ví dụ:
4.2.2. Về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản
Xem xét đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản nghĩa là xác định văn
bản điều chỉnh đối với đối tượng nào? Phạm vi điều chỉnh của văn bản giới hạn ở
những quan hệ xó hội nào? Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng vỡ nú ảnh hưởng
đến chất lượng của văn bản.
Tiêu chí để xem xét đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản có phù hợp
với văn bản hay không cần dựa trên các yếu tố sau đây:
- Vấn đề, lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh;
- Hỡnh thức văn bản được soạn thảo.
Trên cơ sở cân nhắc, đánh giá về sự rộng, hẹp, về tính đa dạng hay phức tạp
của vấn đề, lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh để kết luận đối tượng, phạm vi điều
định Văn bản Nghị định của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh
tra chuyên ngành giao thông vận tải thỡ cần kiểm tra, xem xột nội dung của Văn bản
có phù hợp với quy định của Pháp lệnh Thanh tra ngày 1/4/1990; Nghị định số
224/HĐBT ngày 30/6/1990 về tổ chức của hệ thống thanh tra nhà nước và biện pháp
bảo đảm hoạt động thanh tra; Nghị định số 191/HĐBT ngày 18/6/1991 của Hội đồng
bộ trưởng ban hành Quy chế thanh tra viên và sử dụng cộng tác viên thanh tra; Luật
khiếu nại, tố cáo ngày 1/12/1998, Luật Giao thông đường bộ ngày 29/6/2001, v.v.
Bảo đảm tính thống nhất của nội dung văn bản quy phạm phỏp luật với hệ
thống phỏp luật hiện hành là bảo đảm sự phù hợp của các quy định hiện hành với
quy định trong văn bản, khụng cú tỡnh trạng chồng chộo, mõu thuẫn giữa nội dung
của Văn bản với các quy định hiện hành. Các quy định của văn bản và các quy định
trong các văn bản hiện hành có liên quan tạo thành một thể thống nhất. Điều đó cũng
có nghĩa bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động xây dựng pháp luật.
Bảo đảm tính đồng bộ của nội dung văn bản với hệ thống pháp luật hiện hành
nghĩa là các quy định của văn bản và các quy định hiện hành có sự ăn khớp nhịp nhàng
và phù hợp với nhau, không xẩy ra tỡnh trạng mặc dự giữa cỏc quy định này không
mâu thuẫn, chồng chéo nhưng có sự vênh váo, không ăn khớp giữa các quy định.
4.2.5. Về tính khả thi của văn bản
Tớnh khả thi của văn bản quy phạm pháp luật được thẩm định có thể kết luận
qua việc xem xét các khía cạnh sau đây của văn bản:
7
Một là, nội dung các quy định của văn bản phải bảo đảm tính cụ thể, chi tiết
để tổ chức thực hiện hoặc áp dụng được trong thực tiễn;
Hai là, sự phự hợp của nội dung văn bản với điều kiện kinh tế xó hội hiện tại,
nghĩa là nội dung cỏc quy định có thể thực hiện được trong điều kiện đời sống sinh
hoạt và ý thức xó hội mà quy phạm phỏp luật đó được áp dụng. Ví dụ, quy định xử
phạt vi phạm hành chính đối với người đi xe đạp vi phạm quy định về trật tự, an
toàn giao thông với mức phạt tiền là 10.000 đồng đối với hành vi đi xe đạp trên hè
phố, trong vườn hoa hoặc trong công viên (Điều 8 khoản 1 điểm a Nghị định số
39/NĐ-CP ngày 13/7/2001) là phù hợp với điều kiện kinh tế xó hội hiện tại.
lệnh bao giờ cũng ngắn gọn, cô đọng, dứt khoát, trong khi đó, đối với các loại văn
bản như nghị quyết của Chính phủ, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ thỡ cỏch hành
văn ít mang tính mệnh lệnh mà có thêm tính chất diễn giải, hướng dẫn trong đó.
Nội dung thẩm định, đánh giá về kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp
luật bao gồm việc nhận xét, đánh giá về kỹ thuật sắp xếp, bố cục phần, chương, mục,
điều, khoản, điểm của văn bản; đánh giá về kỹ thuật diễn đạt nội dung các quy
phạm trong văn bản, việc chuyển tải đầy đủ và toàn diện chính sách pháp lý, chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề mà văn bản điều chỉnh. Bên
cạnh đó, một nội dung đánh giá không thể thiếu là ngôn ngữ mà văn bản sử dụng để
chuyển tải nội dung các quy phạm đó bảo đảm tính "chính xác, phổ thông, cách diễn
đạt phải đơn giản, dễ hiểu" như Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đũi hỏi
hay chưa. Thêm nữa, văn bản có sử dụng thuật ngữ chuyên môn hay không. Nếu văn
bản có sử dụng thuật ngữ chuyên môn mà những thuật ngữ này cần xác định rừ về
nội dung thỡ văn bản đó cú định nghĩa trong văn bản như Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật quy định hay chưa
4.2.7. Về những vấn đề cũn cú ý kiến khỏc nhau và phương án xử lý (nếu cú)
Đây là một nội dung quan trọng của báo cáo thẩm định văn bản quy phạm
pháp luật. Đối với văn bản luật, phỏp lệnh trỡnh Chớnh phủ xem xột, thụng qua để
trỡnh Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành theo thẩm quyền và đối
với văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ thỡ được coi là ý kiến khỏc nhau nếu vấn đề thuộc nội dung văn
bản mà trong quỏ trỡnh soạn thảo hoặc lấy ý kiến cỏc Bộ, ngành hữu quan cú ý kiến
khụng thống nhất. Mặc dự cơ quan chủ trỡ soạn thảo đó tổ chức trao đổi, tham khảo
ý kiến hoặc trực tiếp làm việc với đại diện các cơ quan hữu quan về các vấn đề cũn
cú ý kiến khỏc nhau đó nhưng vẫn không đi đến thống nhất. Bởi vậy, trong Tờ trỡnh
Chớnh phủ cũng như hồ sơ gửi Bộ Tư pháp thẩm định, thỡ những vấn đề đó được
coi là những vấn đề cũn cú ý kiến khỏc nhau.
Trường hợp văn bản luật, phỏp lệnh Chính phủ đó thụng qua và chớnh thức
trỡnh Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Quốc hội ban hành theo thẩm quyền thỡ
trong Tờ trỡnh, Chớnh phủ cũng cú thể nờu những vấn đề thuộc nội dung văn bản
mục 2.1.1. Số lượng tài liệu gửi Bộ Tư pháp là 5 bộ.
1.3. Hồ sơ thẩm định đối với văn bản luật, pháp lệnh do cơ quan khác, tổ
chức, đại biểu Quốc hội soạn thảo và được Văn phũng Chớnh phủ gửi Bộ Tư pháp
để thẩm định bao gồm Công văn yêu cầu thẩm định, văn bản luật, văn bản phỏp
lệnh, Tờ trỡnh và tài liệu cú liờn quan (nếu cú).
2. Tiếp nhận hồ sơ
Văn phũng Bộ Tư pháp có trách nhiệm tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của
hồ sơ thẩm định. Khi nhận được hồ sơ gửi đến, bộ phận Văn thư của Văn phũng
phải ghi rừ số đăng ký, ngày nhận vào hồ sơ và Sổ theo dừi Cụng văn đến và chuyển
cho bộ phận Tổng hợp để kiểm tra tớnh hợp lệ, vào "Sổ theo dừi hồ sơ thẩm định"
và lập Phiếu chỉ đạo thẩm định, tham gia ý kiến trỡnh Lónh đạo Bộ cùng hồ sơ để
10
phân công thẩm định. Thời gian từ khi tiếp nhận hồ sơ đến khi trỡnh Lónh đạo Bộ
không được quá 4 giờ làm việc.
Trong trường hợp qua kiểm tra phát hiện hồ sơ thiếu một trong các tài liệu bắt
buộc núi tại mục 2.1 trên đây, thỡ Chỏnh Văn phũng Bộ thừa lệnh Bộ trưởng ký
công văn đề nghị cơ quan có Công văn yêu cầu thẩm định, tham gia ý kiến bổ sung
hồ sơ. Về nguyên tắc, Văn phũng Bộ khụng trỡnh Lónh đạo Bộ xem xét phân công
thẩm định khi hồ sơ chưa được bổ sung đầy đủ tài liệu theo quy định.
3. Phân công thẩm định
Việc phân công đơn vị thuộc Bộ Tư pháp thẩm định văn bản được thực hiện
theo nguyên tắc đơn vị quản lý, phụ trỏch lĩnh vực nào thỡ chủ trỡ thẩm định văn
bản có nội dung liên quan đến lĩnh vực đó. Trong trường hợp văn bản có nội dung
liên quan đến nhiều lĩnh vực thỡ một đơn vị chủ trỡ thẩm định và các đơn vị khác có
liên quan phối hợp thẩm định.
Lónh đạo Bộ Tư pháp phân công thẩm định trong thời hạn chậm nhất là 8 giờ
làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ thẩm định do Văn phũng trỡnh. Sau khi Lónh
đạo Bộ phân công, thư ký của Bộ trưởng hoặc chuyên viên giúp việc của Thứ trưởng
phải chuyển lại hồ sơ và Phiếu chỉ đạo thẩm định cho Văn phũng Bộ để ghi vào Sổ
theo dừi và gửi hồ sơ cùng với Phiếu chỉ đạo thẩm định cho các đơn vị được phân
hạn gửi ý kiến chậm nhất là 3 ngày, kể từ khi nhận được hồ sơ thẩm định; đối với
văn bản nói tại điểm 2.1.2. thỡ thời hạn gửi ý kiến chậm nhất là 2 ngày, kể từ khi
nhận được hồ sơ (xem các Phụ lục 12, 13, 14).
4.2. Cuộc họp thẩm định
Đối với các văn bản nói tại điểm 2.1.1. và điểm 2.1.3., Lónh đạo đơn vị được
phân công chủ trỡ thẩm định tổ chức cuộc họp thẩm định với sự tham gia của các
chuyên viên được phân công nghiên cứu chuẩn bị thẩm định. Tuỳ theo tính chất của
văn bản đang được thẩm định, lónh đạo đơn vị có thể triệu tập các chuyên viên khác
thuộc nhóm nghiên cứu hoặc toàn thể đơn vị để tham gia cuộc họp thẩm định.
Trong trường hợp có nhiều đơn vị được phân công thẩm định hoặc có các luật
gia, nhà khoa học, chuyên gia tham gia thẩm định thỡ đơn vị chủ trỡ thẩm định có
thể mời đại diện của các đơn vị phối hợp thẩm định, các luật gia, nhà khoa học và
chuyên gia tham gia cuộc họp.
Cuộc họp thẩm định được tiến hành theo trỡnh tự:
a) Lónh đạo đơn vị chủ trỡ thẩm định tuyên bố lý do cuộc họp;
b) Bỏo cỏo viờn cung cấp những thụng tin liờn quan tới văn bản, phỏt biểu ý
kiến của mỡnh về những vấn đề thuộc nội dung thẩm định;
c) Cỏc thành viờn tham dự cuộc họp thảo luận và phỏt biểu ý kiến, tập trung
vào những vấn đề thuộc nội dung thẩm định;
d) Lónh đạo đơn vị chủ trỡ thẩm định kết luận.
Báo cáo viên có trách nhiệm ghi biên bản cuộc họp thẩm định. Biên bản phải
ghi đầy đủ các ý kiến phỏt biểu tại cuộc họp và được lónh đạo đơn vị chủ trỡ thẩm
định ký. Trong trường hợp đơn vị phối hợp thẩm định có ý kiến khác với ý kiến của
đơn vị chủ trỡ thẩm định thỡ ý kiến đó cũng phải được ghi rừ trong biờn bản.
12
Đối với văn bản nói tại điểm 1.2. thỡ trong trường hợp cần thiết, thủ trưởng
đơn vị chủ trỡ tham gia ý kiến cú thể tổ chức cuộc họp với đại diện các đơn vị được
phân công phối hợp tham gia ý kiến để thảo luận những vấn đề thuộc nội dung văn
bản.
5. Tổ chức thẩm định trong trường hợp thành lập Hội đồng thẩm định
quan.
13
Văn phũng Bộ Tư pháp có trách nhiệm sao gửi quyết định thành lập Hội đồng
thẩm định cùng hồ sơ gửi thẩm định tới từng thành viên của Hội đồng.
Hội đồng thẩm định hoạt động theo nguyên tắc các thành viên Hội đồng độc
lập nghiên cứu, Hội đồng thảo luận tập thể về những vấn đề thuộc nội dung thẩm
định và ý kiến thẩm định là ý kiến được đa số thành viên Hội đồng tán thành.
5.3. Cuộc họp Hội đồng thẩm định
Cuộc họp thẩm định văn bản do Chủ tịch Hội đồng thẩm định triệu tập và chủ
toạ. Đại diện cơ quan chủ trỡ soạn thảo được mời tham dự cuộc họp thẩm định của
Hội đồng thẩm định.
Cuộc họp thẩm định được tiến hành theo trỡnh tự:
a) Chủ tịch Hội đồng thẩm định tuyên bố lý do cuộc họp;
b) Bỏo cỏo viờn cung cấp những thụng tin cú liờn quan tới văn bản và nêu
những vấn đề cũn cú ý kiến khỏc nhau;
c) Thành viên Hội đồng thảo luận, tập trung vào những vấn đề thuộc nội dung
thẩm định;
d) Hội đồng biểu quyết từng loại vấn đề được nêu trong mẫu báo cáo thẩm
định.
Trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch Hội đồng thẩm định có thể yêu cầu đại
diện cơ quan chủ trỡ soạn thảo thuyết trỡnh thờm về cỏc vấn đề thuộc nội dung văn
bản mà các thành viên Hội đồng thẩm định quan tâm.
Báo cáo viên có trách nhiệm ghi biên bản cuộc họp của Hội đồng thẩm định.
Biên bản phải ghi đầy đủ các ý kiến phỏt biểu tại cuộc họp và được Chủ tịch Hội
đồng thẩm định ký. Những ý kiến được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng có mặt
tán thành thỡ được coi là ý kiến của Hội đồng; những vấn đề chưa được Hội đồng
nhất trí cũng phải được ghi rừ trong biờn bản cuộc họp.
6. Chuẩn bị báo cáo thẩm định và nội dung báo cáo thẩm định
6.1. Đối với văn bản núi tại điểm 1.1 và điểm 1.3, trên cơ sở biên bản cuộc
họp thẩm định hoặc biên bản cuộc họp Hội đồng thẩm định, Báo cáo viờn cú trỏch
nhận được hồ sơ văn bản.
7. Ký, gửi báo cáo thẩm định và lưu giữ hồ sơ thẩm định
1. Lónh đạo Bộ Tư pháp xem xét văn bản báo cáo thẩm định và cho ý kiến
chỉ đạo về những vấn đề cần chỉnh lý. Trong trường hợp cần thiết, Lónh đạo Bộ làm
việc trực tiếp với lónh đạo, chuyên viên của đơn vị được phân công thẩm định, đơn
vị thường trực Hội đồng thẩm định.
Báo cáo thẩm định được Lónh đạo Bộ ký trong thời hạn chậm nhất là ba
ngày, kể từ khi đơn vị chủ trỡ thẩm định trỡnh; đối với văn bản luật, pháp lệnh nói
tại điểm 1.3. thỡ thời hạn Lónh đạo Bộ ký báo cáo thẩm định chậm nhất là hai ngày,
kể từ khi đơn vị chủ trỡ thẩm định trỡnh; bỏo cỏo thẩm định của Hội đồng thẩm
định được Lónh đạo Bộ ký trong thời hạn chậm nhất là năm ngày, trước ngày Chính
phủ họp.
Đối với công văn góp ý văn bản nói tại điểm 1.2, đơn vị chủ trỡ tham gia ý
kiến chỉnh lý cụng văn theo ý kiến chỉ đạo của Lónh đạo Bộ và trỡnh lại để ký trong
thời hạn chậm nhất là 1 ngày, kể từ khi cú ý kiến chỉ đạo của Lónh đạo Bộ.
15
2. Đơn vị chủ trỡ thẩm định, tham gia ý kiến, đơn vị thường trực Hội đồng
thẩm định có trách nhiệm chuyển bản gốc báo cáo thẩm định, công văn góp ý cho
Văn phũng Bộ Tư pháp để nhân bản và gửi. Chậm nhất là năm ngày, trước ngày bắt
đầu phiên họp Chính phủ xem xét văn bản, báo cáo thẩm định phải được gửi đến
Văn phũng Chớnh phủ và cơ quan chủ trỡ soạn thảo.
Báo cáo thẩm định, công văn góp ý cũng phải được gửi Lónh đạo Bộ để theo
dừi, được lưu tại đơn vị chủ trỡ thẩm định, tham gia ý kiến, đơn vị thường trực Hội
đồng thẩm định, Văn phũng Bộ và ghi vào Sổ theo dừi hồ sơ thẩm định của Văn
phũng Bộ.
3. Hồ sơ thẩm định, biên bản họp thẩm định, báo cáo thẩm định, công văn
góp ý và các tài liệu có liên quan khác được lưu giữ tại đơn vị chủ trỡ thẩm định,
tham gia ý kiến, đơn vị thường trực Hội đồng thẩm định. Thủ trưởng các đơn vị nói
trên có trách nhiệm tổ chức việc lưu giữ, bảo quản hồ sơ, tài liệu nói trên tại đơn vị
mỡnh, bảo đảm thuận tiện cho công tác nghiên cứu, tra cứu hồ sơ khi cần thiết.
- Văn bản quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có chứa quy phạm pháp
luật.
9.2. Chế độ chi tiêu tài chính phục vụ công tác thẩm định
- Nội dung chi: Kinh phí hỗ trợ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được
sử dụng để chi cho công tác thẩm định, thẩm tra các văn bản quy phạm pháp luật nói
trên.
Việc sử dụng kinh phí hỗ trợ thẩm định văn bản quy phạm pháp luật phải
tuân thủ đầy đủ các chế độ chi tiêu tài chính hiện hành như chế độ công tác phí, hội
nghị phí, làm thêm giờ, chi phí in ấn, văn phũng phẩm.v.v. Ngoài ra, do tớnh chất
đặc thù trong việc thẩm định văn bản quy phạm pháp luật nên Nhà nước quy định
một số khoản chi hỗ trợ công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật như sau:
Mức chi: Mức chi cụ thể được tính trên cơ sở các công việc tiến hành trong
quá trỡnh thẩm định văn bản:
1. Chi chuẩn bị báo cáo thẩm định văn bản quy phạm pháp luật:
* Đối với văn bản luật, phỏp lệnh:
- Văn bản luật, phỏp lệnh mới hoặc văn bản luật, pháp lệnh sửa đổi, bổ sung
(thay thế): mức chi từ 300.000 đ - 700.000 đ/báo cáo thẩm định.
- Văn bản luật, pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều: mức chi từ 200.000 đ
- 300.000 đ/báo cáo thẩm định.
* Đối với văn bản nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết, nghị định của Chính phủ:
mức chi từ 200.000 đ - 300.000 đ/ báo cáo thẩm định.
2. Chi hội thảo phục vụ công tác thẩm định văn bản luật, pháp lệnh, nghị
quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, nghị quyết, nghị định của Chính
phủ:
- Chủ trỡ cuộc họp: 100.000đ/người/buổi;
- Các thành viên tham dự: 50.000 đ/người.buổi.
Các mức chi này là tối đa. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tổ chức được giao
chủ trỡ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật căn cứ vào tổng mức kinh phí hỗ trợ
17
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, căn cứ theo yêu cầu về nội dung, tính chất
19