Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý của bộ công thương - Pdf 13

BỘ CÔNG THƯƠNG

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU QUẢN LÝ CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Anh Sơn – Phó Vụ trưởng

bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam
23
III. Những điểm tương đồng và khác biệt về vai trò của các Bộ, cơ quan
ngang Bộ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở các nước trên thế giới
25
IV. Quy trình xây dự
ng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Công Thương
26
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VĂN
BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT THUỘC THẨM QUYỀN BAN
HÀNH CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG
39
I. Sơ lược công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Bộ Công
nghiệp và Bộ Thương mại
39
II. Thực trạng công tác xây dựng văn bản quy phạmpháp luật thuộc thẩm
quyền ban hành của Bộ Công Thương
44
III. Đánh giá công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm
quyền ban hành của Bộ Công Thương
68
CHƯƠNG III. KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
THUỘC THẨM QUYỀN BAN HÀNH CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG

78
I. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về công tác xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật tại Bộ Công Thương
78


91
Tài liệu tham khảo
92

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP
LUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU QUẢN LÝ CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG

Cơ quan chủ trì : Vụ Pháp chế - Bộ Công Thương


khác. Các văn kiện của Đảng cũng đã chỉ rõ: quản lý đất nước bằng pháp
luật chứ không chỉ bằng đạo lý. Trong điều kiện xây dựng nhà nướ
c pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật trở thành công cụ hàng đầu
trong quản lý nhà nước đồng thời bản thân nhà nước cũng được tổ chức và
thực hiện các hoạt động theo pháp luật.
Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động có tính kỹ thuật
cao. Hoạt động này thể hiện ý chí của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
trong những quy định pháp luật, thành nh
ững quy tắc xử sự có tính bắt
buộc chung nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm cho các quan hệ
xã hội vận động theo một trật tự chung phù hợp với yêu cầu quản lý Nhà
nước. Hoạt động soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm thực
hiện đúng tiến độ, có chất lượng, bảo đảm các yêu cầu về tính hợ
p hiến,
hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ, tính khả thi cũng như các yêu cầu về
kỹ thuật soạn thảo, ngôn ngữ pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật.
Xét từ góc độ lý luận, xác định đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản
quy phạm pháp luật là xác định những quan hệ xã hội (hoặc nhóm quan hệ
xã hội) cần được văn bản đ
iều chỉnh. Việc xác định đối tượng, phạm vi
điều chỉnh của văn bản có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động soạn
thảo văn bản, trực tiếp ảnh hưởng tới tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Bộ Công Thương là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mạ
i, bao gồm các ngành và
lĩnh vực: cơ khí, luyện kim, điện, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, dầu
khí, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, công nghiệp khai thác mỏ và chế
biến khoáng sản, công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm và công
nghiệp chế biến khác, lưu thông hàng hoá trong nước; xuất nhập khẩu,

bản trong cơ quan Bộ. Đây là vấn đề
cấp bách hiện nay cần được nghiên
cứu có cơ sở khoa học, đưa ra những chủ trương, giải pháp hợp lý, nhằm
củng cố, tăng cường chất lượng soạn thảo văn bản và kỹ thuật soạn thảo
văn bản của cán bộ, chuyên viên cơ quan Bộ, trên cơ sở đó từng bước củng
cố và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp lu
ật của ngành công
thương, đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước và phát triển kinh tế của toàn
xã hội. Vì vậy, nhóm tác giả đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu:
“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây
dựng văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý của Bộ
Công Thương”. Đây là đề tài mới lần đầu tiên được triển khai nghiên cứu

4
góp phần nâng cao chất lượng soạn thảo văn bản, hoàn thiện pháp luật
trong quản lý nhà nước ngành công thương.
Thực hiện chủ trương của Đảng “Đổi mới và hoàn thiện khung pháp
lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để
phát huy tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho sản xuất, kinh doanh
của mọi thành phần kinh tế với các hình thứ
c sở hữu khác nhau”, trong
những năm qua, việc xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước nói chung và Bộ Công Thương nói riêng đã đạt được
nhiều kết quả tích cực. Một khối lượng lớn các văn bản quy phạm pháp
luật được ban hành nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vự
c công
thương đã tạo ra một khung pháp lý đầy đủ và tương đối thuận tiện góp
phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh ở nước ta.
Để có được kết quả đó, ngày từ khi thành lập (Bộ Công nghiệp và

òi hỏi của thực tiễn.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Trong quá trình nghiên cứu, triển khai thực hiện đề tài, nhóm tác giả
đã gặp phải những khó khăn nhất định về nguồn lực cũng như thời gian.
Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả nghiên cứu
thực trạng công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Công
Thương đối vớ
i các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của cơ quan nhà
nước cấp trên và đặc biệt tập trung nghiên cứu đánh giá công tác xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ Công
Thương .
Trên cơ sở nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
công tác xây dựng văn bản như: việc tuân thủ quy trình xây dựng văn bản
của các
đơn vị thuộc Bộ, thực trạng công tác đánh giá tác động văn bản,
các điều kiện bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản nhằm phân tích
đánh giá các điểm hạn chế cả về quy trình và cách tổ chức thực hiện, từ đó
đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý của Công Thương trong thời gian
t
ới.
Đề tài nghiên cứu ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có ba chương
như sau:
Chương I. Quy trình và vai trò của của các Bộ, cơ quan ngang
Bộ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Trong phần này, nhóm tác giả nghiên cứu quy trình xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật nói chung ở các nước trên thế giới; vai trò của các

6
Bộ, cơ quan ngang Bộ trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp

quyền ban hành của Bộ Công Thương nói riêng, phân tích những kết quả
đạt được trong công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở
cơ quan Bộ Công Thương, tổ chức soạn thảo, công tác quản lý, chỉ đạo,
công tác tập huấn nghiệp vụ soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp

7
luật, công tác lưu trữ hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật, công tác
kiểm tra, rà soát và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, ứng dụng công
nghệ thông tin để thấy những thành công đạt được và các vấn đề còn tồn
tại. Phần này nhóm tác giả phân tích các yếu tố tác động đến chất lượng
công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật như: việc tuân thủ quy
trình xây dựng văn bản của các đơ
n vị thuộc bộ, thực trạng công tác đánh
giá tác động văn bản, các điều kiện bảo đảm cho công tác này nhằm tạo cơ
sở cho việc đánh giá mặt tích cực, mặt hạn chế của việc triển khai công tác
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Công Thương.
Chương III. Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây
dựng văn bản quy phạm pháp luật đ
áp ứng yêu cầu quản lý của Bộ
Công Thương trong thời gian tới.
Đây là phần quan trọng nhất của đề tài. Phần này đề xuất một số giải
pháp nâng cao chất lượng công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật
trong lĩnh vực công thương của Bộ trong thời gian tới. Có thể có nhiều giải
pháp để nâng cao chất lượng soạn thảo văn bản trong thời gian tới, song
vớ
i thực tế tình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của Bộ hiện nay và
khả năng tới, Đề tài đề xuất 2 nhóm giải pháp:
1. Xây dựng hoàn thiện một số văn bản pháp luật để quản lý, chỉ đạo
công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng, ban
hành Quy chế soạn thảo, thẩm định, ban hành và kiểm tra xử lý văn bản

Đây là đề tài mới lần đầu tiên được triển khai nghiên cứu, góp phần
nâng cao chất lượng xây dựng v
ăn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện
hệ thống pháp luật trong quản lý nhà nước ngành công thương.
9
Chương I
QUY TRÌNH VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC BỘ,
CƠ QUAN NGANG BỘ TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT

I. QUY TRÌNH VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC BỘ, CƠ QUAN
NGANG BỘ TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP
LUẬT Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.1 Quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở các nước
trên thế giới
Tùy thuộc vào đặc điểm của thể chế chính trị, tổ chức bộ máy Nhà
nước nói chung và t
ổ chức, hoạt động của Nghị viện nói riêng, quy trình
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (quy trình lập pháp) của mỗi nước
có những điểm riêng biệt từ chủ thể có quyền trình dự án đến các bước cụ
thể trong quy trình, thủ tục. Tuy nhiên, nhìn chung quy trình lập pháp của

- Ở một số nước theo chế độ đại nghị, đặc biệt là những nước theo
mô hình Nghị viện Anh (như Anh, Canada, Australia…), việc thảo luận và
thông qua luật được thực hiện theo thủ tục “ba lần đọc” (reading).
(i) Lần đọc thứ nhất
Lần đọc thứ nhất được tiến hành với mục đích đơn giản là để giới
thiệu và đưa m
ột dự luật vào quy trình xem xét. Thông thường lần đọc này
mang tính hình thức và không dẫn đến một sự tranh luận hoặc sửa đổi nào.
Sau lần đọc này, dự thảo luật được chính thức in và phổ biến cho công
chúng.
(ii) Lần đọc thứ hai và chuyển dự án luật đến các Uỷ ban
Lần đọc thứ hai được thực hiện với mục đích trình nghị viện xem
xét, thảo luận về những nguyên tắ
c cơ bản của dự luật và sau đó chuyển dự
án luật tới xem xét ở các Uỷ ban hữu quan. Đây là một giai đoạn có ý
nghĩa quan trọng trong quy trình thảo luận, thông qua luật.
Thủ tục đọc thứ hai sẽ được mở đầu bằng việc Chính phủ mà cụ thể
là Bộ trưởng phụ trách luật được soạn thảo trình bày trước Nghị viện về
những nguyên tắ
c chính và những nội dung cơ bản của dự luật. Trên cơ sở
báo cáo của Bộ trưởng, Nghị viện sẽ chỉ thảo luận về những vấn đề thuộc
về chính sách, những nội dung chính của dự luật mà không đi vào việc
thảo luận chi tiết về câu chữ hoặc các nội dung quá cụ thể. Chính ở giai
đoạn này, Nghị viện quyết định về nộ
i dung chính sách của dự án luật.

11
Những quyết định này, về nguyên tắc, sẽ không được xem lại ở các giai
đoạn sau nhằm tránh việc thảo luận đi, thảo luận lại. Quy định như vậy sẽ
tạo ra tính thống nhất trong các lần thảo luận, bảo đảm tính hiệu quả trong

khi thông qua. Lần đọc này có nhiều điểm giống với lần đọc thứ hai, tuy
nhiên những sửa đổi trong lần này không được trái với những nội dung có

12
tính nguyên tắc của dự luật đã được thông qua tại lần trước. Trong lần đọc
thứ ba, dự án có thể được đưa ra để biểu quyết thông qua hoặc được gửi trả
lại cho Uỷ ban. Các dự án được trả lại cho Uỷ ban thường vì lý do chính trị
hoặc vì tình hình thay đổi nên cần phải sửa lại dự luật.
Một số nước quy định nguyên tắc là các dự luật phải
được thông qua
theo từng điều; nhưng cũng có nước quy định việc thông qua có thể thực
hiện bằng cách biểu quyết một hoặc nhiều chương có nội dung liên quan
với nhau. Tuy nhiên, trong quy trình lập pháp của nhiều nước, thủ tục biểu
quyết thông qua cũng mang tính hình thức vì trước đó các ý kiến của nghị
sĩ đã được tiếp thu và đến khi dự luật được đưa ra biểu quyết thì nó đã
nhận được sự đồng thuận của đa số nghị sĩ.
Đối với những nước có mô hình Nghị viện có hai viện thì dự luật
được tiếp tục chuyển xem xét ở viện thứ hai với quy trình tương tự với quy
trình nêu trên (có thể có sự thay đổi ít nhiều).
- Ở một số nước, quy trình thông qua luật theo ba lần đọc có thể có
những điểm khác với quy trình nêu trên, cụ thể là:
+ T
ại lần đọc thứ nhất, nghị viện thảo luận về tính cấp thiết của dự
án luật và quyết định về việc có cần thiết ban hành văn bản luật này hay
không. Nghị viện sẽ chuyển dự luật cho một Uỷ ban thường trực hoặc
thành lập Uỷ ban lâm thời để tiếp tục chỉnh lý dự án luật nếu nghị viện
nhất trí về
tính cần thiết của dự án luật và tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc của
dự án.
+ Tại lần đọc thứ hai, nghị viện sẽ thảo luận nội dung chi tiết của dự

i hay
xây dựng mới một dự thảo luật. Có thể nói rằng, ý tưởng lập pháp được bắt
nguồn từ nhiều kênh thông tin khác nhau: có thể là do các tổ chức nghề
nghiệp, các nhóm lợi ích, các đảng phái chính trị và cũng có thể là do sáng
kiến của chính bộ chủ quản.
Bộ trưởng bộ chủ quản ra chỉ thị và thành lập Ủy ban điều tra để tiến
hành nghiên cứu, chuẩn bị về d
ự án luật. Tuy có các loại ủy ban điều tra
như ủy ban chỉ có một thành viên hoặc nhiều thành viên nhưng các ủy ban
này đều có đội ngũ đông đảo các chuyên gia, cố vấn là các nhà chuyên
môn, thẩm phán, luật gia giúp việc. Các ủy ban này hoạt động thường
xuyên, làm việc liên tục trong nhiều năm và người đứng đầu Ủy ban
thường là vị thẩm phán có nhiều kinh nghiệm. Các đại biểu Quốc hội đại
diện cho các đả
ng phái trong Quốc hội có thể là thành viên Ủy ban nếu có
những vấn đề chính trị mà Ủy ban phải xem xét. Trong trường hợp này,

14
thành phần của Ủy ban giống như Quốc hội thu nhỏ. Nhiệm vụ của Ủy ban
được xác định trong chỉ thị của Bộ trưởng và chủ yếu là chuẩn bị báo cáo
của Ủy ban trong đó nêu rõ lịch sử vấn đề, phân tích đánh giá tình hình
thực tế, khuôn khổ pháp luật hiện hành và những kinh nghiệm, giải pháp
của nước ngoài về vấn đề tương tự. Trên cơ sở đ
ó, Ủy ban có trách nhiệm
chuẩn bị một dự thảo luật chi tiết. Trong hoạt động của mình, Ủy ban cố
gắng giữ quan điểm khách quan, trung lập trong việc đánh giá, điều tra.
Bất cứ thành viên nào của Ủy ban mà không đồng ý với kết luận của đa số
thì có quyền thể hiện ý kiến bảo lưu của mình bằng văn bản. Việc thành
lập các ủy ban này là tươ
ng đối phổ biến tại Thụy Điển.

án luật tại Thụy Điển cho thấy, một khi đã
được chuẩn bị tỉ mỉ qua các
bước như vậy, việc thảo luận tại Chính phủ thường diễn ra nhanh gọn về
nội dung của dự án luật.
1.2.2 Canada
Canada có một quy trình lập pháp rất khoa học với đội ngũ các
chuyên gia soạn thảo chuyên nghiệp làm việc tại Bộ Tư pháp. Các dự thảo
luật trước khi được Chính phủ trình Quốc hội đã có một giai đoạn soạ
n
thảo kỹ lưỡng với sự tham vấn của các chuyên gia nhiều kinh nghiệm, đặc
biệt là sự quan tâm của Chính phủ trong việc cân nhắc cẩn trọng về mặt
chính sách đối với mỗi dự án luật. Đồng thời, những kinh nghiệm về quá
trình hài hoà hoá và pháp điển hoá các văn bản pháp luật được Quốc hội và
Chính phủ Canada thực hiện và tổng kết thường xuyên. Việt Nam cần có
sự quan tâm, ti
ếp tục nghiên cứu, tham khảo những kinh nghiệm hay của
Canada trong quy trình lập pháp và pháp điển hóa.
Canada là đất nước có hệ thống chính trị đa đảng theo chế độ đại
nghị, đảng có số ghế nhiều nhất trong Quốc hội sẽ đứng ra lập Chính phủ.
Các thành viên của Chính phủ cũng đồng thời là hạ nghị sỹ. Quốc hội
Canada gồm Thượng nghị viện và Hạ nghị vi
ện. Thượng nghị viện có 104
thượng nghị sĩ do Toàn quyền bổ nhiệm trên cơ sở giới thiệu của Thủ
tướng. Thượng nghị sĩ thường là những người có uy tín trong xã hội như
các nhà quý tộc, nhà văn, nhà hoạt động chính trị, xã hội Hạ nghị viện
gồm 308 hạ nghị sỹ, đại diện cho các đảng chính trị, do dân bầu ra với
nhiệm kỳ 5 năm. Hầu h
ết công việc của Quốc hội được thực hiện ở các ủy
ban như thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật, giám sát Chính phủ. Mỗi
ủy ban có từ 7 đến 12 thành viên, tỉ lệ đại diện của mỗi đảng trong ủy ban

Ngoài ra, kiến nghị xây dựng luật cần thiết còn thể hiện trong một bản diễn
thuyết của Toàn quyền. Bộ Tư pháp chỉ tiến hành soạn thảo dự luật do các
Bộ yêu cầu khi nhận được một quyết định thể hiệ
n sự đồng ý về việc xây
dựng luật từ Văn phòng Nội các (Chính phủ) hoặc Chủ tịch Đảng cầm
quyền trong Quốc hội.
Trước khi Chính phủ quyết định thì Ban Ngân khố (gồm ba Bộ
trưởng) có thẩm quyền xem xét quyết định việc có cần thiết xây dựng và

17
ban hành các luật được trình hay không. Bộ phận thư ký của Ban ngân khố
sẽ đưa ra các tiêu chí để các Bộ nêu yêu cầu xây dựng luật đưa ra các giải
trình về những vấn đề tác động đến đối tượng, nếu vấn đề phức tạp thì có
nhiều tiêu chí hơn. Sự đồng ý của Ban Ngân khố là sự đảm bảo về ngân
sách cho việc xây dựng luật.
Để thực hiện quy trình kiến nghị xây dựng lu
ật, Bộ có yêu cầu xây
dựng luật phải nêu chính sách và lấy ý kiến đóng góp của công chúng,
chính quyền liên bang, tiểu bang, các cơ quan cấp Bộ khác, nhóm người
thiểu số về dự án luật. Sau khi tổng hợp ý kiến góp ý cho dự luật, Bộ có
yêu cầu sẽ trình kiến nghị xây dựng luật đến Chính phủ. Trong kiến nghị
phải có các nội dung: nhận diện văn bản, chính sách, giải pháp khuyến
nghị, yêu cầu, hướ
ng dẫn yêu cầu về soạn thảo… làm cơ sở để các cán bộ
soạn thảo dựa vào đó xây dựng văn bản pháp luật.
Tiếp theo, Bộ có yêu cầu sẽ xin ý kiến đóng góp của các Bộ khác và
sau khi tiếp thu hoàn chỉnh sẽ có Tờ trình gửi tới một Uỷ ban thuộc Chính
phủ (trong Chính phủ có các Uỷ ban về các lĩnh vực cụ thể, thành phần của
các Uỷ ban này là các Bộ trưởng, riêng Uỷ
ban về ưu tiên và kế hoạch có

pháp lý. Sau khi có ý kiến của hai cán bộ này, cán bộ soạn thảo sẽ chỉnh
sửa. Giai đoạn này sẽ lặp lại đến khi các chính sách đã được thể hiện đầy
đủ trong văn bản thành các quy định pháp luật. Quá trình soạn thảo phải
phù hợp với các quy định về Quy trình xây dựng văn bản pháp luật trong
các đạo luật chung (luật về ngôn ngữ, luật về quyền con người )
Cuối mỗ
i giai đoạn soạn thảo, các soạn thảo viên phải ký xác nhận
tính phù hợp của dự thảo với các văn bản pháp luật và chuyển cho Cục
trưởng Cục soạn thảo. Cục trưởng Cục soạn thảo sẽ xem lại tính hợp hiến,
hợp pháp để ký trình cho một Thứ trưởng Bộ Tư pháp. Bộ trưởng Bộ Tư
pháp phải bảo đảm dự thảo văn b
ản pháp luật phù hợp với Hiến pháp, đảm
bảo tính nhất quán, không mâu thuẫn với các luật khác. Bộ trưởng Bộ Tư
pháp sau khi thẩm định sẽ có văn bản chứng nhận dự thảo văn bản pháp
luật phù hợp với các quy định pháp luật.
Giai đoạn thẩm định sẽ có nhiều cơ quan, cá nhân tham gia góp ý
kiến. Các ý kiến được gửi tới các cán bộ soạn thảo, cán bộ liên lạc
để
nghiên cứu tiếp thu.
Sau khi hoàn chỉnh dự thảo văn bản (bản điện tử) được gửi đến
nhóm xử lý công nghệ thông tin. Nhóm này sẽ định dạng, mã hoá để
chuyển đi in và sau đó sẽ chuyển đến các thành viên Ban soạn thảo và Bộ

19
có yêu cầu. Các bộ phận sẽ kiểm tra trong khoảng 4-5 ngày, nếu có ý kiến
góp ý thì xem xét chỉnh lý và in lại.
Các dự thảo luật sau khi hoàn chỉnh sẽ được chuyển sang Chính phủ
để Thủ tướng ký trình Quốc hội. Bộ Tư pháp vẫn tiếp tục tham gia chỉnh lý
cùng với cơ quan của Quốc hội cho đến khi dự luật đó được thông qua.
- Giai đoạn dự luật được trình sang Quốc hội

công chúng để tham gia thảo luận, góp ý kiến về dự luật trước Uỷ ban. Ủy
ban có thể tổ chức cuộc họp để công chúng gửi ý kiến đóng góp.
Bộ trưởng cùng bộ máy giúp việc sẽ có mặt tại Ủy ban để trình bày.
Những người giúp việc của Bộ đó có trách nhiệm giải trình từng nội dung
mà các đại biểu yêu cầu.
Bước 2: Các thành viên Uỷ ban nghiên cứu từng điều khoản, câu
chữ, kiểm tra về mặt quy trình, chi phí, lợi ích của dự án luật khi được
thông qua.
Bước 3: Trong phiên họp của Uỷ ban, toàn văn dự luật và các bản
góp ý sẽ được gửi đến từng thành viên. Các thư ký Ủy ban sẽ ghi những ý
kiến góp ý tham mưu giúp Chủ nhiệm Ủy ban điều hành. Chủ nhiệm Ủy
ban sẽ hỏi từng nội dung, nếu nhất trí sẽ bỏ phiếu thông qua, nếu không
nhất trí sẽ tiếp tục kéo dài việc xem xét. Ủy ban sẽ tiến hành bỏ phiếu
thông qua từng nội dung cụ thể. Sau đó Uỷ ban sẽ thông qua báo cáo thẩm
tra về dự án luật, đề nghị chấp nhận toàn bộ dự án luật ho
ặc có kèm theo
sửa đổi, bổ sung; hoặc đề nghị không tiếp tục xem xét đối với dự án luật
đó.
Trong giai đoạn chỉnh lý từng câu chữ, Uỷ ban có thể chỉnh lý một
số nội dung khác với ý kiến của Chính phủ. Tuy nhiên việc chỉnh lý sẽ có
sự đàm phán, thương lượng và thỏa hiệp giữa các đảng phái. Trường hợp
Chính phủ không đồng ý việc chỉnh lý của Ủy ban thì Chính ph
ủ sẽ kiến
nghị đảng của Chính phủ không đưa dự luật đó ra trình Quốc hội.
Báo cáo thẩm tra của Ủy ban trình Quốc hội có thể đưa ra một trong
ba phương án sau:
+ Ủy ban chấp nhận hoàn toàn dự luật và trình Quốc hội;
+ Ủy ban có chỉnh sửa, bổ sung và trình Quốc hội;

21

quyền công bố thì mới có giá trị thi hành.
1.2.3 Macedonia

22
Quy trình lập pháp được quy định trong Hiến pháp, Luật về Chính
phủ, Quy chế hoạt động của Chính phủ, Quy chế hoạt động của Quốc hội
sửa đổi lần cuối vào năm 2008 sau khi diễn ra bầu cử lập pháp. Quy trình
lập pháp ở Macedonia có hai công đoạn chính - công đoạn Chính phủ và
công đoạn Quốc hội.
Theo quy định của Hiến pháp, quyền đề xuất dự luật thuộc về
Chính
phủ, các nghị sỹ và công dân với điều kiện phải thu thập đủ 10 nghìn chữ
ký. Nhưng trên thực tế, hầu hết các dự luật do Chính phủ trình: trong số
594 đạo luật được thông qua từ năm 2002 đến 2006, có 567 đạo luật do
Chính phủ trình, 26 đạo luật do các nghị sỹ đề xuất và chỉ 1 đạo luật xuất
phát từ công dân.
Mọi dự luật của Chính phủ Macedonia đều phải
được đưa vào
chương trình hoạt động hàng năm của chính phủ. Văn phòng Chính phủ có
nhiệm vụ phối hợp với các bộ, ngành để tính toán xem có thể đưa bao
nhiêu dự luật vào chương trình dựa trên khả năng thực hiện của Chính phủ
và Quốc hội. Trong đó, Chính phủ cần đảm bảo ưu tiên những dự luật cần
thiết hơn.
Sau khi dự luật được đưa vào chươ
ng trình, bộ liên quan đến nội
dung điều chỉnh của luật sẽ thành lập một nhóm công tác để xây dựng dự
luật. Thành phần của nhóm này thường là cán bộ của bộ đó, các nhà
nghiên cứu, đại diện của một số cơ quan liên quan. Trong quá trình xây
dựng dự luật phải có tham vấn các bộ, ngành khác và theo nguyên tắc phải
tham vấn xã hội dân sự. Bộ chịu trách nhiệm xây dựng dự án luật phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status