nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả các công trình cấp nước sinh hoạt huyện hòa an tỉnh cao bằng - Pdf 22


LỜI CẢM ƠN
Luận văn đã được thực hiện trong thời gian ngắn với tất cả sự nỗ lực của bản
thân, tác giả đã hoàn thành với đề tài “ Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao
hiệu quả các công trình cấp nước sinh hoạt huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng ’’.
Trong quá trình thực hiện tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
Phòng đào tạo đại học và sau đại học, Khoa kỹ thuật tài nguyên nước - Trường Đại
học Thuỷ lợi cùng các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới các cơ quan đơn vị và các cá nhân
đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn. Đặc biệt tác
giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Tuấn Anh - Khoa kỹ
thuật tài nguyên nước - Trường Đại học Thuỷ lợi Hà Nội, người đã trực tiếp
hướng dẫn, giúp đỡ tận tình cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn này.
Do thời gian nghiên cứu và trình độ chuyên môn còn hạn chế nên nội dung
của luận văn không tránh khỏi những sai sót. Tác giả mong nhận được các ý kiến
đóng góp để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã tạo
điều kiện thuận lợi để tác giả được trình bày luận văn này.
Hà nội, tháng 06 năm 2013
Tác giả Đàm Đức Hoàng
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ


Hình 1.8. Giếng khơi
39
9
Hình 1.9. Giếng khoan khai thác bằng bơm tay
41

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
TT
Tên bảng
Trang
1
Bảng 1.1. Diện tích, dân số, mật độ dân số năm 2011 huyện Hòa An
9
2
Bảng 1.2. Bảng thông số cơ bản của các hệ thống công trình cấp

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ODA: Viện trợ phát triển chính phủ
NS&VSMTNT: Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UBND: Uỷ ban nhân dân
TSS: Hàm lượng chất rắn lơ lửng
LK: Lỗ khoan
HPDE: Ống nhựa cao phân tử
HTCN: Hệ thống cấp nước
NSH: Nước sinh hoạt

MỤC LỤC
24T24TI. Tính cấp thiết của đề tài 1
II. Mục đích của đề tài 2
III. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
IV. Kết quả đạt được 2
V. Nội dung chính của luận văn 3
CHƯƠNG 1 4
TÌNH HÌNH CHUNG CỦA KHU VỰC 4
1.1 Đặc điểm tự nhiên vùng. 4
1.1.1 Vị trí địa lý. 4

2.6 Những tồn tại trong quản lý, vận hành và khai thác hệ thống các công trình cấp
nước sinh hoạt 52
2.7 Những tồn tại trong quá trình đầu tư, xây dựng và vận hành hệ thống các công
trình cấp nước sinh hoạt tập trung huyện Hòa An 54
CHƯƠNG 3 59
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH
CẤP NƯỚC TẬP TRUNG HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG 59
3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các công trình cấp
nước sinh hoạt 59
3.2 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các công trình cấp nước
sinh hoạt 61
3.2.1 Giải pháp công trình 61
3.2.1.1 Đối với các công trình đang hoạt động 61
3.2.1.2 Đối với các công trình đang tạm dừng hoạt động 62
3.2.2 Các giải pháp phi công trình 72
3.2.2.1 Đẩy mạnh xã hội hoá, phát triển mạnh mẽ thị trường NS&VSMTNT 73
3.2.2.2 Giải pháp về thông tin- giáo dục- truyền thông và tham gia của cộng đồng 74
3.2.2.3 Các giải pháp về chính sách 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84 - 1 -
MỞ ĐẦU

I. Tính cấp thiết của đề tài
Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một vấn đề có ý nghĩa quan
trọng được Nhà nước, Chính phủ đặc biệt quan tâm. Trong những năm qua, vị trí,
vai trò, ý nghĩa và các mục tiêu của công tác này đã liên tục được đề cập đến trong
nhiều văn bản quy phạm pháp luật Nhà nước và Chính phủ như: Nghị quyết Trung
ương VIII, Nghị quyết Trung ương IX, Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa

sinh hoạt nông thôn hiện có nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các đối tượng
sử dụng nước trong huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
III. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
III.1. Cách tiếp cận:
Tiếp cận các thành tựu nghiên cứu và công nghệ của các nước trong khu vực và
trên thế giới.
Tiếp cận có sự tham gia của những người hưởng lợi trong các dự án cấp nước
sinh hoạt, xóa đói giảm nghèo.
Tiếp cận Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn đến 2020.
Tiếp cận thực tế: đi khảo sát thực địa, tìm hiểu các hồ sơ, tình hình hoạt động của
các công trình cấp nước sinh hoạt trong huyện.
Tiếp cận đáp ứng nhu cầu: tính toán, đánh giá nhu cầu nước sinh hoạt.
III.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Điều tra hiện trạng, thu thập các số liệu, tài liệu.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp tiếp cận đáp ứng nhu cầu.
- Phương pháp kế thừa.
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công trình cấp nước theo phương pháp
điều tra hiện trạng, thu thập các số liệu, tài liệu của các công trình cấp nước tập
trung để tìm ra những điểm yếu trong tất cả các khâu: từ quy hoạch, thiết kế, thi
công đến quản lý, vận hành và bảo dưỡng công trình. IV. Kết quả đạt được
- Báo cáo đánh giá hiện trạng các công trình cấp nước hiện có. - 3 -
- Báo cáo đánh giá nhu cầu nước và khả năng đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt

- 4 -
CHƯƠNG 1

TÌNH HÌNH CHUNG CỦA KHU VỰC

1.1 Đặc điểm tự nhiên vùng.
1.1.1 Vị trí địa lý.
Hoà An là một huyện miền núi thuộc tỉnh Cao Bằng, nằm ở vị trí trung
tâm tỉnh và bao quanh thành phố Cao Bằng. Huyện Hoà An có tọa độ địa lý:
+ Từ: 22
P
0
P30’10”- 22P
0
P52’30” Vĩ độ Bắc
+ Từ: 106
P
0
P00’00”-106P
0
P24’33” Kinh độ đông
Hoà An có tổng diện tích 60.701 ha, dân số 53.726 người, chia thành 21
đơn vị hành chính gồm 20 xã và 01 thị trấn. Phạm vi ranh giới của Hòa An bao
gồm:

P
0
P), được
hình thành chủ yếu do bồi đắp phù sa của các sông, suối thuộc hệ thống sông Bằng
Giang. Trên địa hình này đã hình thành những cánh đồng lúa nước xen kẽ các
nương, bãi trồng màu khá màu mỡ. Đây là vùng sản xuất lúa có quy mô tập trung
lớn không chỉ của huyện mà còn của toàn tỉnh Cao Bằng. Vùng địa hình này chiếm
17% diện tích toàn huyện.
+ Vùng địa hình trung du: Độ cao trung bình 300 – 350m, phân bố tập
trung ở các xã phía bắc, Đông Bắc và phía Nam của huyện. Đa phần đất có độ dốc
trên 250 xen kẽ có các thung lũng hẹp và chân sườn đồi dốc thoải, độ dốc dưới 200,
có thể bố trí trồng cây ngắn ngày, cây lâu năm và cây ăn quả kết hợp với phát triển
lâm nghiệp. Vùng địa hình này chiếm 63% diện tích toàn huyện. - 6 -
+ Vùng địa hình miền núi: Độ cao trung bình 350 – 400m so với mực
nước biển, phân bố ở 6 xã phía Tây, Đông Bắc và phía Đông huyện, trong đó tập
trung nhất ở 4 xã phía Đông. Nên địa hình này chủ yếu là các dãy núi đá vôi dốc
đứng xen kẽ một số khe lũng bằng, hẹp, khả năng khai thác sử dụng vào nông
nghiệp của vùng địa hình này rất hạn chế, trong lâm nghiệp chủ yếu bảo vệ, phục
hồi dạng rừng núi đá, vùng địa hình này chiếm 20% diện tích toàn huyện.
Đặc điểm địa hình của Hoà An cho thấy sự phân hoá rõ rệt, các vùng địa
hình khác nhau gây khó khăn cho việc đi lại và xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng lại
mang ưu thế đa dạng trong khả năng khai thác sử dụng đất vào phát triển nông - lâm
nghiệp, tuy nhiên trong sử dụng đất cần đặc biệt chú trọng nâng cao hiệu quả khai
thác, đặc biệt đối với vùng địa hình bằng phẳng là nơi tập trung dân cư cao gắn liền
với quá trình đô thị hoá và hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển mạnh gây sức ép lớn.
Các vùng địa hình đồi núi cần gắn việc khai thác sử dụng với bảo vệ tài nguyên,
môi trường nhằm đảm bảo tính bền vững trong quá trình sử dụng.

6,8
P
0
PC, mùa lạnh có thể lên tới 8,2P
0
PC. - 7 -
Nhiệt độ của Hoà An đảm bảo cho khả năng canh tác 2-3 vụ cây ngắn
ngày trong năm, tuy nhiên cần chú ý tới nền nhiệt thấp trong vụ Đông Xuân dễ ảnh
hưởng xấu tới sinh trưởng cây trồng và với vụ mùa nếu cấy muộn dễ gặp rét làm
hạn chế tới năng suất, do vậy cần đặc biệt chú ý lựa chọn một cơ cấu thời vụ và bộ
giống thích hợp để hạn chế những ảnh hưởng bất thuận trong chế độ nhiệt.
Nhìn chung, chế độ nhiệt của Hoà An mang lại ưu thế thích nghi cho
phát triển một cơ cấu cây trồng đa dạng: Cận nhiệt đới, á nhiệt đới và nhiệt đới.
- Chế độ ẩm:
Lượng mưa bình quân của Hoà An khoảng 1300 -1500 mm/năm. Tuy
nhiên phân bố không đều, lượng mưa trong mùa mưa ( từ tháng 3 đến tháng 8 )
chiếm tới 80% lượng mưa cả năm, giữa các tiểu vùng địa hình lượng mưa biến động
lượng mưa ảnh hưởng lớn tới độ ẩm trong mùa khô, lạnh làm hạn chế đáng kể tới
khả năng từng vụ cây trồng trên những diện tích chưa chủ động tưới. Tuy nhiên,
trong mùa khô ( từ tháng 12 đến tháng 3) có khoảng 26 ngày có mưa phùn làm tăng
chế độ ẩm trong mùa khô. Mùa mưa với lượng mưa tập trung thường gây rửa trôi,
xói mòn đất vùng đồi núi và kèm theo lũ gây sạt lở đất vùng thung lũng ven sông
Bằng, những yếu tố này đòi hỏi cần chú trọng các biện pháp bảo vệ đất, đặc biệt chú
trọng phục hồi vốn rừng, tăng độ che phủ và có các chế độ canh tác hợp lý nhằm
hạn chế các tác động bất thường trong chế độ mưa, lũ.
Lượng bốc hơi bình quân ở Hoà An khoảng 800 – 1000mm/năm tuy
nhiên diễn biến không đều theo mùa. Trong mùa khô lạnh lượng bốc hơi thường cao

vào chế độ mưa và khả năng điều tiết của lưu vực, có thể chia ra làm 2 mùa rõ rệt là
mùa lũ và mùa cạn.
- Mùa lũ: mùa lũ trên các sông, suối ở huyện tương đối đồng nhất về thời
gian, thường bắt đầu vào tháng 6 và kết thúc vào tháng 10. Tuy nhiên trong từng
năm cụ thể, giới hạn này có thể dao động trong phạm vi 1 tháng nhưng ít khi xảy ra.
Lượng nước trên các sông, suối trong mùa lũ thường chiếm khoảng 65 -
80% lượng nước cả năm. Trong mùa lũ, sự phân phối dòng chảy của các tháng
không đều, lũ lớn thường tập trung vào 3 tháng 6,7,8, đặc biệt tháng 7 và tháng 8 là
những tháng có dòng chảy lớn nhất. - 9 -
- Mùa cạn: chế độ thuỷ văn trên các sông, suối trong mùa cạn có mối
quan hệ mật thiết với các yếu tố như dòng chảy, lượng mưa và các điều kiện khác
của lưu vực như diện tích chứa nước, thổ nhưỡng, thảm thực vật, cấu trúc địa tầng,
mức độ hang động của đá vôi và các yếu tố khí hậu. Những nhân tố này có tác dụng
làm quá trình điều tiết dòng chảy mùa cạn nhanh hay chậm. Nhìn chung, mùa cạn
trên các sông, suối của tỉnh thường bắt đầu vào tháng 10, có năm muộn là tháng 11
và kết thúc vào tháng 4, có năm muộn là tháng 6, 7 năm sau; trong đó mùa cạn kiệt
nhất kéo dài khoảng 3 tháng (từ tháng 1 đến tháng 3). Thời điểm bắt đầu và kết thúc
mùa cạn ở huyện Hòa An ít biến đổi.
1.1.5 Điều kiện dân sinh- kinh tế- xã hội
1.1.5.1 Dân số và phân bố dân số
Dân số trung bình của huyện Hoà An năm 2011 là 53.726 người, mật độ
dân số đạt 89 người/km
P
2
P. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên có xu thế giảm dần, ở mức thấp
hơn bình quân của tỉnh ( năm 2006 là 0,81%, năm 2011 giảm xuống còn 0,59%),
trong đó tỷ lệ sinh thấp ( mức sinh giảm 0,3% năm 2011) và cấu trúc dân số trẻ. Các

53,726
89
1
Thị trấn Nước Hai
1.22
3,642
2,985
2
Xã Dân Chủ
55.71
5,036
90
3
Xã Nam Tuấn
37.02
4,858
131
4
Xã Đức Xuân
20.15
509
25
5
Xã Đại Tiến
19.94
1,393
70 - 10 -

Xã Bình Long
17.46
3,124
179
10
Xã Nguyễn Huệ
20.76
1,637
79
11
Xã Công Trừng
16.15
1,045
65
12
Xã Hồng Việt
10.91
2,761
253
13
Xã Bế triều
24.73
5,632
228
14
Xã Hoàng Tung
24.90
3,336
134
15

Xã Hồng Nam
34.78
1,202
35

1.1.5.2 Kinh tế
Nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của Hoà An với tỷ
trọng 65,5% tổng giá trị sản phẩm, thu hút khoảng trên 90% lực lượng lao động xã
hội trên địa bàn. Nông nghiệp Hoà An cũng đã và đang chuyển đổi cơ cấu sản xuất
theo hướng đa dạng hoá ngày càng rõ nét, phát huy ngày càng hiệu quả những thuận
lợi của các điều kiện sinh thái nông nghiệp trên địa bàn. Giá trị sản xuất ngành trồng
trọt và chăn nuôi tăng liên tục qua các năm. Tính theo giá cố định, Năm 2000 giá trị
sản xuất ngành nông nghiệp đạt 89.316 triệu đồng, năm 2005 đạt 118.112 triệu
đồng, năm 2008 đạt 155.250 triệu đồng. Bình quân giai đoạn 2001- 2005 tăng
4,25%, bình quân các năm 2006- 2008 đạt 14,25%. Nếu tính theo giá trị thực tế,
năm 2000 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt khoảng 170.034 triệu đồng, năm - 11 -
2005 đạt 253.032 triệu đồng, năm 2008 đạt 326.228 triệu đồng. Bình quân giai đoạn
2001- 2005 theo giá thực tế tăng 8,08%, bình quân các năm 2006- 2008 đạt 8,41%.
Nguyên nhân chính là khối lượng sản phẩm lương thực, trong đó có sản lượng
lương thực có hạt tăng lên nhanh chóng, giá trị ngành chăn nuôi tăng nhanh các năm
lại đây.
Xét trong nội bộ nhóm ngành nông nghiệp, trồng trọt chiếm ưu thế do
có trên 80% diện tích canh tác được sử dụng giống mới cho năng suất cao, mạng
lưới thuỷ lợi được nâng cấp, xây dựng mới, kiên cố hoá kênh mương, diện tích tưới
được tăng thêm, góp phần nâng cao năng suất cây trồng.
1.1.5.3 Hệ thống y tế
Trong những năm qua, huyện Hoà An đã có nhiều cố gắng trong việc

được chuyển về Thành Phố Cao Bằng nên trên địa bàn huyện có 38 trường học với
399 phòng học.
Trong giai đoạn vừa qua, các chỉ tiêu cơ bản của ngành đều xấp xỉ đạt
hoặc vượt chỉ tiêu Đại hội đảng bộ huyện đề ra. Toàn huyện hiện có 3 trường đạt
tiêu chuẩn Quốc gia.
Hiện nay, một số trường thiếu mặt bằng xây dựng, khó khăn trong
việc bố trí một số hạng mục thiết yếu như sân chơi, nhà ở dành cho giáo viên, Để
xây dựng trường chuẩn quốc gia, trong giai đoạn tới năm 2014 một số điểm trường
cần phải được tiếp tục mở rộng.
1.1.5.5 Kết cấu hạ tầng liên quan
a, Hệ thống đường giao thông
Địa bàn huyện có nhiều tuyến giao thông huyết mạch chạy qua như các
tuyến quốc lộ 3, 4, 34, các tỉnh lộ 203, 204 cho phép Hòa An lưu thông thuận lợi
không chỉ với các đ ịa phương trong tỉnh , mà còn với các vùng khác trong cả nước
và qua các cửa khẩu Trung Quốc . Đây là yếu tố thuận lợi của Hòa An trong lưu
thông kinh tế và giao lưu văn hóa, xã hội, là cơ sở quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội.
Mạng lưới giao thông đường bộ trên đ ịa bàn huyện với tổng độ dài
184 km, gồm: 72 km quốc lộ (Quốc lộ 3, 4, 34), 45 km tỉnh lộ (tỉnh lộ 203, 204) và - 13 -
67 km đường liên xã . Ngoài ra, trên địa bàn còn có 599 km đường liên thôn , liên
xóm.
Có thể nói, mạng lưới giao thông nói chung và giao thông nông thôn
nói riêng của huyện miền núi Hòa An những năm qua đã có sự phát triển nhất định.
Hiện nay tất cả các xã trên địa bàn huyện đã có đường ô tô đến tận UBND xã . Tuy
nhiên, chất l ượng hầu hết các tuyến đường còn xấu , nhiều tuyến cầu , cống chưa
hoàn chỉnh, mùa mưa đi lại rất khó khăn (đặc biệt đối với các tuyến đường li ên xã).
Trong giai đoạn 2006 - 2011, huyện đã đẩy mạnh phát triển chương trình giao thông

sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn do phải đầu tư lớn.
d, Cấp thoát nước.
Hiện nay, tại thị trấn Nước Hai có một trạm cung cấp nước sinh hoạt
cho các hộ gia đình của thị trấn. Các hộ gia đình ở nông thôn chủ yếu sử dụng nước
giếng khoan.
Tỷ lệ số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt hơn 20% trên toàn
huyện. Tuy nhiên, việc cung cấp nước sạch cho các hộ gia đình, đặc biệt là các bà
con sinh sống tại các xã vùng cao, vùng núi đá vôi vào mùa khô còn nhiều khó
khăn.
e, Mạng lưới bưu chính - viễn thông
Hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn huyện Hoà An những năm
gần đây đã được quan tâm đầu tư, có sự phát triển đáng kể, hoà nhập mạng lưới
quốc gia - quốc tế. Ngoài 1 trung tâm bưu điện huyện ở thị trấn Nước Hai, còn có
các đại lý dịch vụ bưu điện ở các xã Bế Triều, Hoàng Tung, Đức Long, Dân Chủ,
Nam Tuấn, Nguyễn Huệ. Có thể nói giai đoạn vừa qua dịch vụ bưu điện - thông tin
liên lạc ở Hoà An đã đạt bước phát triển khá mạnh mẽ. Tuy nhiên tới nay, mạng
lưới thông tin - liên lạc trên địa bàn phát triển chưa đều khắp, đặc biệt đối với khu
vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Viễn thông được quan tâm phát triển của các nhà mạng di động như
Vinaphone, Mobifone, Viettel, Trong việc đầu tư các thiết bị viễn thông phục vụ
cho việc phủ sóng trên địa bàn, qua đó giúp cho việc thông tin liên lạc nhanh chóng,
số người sử dụng điện thoại di động ngày một tăng lên. - 15 -
Nhìn chung, các dịch vụ bưu chính viễn thông chất lượng cơ bản đáp ứng
yêu cầu. Tuy nhiên chất lượng đường truyền ở một số cơ sở xã còn kém, việc khắc
phục chưa kịp thời.
1.2 Tác động của tài nguyên nước đến cấp nước sinh hoạt huyện Hòa An
1.2.1 Nước mưa:

nhất là vào mùa khô.
Sông Bằng: Bắt nguồn từ Nà Cải (biên giới với Trung Quốc), chảy theo
hướng Tây Bắc - Đông Nam qua Hà Quảng - Hòa An – Thành phố rồi chảy qua
Thủy Khẩu về Trung Quốc với tổng chiều dài 113 km và diện tích lưu vực là 3420.3
km
P
2
P, đoạn chảy qua địa phận huyện Hòa An với chiều dài 40 km, mùa mưa nước từ
các khe suối tràn về làm cho mức nước của sông dâng cao, còn về mùa khô mực
nước giảm xuống rất nhiều nhưng không bao giờ cạn kiệt.
+ Lưu lượng lớn nhất Qmax: 1.879m
P
3
P/s
+ Lưu lượng nhỏ nhất Qmin: 7,43m
P
3
P/s
Sông Hiến: Là sông nội tỉnh bắt nguồn từ dãy Ngân sơn và hợp lưu với
sông Bằng tại thành phố, chảy qua địa phận huyện Hòa An với chiều dài 20 km theo
hướng Tây Nam – Đông Bắc.
+ Lưu lượng lớn nhất Qmax: 431m
P
3
P/s
+ Lưu lượng nhỏ nhất Qmin: 3,38m
P
3
P/s
Do ảnh hưởng của địa hình lòng máng và đặc thù của sông, suối, hàng

huyện Hòa An tuy chưa ở mức nghiêm trọng song cũng cần có biện pháp bảo vệ
làm sạch nguồn nước phục vụ cho các mục đích sử dụng và hạn chế ảnh hưởng ô
nhiễm đến dòng chảy hạ lưu.
c, Đánh giá khả năng khai thác nguồn nước mặt
Nguồn nước của các sông này không những hoàn toàn đủ khả năng cung
cấp cho các nhu cầu sản xuất sinh hoạt trong toàn huyện mà còn đang cung cấp cho
phần lớn các nhu cầu của khu vực hạ lưu. Tuy nhiên do mật độ các hệ thống suối
hoặc phụ lưu của các con sông trên địa bàn huyện phân bố không đều, hệ thống các
công trình thủy lợi được xây dựng trong những năm qua mới chỉ quan tâm tới các
nhu cầu tưới nên việc xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt sử dụng nguồn
nước mặt nhiều khi tốn kém hoặc phức tạp trong việc xử lý. Vì vậy nếu xét về mặt
số lượng việc sử dụng các nguồn nước mặt phục vụ nhu cầu cấp nước sinh hoạt - 18 -
nông thôn ở dọc các triền sông lớn, các suối hoặc các hồ đập tưới là hoàn toàn có
khả năng nhưng sẽ gặp phải một số khó khăn lớn là biên độ dao động mực nước
sông lớn và việc xây dựng các công trình thu nước sẽ phức tạp.
Về mặt chất lượng, phần thượng lưu của các sông cơ bản chất lượng
nguồn nước tương đối đảm bảo nhưng trong tương lai khó kiểm soát vì lưu vực của
chúng rộng lớn, chủ yếu là thượng lưu và qua nhiều xã. Phần hạ lưu các sông bằng
và sông hiến, chất lượng nước kém do bị ô nhiễm chủ yếu là các chất hữu cơ, việc
sử dụng để cấp nước sinh hoạt không đảm bảo không những trong tương lai mà cả
hiện tại.
Tóm lại, với mục tiêu cấp nước sinh hoạt nông thôn, nguồn nước mặt sẽ
được lựa chọn theo hướng ở những khu vực nguồn nước ngầm không có khả năng
cung cấp, hoặc dọc các triền sông, suối nhỏ, hồ đập thủy lợi có chất lượng nước bảo
đảm và dễ kiểm soát khi được cân nhắc so sánh về tính chất bền vững của nguồn
nước, tính kinh tế so với việc sử dụng nguồn nước ngầm tại cùng một khu vực.
1.3 Nguồn nước ngầm

huyện, điều kiện khai thác đơn giản, lưu lượng các lỗ khoan lớn, chất lượng nước
đảm bảo thích hợp với các nhu cầu cấp nước tập trung với các quy mô từ nhỏ đến
lớn. Tuy nhiên đây là tầng chứa nước nhạy cảm với các nguồn nhiễm bẩn từ trên
mặt, cần có biện pháp kiểm soát chất lượng nước chặt chẽ cho tầng này.
b, Nước khe nứt.
Trên bề mặt địa hình, đá vôi nứt nẻ mạnh mẽ, hoạt động Karst phát triển
tạo ra nhiều hang hốc karst, trong đó có các hang hốc chứa nước. Trong số các tầng
chứa nước khe nứt trong huyện được nghiên cứu nhiều hơn cả là tầng chứa khe nứt,
khe nứt- karst trong các trầm tích carbonat- lục nguyên hệ tầng Đồng Đăng.
Mức độ chứa nước của các tầng này rất khác nhau và ngay trong phạm vi
một tầng cũng biến đổi rất mạnh theo chiều sâu và diện tích, từ nghèo đến giầu, tuy
nhiên phần diện tích nghèo chiếm đa số. Trong tầng này đã tiến hành khoan, bơm
hút nước thí nghiệm, thấy có một số đặc trưng sau: chiều dày tầng chứa nước thay
đổi 30÷53m, trung bình 45m, lưu lượng nước đạt 13,69 l/s, các lỗ khoan trong tầng
chứa nước có thể xếp tầng này vào mức độ giầu nước, nhưng không đồng nhất,
nước thuộc loại không áp. Nguồn cung cấp chủ yếu là nước mưa, nước mặt từ các

Trích đoạn Huyện Hịa An thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về cấp NS & Đối với các cơng trình đang tạm dừng hoạt động Các giải pháp phi cơng trình Đẩy mạnh xã hội hố, phát triển mạnh mẽ thị trường NS&VSMTNT Giải pháp về thơng tin giáo dục truyền thơng và tham gia của cộng đồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status