Luận văn Ths Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thi công hợp lý công trình nâng cấp đê biển Kiên Giang đoạn thuộc An Biên – An Minh - Pdf 25

- 1 -
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
1.Tính cấp thiết của đề tài 6
2.Mục đích nghiên cứu của đề tài 7
3.Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 7
4.Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 7
5.Kết quả dự kiến đạt được 8
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐÊ BIỂN TRONG NƯỚC 9
VÀ TRÊN THẾ GIỚI 9
1.1.Tổng quan về tình hình xây dựng đê biển 9
1.2.Tình hình xây dựng đê biển trên thế giới 9
1.3.Tình hình xây dựng đê biển tại Việt Nam 16
1.3.1.Đê biển miền Bắc 17
1.3.2.Đê biển Bắc Trung Bộ: 18
1.3.3.Đê biển vùng ven biển Trung Trung Bộ: 20
1.3.4.Đê biển vùng Nam Trung Bộ: 21
1.3.5.Đê biển Nam Bộ 21
1.4.Nhận xét chung 24
1.4.1.Đánh giá chung về hệ thống đê biển ở nước ta 24
1.4.2.Hiện trạng ổn định đê biển nước ta hiện nay 25
1.4.3.Những vấn đề tồn tại trong việc khảo sát, thiết kế, thi công và quản lý đê
biển 25
1.5.Kết luận chương 29
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TRÌNH NÂNG CẤP ĐÊ
BIỂN AN BIÊN – AN MINH 31
b.1.Khái quát đặc điểm tự nhiên và dân sinh kinh tế của An Biên – An Minh 31
b.1.1.Vị trí địa lý và địa dư hình chính 31
b.1.2.Đặc điểm địa hình 34
b.1.3.Khí hậu khí tượng 34
a.Đặc điểm địa chất 35

3.4.2. Tính theo tải trọng giới hạn 67
- 3 -
3.5.Ổn định của đê trên nền đất yếu 68
3.6.Ổn định của mái dốc đê trên nền đất yếu 70
3.7.Các cơ chế phá hoại đê xây dựng trên nền đất yếu 71
3.7.1.Phá hoại, mất ổn định do nền bị lún trồi 71
3.7.2. Phá hoại do nền bị lún trồi và bị đẩy ngang 72
3.7.3.Phá hoại kiểu trượt sâu 73
3.7.4.Ứng dụng phần mềm Geo-Slope 2004 tính ổn định mái đê 74
3.8.Kết luận chương 77
Qua nghiên cứu lý thuyết và thực tế thi công các công trình ở ĐBSCL cho thấy
việc thi công quá nhanh hay chất tải quá lớn so với sức chịu tải của đất nền là
nguyên nhân chính dẫn đến các sự cố phá hủy công trình 77
CHƯƠNG IV: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THI CÔNG HỢP LÝ CÔNG TRÌNH
NÂNG CẤP ĐÊ BIỂN AN BIÊN – AN MINH 79
4.1.Bố trí tuyến đê biển 79
4.1.1. Các nguyên tắc chung để bố trí tuyến đê biển 79
4.1.2. Kết quả bố trí tuyến đê An Biên-An Minh 80
4.2.Thiết kế mặt cắt ngang 81
4.2.1. Nhiệm vụ 81
4.2.2. Cấp đê và các chỉ tiêu tính toán 81
4.2.2.1. Xác định cấp đê: 81
4.2.2.2.Các chỉ tiêu và thông số tính toán: 81
4.2.2.3.Xác định cao trình đỉnh đê 82
4.2.3.Chọn hình thức mặt cắt cho đê An Biên – An Minh 85
85
Hình 4.1:Cắt ngang đê biển An Biên – An Minh 85
Hình 4.2:Đê kết hợp tường chắn sóng ứng phó với nước biển dâng 86
4.3.Đề xuất một số giải pháp xử lý thân và nền hợp lý trong khi thi công đê biển trên nền đất yếu
86

4.4.4.Giải pháp hợp lý thi công đê biển An Biên – An Minh, Kiên Giang 105
4.4.4.1.Đắp theo phương pháp thông thường, không sử dụng cốt liệu để đắp đê
(trường hợp có thể kéo dài thời gian thi công) 106
- 5 -
4.4.4.2.Đắp theo phương pháp sử dụng cốt liệu vải địa kỹ thuật và xơ dừa để
đắp đê (trường hợp không thể kéo dài thời gian thi công) 108
Hình 4.13: Nhân công trải vải địa kỹ thuật Hình 4.14: Thi công chỗ tiếp giáp giữa 110
2 tấm vải địa 110
110
111
4.4.4.3.Đánh giá ưu nhược điểm của hai giải pháp 114
4.4.5.Trồng cây bảo vệ mái đê 116
4.4.6.Công tác giám sát, nghiệm thu thi công 116
4.5. Kết luận chương 117
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 119
1.Những kết quả đạt được của luận văn 119
2.Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp 119
3.Kiến nghị 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
- 6 -
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một quốc gia với chiều dài bờ biển khoảng 3.260 km, Việt Nam có một lợi
thế rất lớn trong việc phát triển kinh tế biển và khai thác nguồn lợi từ vùng bãi ven
bờ. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng phải gánh chịu những thiệt hại hết sức nặng
nề do thiên tai từ biển mang đến. Hàng năm những cơn bão đổ bộ từ biển vào đất
liền đã gây thiệt hại lớn về tài sản và tính mạng con người để lại những thảm họa
không nhỏ về môi trường.
Trong vài thập niên gần đây khí hậu toàn cầu có sự biến đổi mạnh khiến cho
ngày càng có nhiều tác động bất lợi đến môi trường sinh thái của Trái đất. Do ảnh

ngắn thời gian xây dựng so với các phương pháp truyền thống đã áp dụng ở khu vực
ĐBSCL.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến công tác thi công
nâng cấp đê biển Kiên Giang, đoạn thuộc An Biên-An Minh.
- Phân tích các yếu tố không thuận lợi cho công tác thi công đắp đất trên nền
yếu tại An Biên-An Minh.
- Đề xuất các giải pháp thi công hợp lý nhằm khắc phục các tác nhân tiêu cực
đối với công tác thi công đắp đê trên nền đất yếu.
4. Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
a. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi thi công nâng cấp tuyến đê biển Kiên
Giang, trong đó tập trung vào hoàn cảnh cụ thể tại An Biên-An Minh là nơi tuyến
đê được đắp trên nền đất yếu.
- Đối tượng nghiên cứu là khối đắp thân đê bằng vật liệu địa phương và nền đê
gồm các lớp đất yếu, có khả năng chịu tải kém.
b. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý thuyết đất đắp trên nền đất yếu;
- Tổng hợp các tài liệu khảo sát thực tế thuộc công trình đê biển Kiên Giang;
- 8 -
- Dùng mô hình toán để phân tích ứng suất thân đê và ứng suất nền đê trong
quá trình đắp đất để chỉ ra những khó khăn trong công tác thi công nâng cấp đê theo
phương pháp truyền thống, từ đó đề xuất được các giải pháp thi công hợp lý.
5. Kết quả dự kiến đạt được
Giới hạn trong khuôn khổ của Luận văn cao học, những kết quả dự kiến đạt
được gồm:
- Những hiểu biết có tính lý thuyết và thực hành bản chất của đất đắp thân đê
và nền đê trong quá trình đắp đê (đắp mới và nâng cấp đê cũ)
- Thực hành áp dụng một số công nghệ xử lý đất đắp, đất nền trong việc đắp
đê trên nền đất yếu ở Kiên Giang

biển, cuộc đời họ gắn liến với cuộc đấu tranh chống lại ngập lụt do nước biển dâng.
- 10 -
Cũng vì đặc điểm này mà người Hà Lan đã trở thành một trong những chuyên gia
số một về thuỷ lợi và công trình biển với rất nhiều thành tựu đáng khâm phục.
Đê biển được xây dựng sao cho không cho phép nước tràn dưới tác động của
sóng bão; kết cấu của đê được đặc biệt quan tâm và được kiểm soát rất chặt chẽ về
chất lượng trong quá trình xây dựng thông qua một ủy ban riêng thuộc Nhà nước.
Kết cấu thân đê: Đê
thường có cả cơ ngoài và cơ
trong kết hợp giao thông.
Tùy theo mức độ quan trọng
mà kết cấu của đê cũng khác
nhau. Chẳng hạn đê không
trực diện với biển thường là
đê đất với lõi đất hoặc lõi cát
bảo vệ bằng đất sét, ngoài
trồng cỏ cả mái trong và mái
ngoài, tần suất thiết kế cũng
thấp hơn. Đối với những đê trực diện với biển thì lõi không khác so với những đê
khác, nhưng nền đê được xử lý và gia cố rất cẩn thận, lớp bảo vệ khá đặc biệt. Đó là
các khối bảo vệ có xu hướng chuyển từ dạng “bản” như đang được sử dụng phổ
biến hiện nay sang dạng cột để tăng ổn định và dễ sửa chữa khi có sự cố. Kết cấu
của đê có xu thế mở rộng với việc bố trí cơ ngoài đủ lớn để chiết giảm tối đa năng
lượng sóng leo và sóng tràn đỉnh, đồng thời đó cũng là đường giao thông kết hợp
đường sửa chữa, bảo dưỡng đê khi cần thiết. Việc bảo vệ mái ngoài và chân đê cũng
được xem là đặc biệt quan trọng trong xây dựng đê biển. Tại những vùng có tác
động sóng lớn, bảo vệ mái ngoài đê và chân đê thường được tăng cường bằng lớp
vỏ hợp bởi các cấu kiện bê tông đúc sẵn, có thể theo hình thức loại kết cấu tự chèn
hoặc các khối hình lập phương (ví dụ như: Tetrapod, Accrepod, X-block hay Cube),
với khối lượng từ vài tấn đến vài chục tấn thả phía bãi trước để triệt tiêu bớt năng

- 12 -
thì sơ tán ra khỏi vùng nguy hiểm được nhanh chóng. Kết cấu đê biển ở đây không
quá kiên cố như của Hà Lan. Xu thế “tự nhiên” tác động ít nhất tới môi trường cũng
là quan điểm phát triển của Mỹ.
c. Nhật Bản: có hệ thống đê biển khá đặc biệt. Là quốc gia có bốn mặt là biển,
thường xuyên xảy ra động đất và sóng thần đe dọa trực tiếp đến sự ổn định của hệ
thống đê điều. Nên người Nhật đặc biệt quan tâm tới đê cửa sông và đê biển, mặc
dầu đất đai ở đây phần lớn cao hơn mực nước biển. Đê cũng là một công trình đa
mục tiêu, trong đó vấn đề giao thông được ưu tiên hàng đầu, chính vì vậy đê biển
của Nhật cũng rất chỉnh thể. Công trình điển hình phải kể đến tuyến đê biển bảo vệ
đảo nhân tạo Kansai tại thành phố Osaka. Tuyến đê này có chiều dài 13km (dọc
theo chu vi sân bay), cao 30m, tùy theo từng đoạn chiều rộng của đê nằm trong
khoảng 250 đến 300m. Nền đê là lớp đất sét được gia cố bằng các cọc cát; thân đê
bao gồm 3 lớp cát và đá xếp. Phần trên của đê được xây bức tường bằng bê tông
toàn khối, phần mái phía biển được bảo vệ bằng khối đá lớn hình chữ nhật và có bố
trí các khối có hình dạng lập dị để tiêu hao năng lượng sóng.
d. Hàn Quốc: Ngày 28/04/2010 Hàn Quốc đã khánh thành tuyến đê biển dài
nhất thế giới mang tên Saemangeum. Tuyến đê bao quanh một vùng biển có diện
tích 401 km
2
- bằng khoảng 2/3 diện tích thành phố Seoul. Với chiều dài 33,9 km,
nó nằm giữa biển Hoàng Hải và cửa sông Saemangeum. Đây là một nghiên cứu lớn
nhất trong lịch sử xây dựng của Hàn Quốc, Saemangeum được hy vọng sẽ trở thành
một "xa lộ kinh tế" để xứ kim chi vươn ra bên ngoài khu vực Đông Bắc Á.
- 13 -
Hình 1.4: Một cửa xả nước của đê Saemangeum
Hình 1.5: Tuyến đê Saemangeum – Hàn Quốc
- 14 -
e. Nga: thành phố Saint-Petersburg với 300 năm tồn tại thì có đến 305 lần phải
chịu cảnh ngập lụt do nước biển dâng. Tổ hợp công trình bảo vệ thành phố khỏi

công trình bảo vệ bờ cửa sông, ven biển, hải đảo đã và đang được ứng dụng rộng rãi
trên thế giới phải kể đến là:
• Vải địa kỹ thuật (Geotextile) được dùng rộng rãi trong xây dựng các ngành
khác nhau, giao thông, xây dựng nhà, công trình thuỷ lợi
• Khối phủ mái nghiêng: Tetrapod, Dolos tròn & bát giác, khối vuông chữ H,
Seabes… được dùng cho các công trình bảo vệ bờ biển, hải đảo ở các nước Mỹ,
Nhật bản, Hàn Quốc …Đây là các khối dị hình có độ ổn định cao, có khả năng phá
sóng, giảm chiều cao sóng.
• Công nghệ bảo vệ bờ bằng thảm đá, rọ đá lõi thép bọc PVC, hay lưới hoàn
toàn bằng sợi tổng hợp được dùng ở nhiều nước trên thế giới trong các công trình
bảo vệ bờ sông, bờ biển, taluy chống sạt lở đồi núi, đường giao thông v.v
• Công nghệ bảo vệ bờ bằng thảm bê tông FS của Úc được ứng dụng rộng rãi
nhiều nước trên thế giới trong các lĩnh vực như: công tác hộ đê, phòng lũ, bảo vệ bờ
sông, bờ biển và hải đảo, đường hầm Thảm FS chịu lực kéo lớn, tính ổn định tốt,
chống lão hóa, chịu mặn, chịu chua, có khả năng chống và triệt tiêu sóng, chống
mất đất do xói mòn, chịu áp lực 30tấn/m
2
, chịu được sóng lớn, góp phần tạo nên
những công trình có chất lượng cao và cảnh quan đẹp.
• Công nghệ cọc ván bê tông dự ứng lực của Nhật: với nhiều chủng loại,
bêtông có cường độ cao chống rỉ, chống ăn mòn, không bị lão hóa và clo hóa, có
khả năng chịu được áp lực sóng lớn, tăng tuổi thọ công trình, công nghệ thi công
tiên tiến nên rút ngắn nhiều thời gian xây dựng;
• Công nghệ bêtông lát khan được dùng cho công trình đê biển Hà Lan, thực
tế đã chứng minh được tính ưu việt của vật liệu và công nghệ này;
• Công nghệ Stabiplage của Pháp làm nhiệm vụ ổn định bờ biển, giữ bãi rất
hiệu quả, không phá vỡ cảnh quan môi trường, có sử dụng vật liệu tại chỗ, góp phần
đa dạng hóa các giải pháp công trình bảo vệ bờ.
- 16 -
Hình 1.6: Công nghệ Stabiplage của Pháp làm nhiệm vụ ổn định bờ biển

đến hiện nay vẫn tồn tại các tuyến đó như đê huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo (Hải
Phòng); đê Thái Thụy, Tiền Hải (Thái Bình), đê Kim Sơn (Ninh Bình) v.v
1.3.1. Đê biển miền Bắc
Có quy mô lớn nhất cả nước tập trung chủ yếu ở các tỉnh Hải Phòng, Thái
Bình và Nam Định và được phân cấp như sau:
Đê trực tiếp với biển như đê Yên Hưng (Quảng Ninh); Cát Hải, đê Tràng
Cát, Đê biển 1,2,3 thuộc Hải Phòng; Đê 6,7,8 thuộc Thái Bình và đê Giao Thủy,
Hải Hậu, Nghĩa Hưng (Nam Định). Mặc dù là đê trực tiếp với biển, nhưng chủ yếu
chỉ có một độ dốc mái m = 2÷3 phía biển; m = 1,5 ÷ 2,5 phía trong đồng.
Về kết cấu: Lõi đê chủ yếu là đất lấy ở khu vực lân cận, thành phần không
đồng nhất, độ ẩm cao, khó đầm nén nên thường có nhiều lỗ hổng trong thân đê.
Ngoài cùng là lớp đất sét bảo vệ có độ dày chỉ từ 0,3 ÷ 0,5 m. Trong những năm
gần đây với sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế PAM 5325, một lớp vải địa kỹ thuật
Hình 1.7: Bản đồ dự báo các vùng ảnh hưởng nước biển dâng
ở Đồng bằng Sông Cửu Long (Nguồn: ICEM)
- 18 -
đã được trải sau khi có lớp đất sét, sau đó là đá cấp phối 1÷2 và ngoài cùng là đá lát
hoặc tấm lát bảo vệ phía biển. Chân phía biển cũng được bảo vệ bằng ống buy có
đường kính 1m, chiều sâu từ 1,5 đến 2m và thảm đá rối chống phía ngoài chân.
Phần đỉnh đê thường được bố trí tường chắn sóng nhằm giảm thiểu tình trạng nước
tràn. Mái phía đồng chủ yếu là trồng cỏ.
Về cao trình đỉnh: phần lớn các đê trên có cao trình đỉnh +5m (cao độ quốc
gia) và được bố trí thêm tường chắn sóng có độ cao từ 0.5 ÷ 0.6m. Mặt đê được
bêtông hoá 1 phần, nhưng chủ yếu vẫn là đê đất, sinh lầy trong mùa mưa bão và dễ
bị xói mặt.
Đê lấn biển, đê cửa sông: để bảo vệ các vùng dân cư không trực tiếp với biển
bao gồm đê phần phía Bắc Quảng Ninh, đê 9 cửa sông thuộc hệ thống sông Hồng –
Thái Bình, vùng đầt bồi thuộc các tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và đặc biệt
là Ninh Bình có qui mô nhỏ hơn. Mái phía sông (biển) lớn nhất m = 3, phần lớn m =
2,0 ÷ 2,5, mái trong đồng m = 1,5 ÷ 2,0, Cao trình đỉnh từ 3,5m đến 5,0 tùy thuộc

bãi biển ở một số đoạn vẫn có xu hướng bị bào mòn, hạ thấp gây sạt lở chân kè, đe
dọa đến an toàn của đê biển.
- Hệ thống cống dưới đê rất nhiều về số lượng, hầu hết đã được xây dựng từ
vài chục năm trước đây với kết cấu tạm bợ và đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Cần
có quy hoạch lại, sữa chữa và xây dựng mới để đảm bảo an toàn cho đê, phù hợp
với quy hoạch chung về phát triển sản xuất.
- 20 -
Hình 1.10: Tuyến đê biển Hậu Lộc
1.3.3. Đê biển vùng ven biển Trung Trung Bộ:
Vùng ven biển Trung Trung Bộ tính từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi, nằm
kẹp giữa các cửa sông mà lưu vực chủ yếu nằm trọn trong lãnh thổ nước ta. Đất liền
được bảo vệ bởi hệ thống đê có quy mô nhỏ xung quanh các cửa sông và một phần
bờ biển. Phần lớn dải bờ biển được bảo vệ bởi các đụn cát, có nơi cao tới 30 ÷ 50m
như ở Quảng Bình, Quảng Trị. Các tuyến đê khu vực này được đắp bằng đất pha
cát, một số tuyến nằm sâu so với cửa sông và đầm phá có thân đê là đất sét pha cát,
như đê Tả Gianh (Quảng Bình) đê Vĩnh Thái (Quảng Trị). Một số đoạn đê đã được
bảo vệ 3 mặt hoặc 2 mặt bằng tấm bêtông để cho lũ tràn qua như tuyến đê phá Tam
Giang (Thừa Thiên Huế), đê hữu Nhật Lệ (Quảng Bình) Ngoài các đoạn đê biển
trực tiếp chịu tác động của sóng, gió có kè lát mái bảo vệ, còn lại, mái đê chỉ trồng
cỏ. Đê vùng cửa sông được bảo vệ bằng cây chắn sóng với các loại cây sú, vẹt,
đước.
Một số tồn tại chính của các tuyến đê biển Trung Trung Bộ như sau:
- Còn 240km/560km đê biển, đê cửa sông chưa được đầu tư tu bổ nâng cấp
còn thấp nhỏ, chưa đảm bảo cao độ thiết kế.
- Trừ đoạn đê thuộc thành phố Đà Nẵng có chiều rộng mặt đê trên 4,0m, còn
lại chiều rộng mặt đê < 3,5m, thậm chí có đến 272km mặt đê chỉ rộng 1,5÷2,0m gây
khó khăn rất lớn cho việc đi lại cũng như cứu hộ đê.
- 21 -
- Toàn bộ mặt đê chưa được
gia cố hóa, về mùa mưa bão mặt đê

Có thể nói các tuyến đê biển, đê cửa sông, đê bao chống lũ là lá chắn bảo vệ
an toàn cho nhân dân vùng ven biển, vùng lũ, một số tuyến đê cũng là tuyến phòng
thủ trong an ninh quốc phòng.
Các tuyến đê được xây dựng trước năm 1975, có quy mô nhỏ, qua quá trình
chống chọi với thiên nhiên, ảnh hưởng triều của biển, đê cũng được tu bổ bồi đắp đê
ổn định dần.
Các tuyến đê xây dựng sau năm 1975:
Hệ thống đê Gò Công (xây dựng từ 1976 ÷ 1985) có chiều dài 21,22 km, cao
trình +3,5m, bề rộng mặt đê từ 4÷5m. Đây là tuyến đê kiên cố nhất Nam Bộ, với
diện tích đất bảo vệ 65.000ha
Hệ thống đê Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (xây dựng từ 1994÷1995) có chiều
dài 43km, cao trình +2,8m, mặt đê rộng 4m, xây dựng hệ thống cống dưới đê vừa
và nhỏ từ 1 đến 2 cửa, mỗi cửa 1,8m, có thể đánh giá là hệ thống đê cống ngăn mặn
tương đối kiên cố và đồng bộ được thử thách qua trận bão lịch sử vào tháng 11/1997
sau đó đã được nâng cấp.
Hình 1.11: Hình ảnh đê biển tỉnh Sóc Trăng
Hiện nay khu vực Nam Bộ có 16 tuyến đê biển với chiều dài 444,36km; 2
tuyến kè biển với tổng chiều dài 16,5km.
Đánh giá chung về hệ thống đê biển, đê cửa sông Nam Bộ:
- 23 -
- Đê biển, đê cửa sông đã phát huy tác dụng ngăn mặn xâm nhập vào đồng,
bảo vệ đất canh tác cho những vùng ngọt hóa.
- Nhiều nơi đê đã góp phần khai hoang lấn biển, mở rộng đất canh tác.
- Việc xây dựng đê biển và các công trình trên đê trong các năm qua trên
thực tế đã góp phần quan trọng trong việc chủ động điều tiết nguồn nước góp phần
chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển giao thông nông thôn, củng cố an ninh quốc
phòng.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều mặt hạn chế như:
- Cao trình nhiều tuyến đê biển, đê cửa sông hiện chưa đủ khả năng phòng
chống thiên tai, khi gặp triều cường và bão thường bị thiệt hại lớn.

1.4.2. Hiện trạng ổn định đê biển nước ta hiện nay
Qua thu thập tài liệu về tình hình làm việc đê biển của các tỉnh nhìn chung có
thể đánh giá về ổn định đê một cách tổng quát:
Trong điều kiện khí tượng thủy hải văn bình thường, mực nước triều trung
bình cao, có gió dưới cấp 7 và không có mưa lũ nội đồng thì phần lớn đê biển là ổn
định. Hoặc có thể xảy ra những hư hỏng nhỏ cục bộ như xói mái đê phía biển dưới
tác dụng của sóng đối với đoạn không gia cố, sạt lở mái phía đồng khi mực nước
sông cao hoặc làm dịch chuyển các hòn đá kè lát mái.
Đê biển mất ổn định trong điều kiện khí tượng hải văn không bình thường: với
mực nước triều trung bình cao, gặp gió bão cấp 8 trở lên thì đê biển bị hư hỏng. Các
dạng hư hỏng thường gặp như:
- Sạt, sập mái đê phía biển hoặc cửa sông dọc theo tuyến đê, đặc biệt là các
đoạn trực tiếp với sóng gió do sóng cao hoặc do lũ tràn qua đê từ phía đồng ra phía
biển;
- Sạt, sập mái đê phía biển và cả phía đồng trong trường hợp sóng leo đổ vào
mái đê xói mòn mái.
- Vỡ nhiều đoạn hoặc đứt cả tuyến do nước lũ tràn qua đê từ phía đồng ra biển.
1.4.3. Những vấn đề tồn tại trong việc khảo sát, thiết kế, thi công và quản lý đê
biển
1.4.3.1. Về công tác khảo sát thiết kế
Chạy dọc dải ven biển, các tuyến đê thường rất dài, địa chất đất nền luôn
thay đổi trên toàn tuyến, trong khi khoảng cách các hố khoan quá xa nên khó mô tả
hết được đặc điểm địa chất dưới đất nền. Hiện nay, công tác khảo sát địa chất và thí
nghiệm đất phục vụ thiết kế thi công xây dựng đê chủ yếu sử dụng các phương pháp
sau đây :
- Khoan bằng tay, bằng máy và lấy mẫu nguyên dạng;
- Khoan xuyên tĩnh, cắt cánh;
Ngoài ra, việc lấy mẫu đất, bảo quản mẫu chưa đảm bảo yêu cầu, có thể
trong quá trình vận chuyển do khoảng cách từ nơi lấy mẫu đến phòng thí nghiệm rất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status