ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐỖ XUÂN THUẤN
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG ĐẤT NGẬP NƯỚC
Ở HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH VÀ
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HỢP LÝ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Xác nhận học viên đã chỉnh sửa theo góp ý của hội đồng
Giáo viên hướng dẫn
Chủ tịch hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ khoa học
PGS.TS. Trần Yêm
PGS.TS. Trần Văn Thụy
Hà Nội - 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn:
PGS.TS. Trần Yêm, đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ này.
Khoa Môi trƣờng, Trƣờng Đại học KHTN - ĐH Quốc gia Hà Nội đã giúp tôi
hoàn thành chƣơng trình học và bản luận văn này.
Chi cục bảo vệ môi trƣờng tỉnh Thái Bình, Chi cục nuôi trồng thủy sản tỉnh
Thái Bình, Phòng Tài nguyên và Môi trƣờng huyện Thái Thụy, Ủy ban nhân dân
các xã Thái Thƣợng, Thái Đô, Thụy Trƣờng, Thụy Xuân và Thụy Hải đã giúp tôi
trong quá trình nghiên cứu đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn chân thành nhất tới
gia đình, bạn bè, và đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời
gian qua.
1.2.3. Các mô hình liên quan đến sử dụng hợp lý ĐNN tại Việt Nam 15
1.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu 18
1.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 18
1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 20
Chƣơng II. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 23
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu 23
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 23
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 23
2.2.1. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu 23
2.2.2. Phƣơng pháp khảo sát thực tế 23
2.2.3. Phƣơng pháp chuyên gia 24
iii
Chƣơng III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1. Các yếu tố tác động tới hiệu quả và chất lƣợng quản lý, bảo tồn, khai thác
và sử dụng đất ngập nƣớc khu vực huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 25
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên 25
3.1.2. Các đặc điểm kinh tế, xã hội 36
3.2. Diễn biến ĐNN khu vực huyện Thái Thụy tầm nhìn đến năm 2020 52
3.2.1. Các kiểu ĐNN huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 52
3.2.2. Các dịch vụ sinh thái huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 53
3.2.3. Diễn biến ĐNN 05 xã ven biển huyện Thái Thụy tầm nhìn đến
năm 2020 55
3.3. Định hƣớng sử dụng hợp lý đất ngập nƣớc ở huyện Thái Thụy,
tỉnh Thái Bình 61
3.3.1. Sử dụng ĐNNVB để phát triển nuôi trồng và đánh bắt hải sản 61
3.3.2. Sử dụng ĐNNVB để phát triển du lịch 62
3.4. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo vệ đất ngập nƣớc
ở Huyện Thái Thụy, Tỉnh Thái Bình 71
Bảng 3.13. Dự báo diễn biến đất ngập nƣớc xã Thụy Trƣờng đến năm 2020 60
Bảng 3.14. Hiệu quả kinh tế theo phƣơng thức nuôi trồng thủy sản tại khu vực
nghiên cứu 61
Bảng 3.15. Khuyến nghị về phƣơng thức tổ chức một tour sinh thái 67
v
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí 05 xã ven biển huyện Thái Thụy 30
Hình 3.2. Rừng ngập mặn tại xã Thái Đô 31
Hình 3.3. Cơ cấu ngành nông nghiệp 05 xã huyện Thái Thụy năm 2013 39
Hình 3.4. Giá trị ngành công nghiệp – xây dựng trên địa bàn 05 xã huyện
Thái Thụy 41
Hình 3.5. Bãi biển ở Cồn Đen 69
Hình 3.6. Hệ thực vật ở Cồn Đen 69
Hình 3.7. Dự án du lịch sinh thái ở Cồn Đen 70 vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
BBVB
Bãi bồi ven biển
BTC
Bán thâm canh
ĐDSH
khoảng 8% diện tích toàn bộ các vùng ĐNN của Châu Á. ĐNN Việt Nam gồm 2
nhóm: ĐNN nội địa và ĐNN ven biển. ĐNN ven biển phân bố rộng khắp chiều dài
bờ biển Việt Nam bao gồm rừng ngập mặn (RNM), ĐNN cửa sông, bãi triều, đầm
phá và vùng biển có độ nƣớc sâu không quá 6 m khi triều kiệt. Tuy nhiên, ĐNN của
thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam đang bị suy giảm khá mạnh cả về chất và lƣợng do
nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có nguyên nhân do các tác động của các
hoạt động phát triển kinh tế, xã hội của con ngƣời cũng nhƣ ảnh hƣởng của các yếu
tố tự nhiên.
ĐNN thƣờng rất nhạy cảm với các hoạt động của con ngƣời và các tác động
của thiên nhiên. Do đó, việc quản lý ĐNN một cách hợp lý, sao cho vừa sử dụng
những tài nguyên của ĐNN để phục vụ cuộc sống của ngƣời dân và cho xã hội
nhƣng vẫn duy trì đƣợc các chức năng và thuộc tính của ĐNN đang trở thành mối
quan tâm của các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và ban hành các
quyết định liên quan đến ĐNN.
Huyện Thái Thụy nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Bình, là huyện giáp biển
với bờ biển dài 27 km và hàng chục nghìn km
2
lãnh hải, có 3 cửa sông lớn
(cửa Diêm Hộ, cửa Trà Lý và cửa Lân) hàng năm đổ ra biển một lƣợng lớn phù sa,
vùng biển Thái Thụy có một tiềm năng hải sản phong phú. Khu vực ĐNN huyện
Thái Thụy có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế địa phƣơng, bảo tồn
đa dạng sinh học (ĐDSH), bảo vệ môi trƣờng (BVMT) và phòng tránh thiên tai.
2
Khu vực đất ngập nƣớc huyện Thái Thụy có sự đa dạng về tài nguyên;
các hệ sinh thái (HST) đặc thù, sự đa dạng về thành phần loài cao. Chính vì vậy,
các nguồn tài nguyên của khu vực huyện Thái Thụy đang đƣợc đẩy mạnh khai thác
phục vụ phát triển kinh tế nhƣ nuôi trồng và đánh bắt thủy sản và du lịch.
Tuy nhiên, hiện nay ĐNN khu vực huyện Thái Thụy đang đối mặt với nhiều
thách thức trong việc khai thác, sử dụng và quản lý ĐNN. Sức ép của sự gia tăng
- Nghiên cứu, đánh giá và xác định đƣợc các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả
và chất lƣợng quản lý, khai thác và sử dụng ĐNN ở huyện Thái Thụy.
- Dự báo diễn biến ĐNN tại khu vực huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo tồn ĐNN khu vực
huyện Thái Thụy.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Luận văn nghiên cứu các luận cứ lý thuyết và thực tiễn về sử dụng hợp lý
ĐNN, các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng và hiệu quả quản lý, bảo tồn, khai thác
và sử dụng tài nguyên ĐNN tại những vùng ĐNN đặc trƣng thuộc huyện
Thái Thụy, trên cơ sở phân tích này đề xuất đƣợc các giải pháp sử dụng hợp lý
ĐNN tại huyện Thái Thụy.
- Luận văn xác định và đánh giá sự tham gia của các bên liên quan đặc biệt là
vai trò của cộng đồng địa phƣơng tại huyện Thái Thụy.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các giải pháp sử dụng hợp lý ĐNN có thể sử dụng là tài liệu tham khảo cho
các nhà quản lý địa phƣơng, góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động quản lý và
bảo tồn ĐNN tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
4
Chƣơng I. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về đất ngập nƣớc
1.1.1. Khái niệm đất ngập nước
Đất ngập nƣớc (ĐNN) rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành
quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới. ĐNN đã và đang bị
suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay ngƣời ta đã nhận biết đƣợc
các chức năng và giá trị to lớn của chúng (Mitsch và Gosselink, 1986&1993;
Dugan, 1990; Keddy, 2000).
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 50 định nghĩa về ĐNN (Mitsch and
Gosselink, 1986 & 1993; Dugan, 1990). Nhiều tài liệu ở các nƣớc nhƣ Canada,
5. Đầm
6. Các hệ thống phụ bao gồm:
1. Bán thuỷ triều 5. Trên triều
2. Gian triều 6. Gián đoạn
3. Thủy triều 7. Nước ngọt
4. Dưới triều 8. Ven biển
Lớp ĐNN cụ thể hay nơi cƣ trú nƣớc sâu mô tả sự xuất hiện nói chung của
hệ sinh thái cả dƣới dạng thực vật ƣu thế và cả kiểu dạng chất nền. Khi độ che phủ
của thảm thực vật vƣợt quá 30% thì lớp thảm thực vật đƣợc sử dụng (ví dụ, ĐNN
cây bụi – bụi). Nếu nhƣ chất nền bị che phủ bởi thảm thực vật nhỏ hơn 30% thì khi
đó lớp chất nền đƣợc sử dụng (ví dụ nền đáy không đƣợc vững chắc).
b) Phân loại ĐNN của công ƣớc Ramsar
Vào những năm đầu của thập kỷ 70, Công ƣớc Ramsar (1971) đã phân ĐNN
thành 22 kiểu mà không chia thành các hệ và lớp.
Trong quá trình thực hiện Công ƣớc và thực tiễn áp dụng vào các vùng và
các quốc gia khác nhau, sự phân hạng này đã thay đổi. Vào năm 1994, phụ lục 2B
của Công ƣớc Ramsar đã chia ĐNN thành 3 nhóm chính đó là: 1) ĐNN ven biển và
biển (11 loại hình); 2) ĐNN nội địa (16 loại hình); và 3) ĐNN nhân tạo (8 loại hình)
(Davis, 1994 - Ramsar Convention Bureau) với tổng cộng 35 loại hình. Cũng theo
Ramsar Convention Bureau (1997a,b - 2nd edition), thì các loại hình ĐNN đã đƣợc
xem xét lại và chia thành 40 kiểu khác nhau. Trong những năm gần đây, hệ thống
phân loại ĐNN đã đƣợc xem xét, chỉnh sửa, bổ sung thành 42 kiểu.
6
c) Hệ thống phân loại ĐNN của tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN
wetland classification, Dugan, 1999)
Hệ thống phân loại này thể hiện quan điểm sinh thái phát sinh, đã hình thành
các đơn vị sơ cấp và các đơn vị thứ cấp. Có bốn cấp phân vị, cấp một dựa vào
đặc trƣng của nƣớc để chia thành nhóm các dạng ĐNN mặn (1) và nhóm các dạng
nƣớc ngọt (2), nhƣng nhóm ba (3) lại dựa vào hiện trạng sử dụng đất để hình thành
liệt kê và mô tả bao gồm: 1) Các vịnh nông và các eo biển có độ sâu 6m khi triều
thấp; 2) Các vùng cửa sông, châu thổ; bãi triều; 3) Những vùng bờ biển có đá,
vách đá, bãi cát hay bãi sỏi; 4) Vùng đầm lầy ngập mặn, rừng ngập mặn; 5) Những
đầm phá ven biển dù là nƣớc mặn hay nƣớc lợ; 6) Ruộng muối (nhân tạo); 7) Ao
nuôi trồng thủy sản; 8) Sông suối và hệ thống thoát nƣớc nội địa; 9) Đầm lầy
ven sông; đầm lầy nƣớc ngọt; 10) Hồ chứa nƣớc tự nhiên; hồ chứa nƣớc nhân tạo;
11) Rừng ngập nƣớc theo mùa (nhƣ rừng Tràm); 12) Đất cầy cấy ngập nƣớc,
đất đƣợc tƣới tiêu; 13) Bãi than bùn (Nguồn: Chiến lƣợc đất ngập nƣớc Việt Nam,
2000).
Năm 2001, Cục Môi trƣờng (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trƣờng) đã
công bố tài liệu “Các vùng ĐNN có giá trị đa dạng sinh học và môi trƣờng của Việt
Nam”. Trong tài liệu này, những ngƣời biên soạn đã đƣa ra một bảng phân loại
ĐNN tạm thời để tham khảo dựa trên cách phân loại ĐNN của Ramsar
(Classification System for “Wetland Types”). Kèm theo là danh sách 68 khu ĐNN
đã đƣợc kiểm kê theo tiêu chí có giá trị cao về đa dạng sinh học và bảo vệ môi
trƣờng của Việt Nam.
Bảng phân loại ĐNN của Cục Môi trƣờng gồm có 39 loại hình ĐNN
(wetland type). Hệ thống phân loại này dựa vào Hệ thống phân loại các vùng ĐNN
(Classification System for "Wetland Type") của Ramsar đã đƣợc chấp nhận trong
Bản khuyến nghị 4.7 (Recommendation 4.7) và đã đƣợc sửa đổi trong Nghị quyết
VI.5 của Hội nghị Cam kết giữa Các bên Tham gia. Nhƣng hệ thống phân loại này
đã đƣợc lƣợc bỏ một số kiểu ĐNN không có ở Việt Nam.
b) Phân loại/ Kiểm kê đất ngập nƣớc của Lê Diên Dực (1989)
Hệ thống phân loại đất ngập nƣớc này dựa trên hệ thống phân loại của
công ƣớc Ramsar (1971). Theo hệ thống phân loại này Việt Nam có 20 loại
đất ngập nƣớc nhƣ sau:
8
1. Các vịnh nông từ 6m trở lại khi triều thấp;
2. Các vùng cửa sông, châu thổ;
thế nào là ĐNN và biết đƣợc trên đất nƣớc Việt Nam có những vùng ĐNN nào,
các đặc điểm, chức năng và giá trị của chúng ra sao. Đầu những năm 1990, sự
hiểu biết về ĐNN ở Việt Nam còn rất hạn chế, đây là tài liệu đầu tiên của những
ngƣời đầu tiên nghiên cứu về ĐNN ở nƣớc ta.
c) Phân loại ĐNN của Nguyễn Chu Hồi (1999)
Theo Nguyễn Chu Hồi và các tác giả khác, những vùng ĐNN và hệ sinh thái
ĐNN ven biển thực chất là những đơn vị cấu trúc tự nhiên tồn tại độc lập nhƣng
phát triển trong mối quan hệ gắn bó với các hệ lân cận Vì vậy đòi hỏi phải có
phƣơng thức khai thác, sử dụng và quản lý phù hợp. Với mục đích nhƣ vậy và
dựa vào hệ thống phân loại ĐNN của Cowardin. L.M (1979) cùng những kết quả áp
dụng cho các vùng ven biển SriLanka (1994), Nguyễn Chu Hồi đã chia ĐNN ven
biển thành ba nhóm lớn: Các vùng đất thấp ven biển; vùng ĐNN triều và các đảo
hoang nhỏ. Trong mỗi nhóm này, căn cứ vào mức độ phủ thực vật, không phủ
thực vật và đặc điểm nền đáy để chia thành các kiểu ĐNN khác nhau. Nhìn chung
các tiêu chí và cơ sở phân loại của hệ thống phân loại ĐNN của Nguyễn Chu Hồi
phù hợp cho sử dụng và khai thác ĐNN.
d) Phân loại ĐNN của Vũ Trung Tạng (2004)
Trong tạp chí khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội (ISSN 0866-8612)
PGS.TS.Vũ Trung tạng đã có bài viết về “Những quan điểm và sự phân loại ĐNN ở
Việt Nam”.
Về quan điểm, tác giả đồng tình với định nghĩa về ĐNN của Ramsar để
sử dụng trong phân loại ĐNN của Việt Nam. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng ĐNN là
kết quả tổ hợp của 3 yếu tố chính: Đất, nƣớc và thảm thực vật tồn tại trong đó.
Từ những quan điểm nhƣ vậy, tác giả cho rằng việc phân loại ĐNN cần đề cập đến
các tiêu chuẩn sau: (i) Đất và cấu trúc của đất; (ii) Đặc tính của nƣớc và chế độ
ngập nƣớc; (iii) Thảm thực vật tồn tại và phát triển trên đó. Tuy nhiên, tác giả nhấn
mạnh rằng nƣớc và chế độ ngập nƣớc là yếu tố hàng đầu trong phân loại ĐNN vì
chúng chi phối đến sự biến đổi về cấu trúc và tính chất của đất cũng nhƣ cả hệ thực
vật phát triển trên đó.
10
động vật.
11
b) Dịch vụ điều tiết
Nguồn và bể chứa khí nhà kính; tác động đến nhiệt độ, lƣợng mƣa và các
quá trình khí hậu khác ở mức độ địa phƣơng và khu vực nạp/tiết nƣớc ngầm giữ,
phục hồi và loại bỏ các chất dinh dƣỡng thừa và các chất ô nhiễm khác qua
quá trình tự xử lý giữ đất và bồi lắng trầm tích kiểm soát lũ, chống bão nơi cƣ trú
cho các loài thụ phấn.
c) Dịch vụ văn hóa
Nguồn tinh thần; rất nhiều tín ngƣỡng đƣa các giá trị tinh thần và tín ngƣỡng
vào các khía cạnh của dịch vụ HST ĐNN; các cơ hội cho giải trí; rất nhiều ngƣời
tìm thấy vẻ đẹp và giá trị thẩm mỹ của ĐNN; các cơ hội cho giáo dục và đào tạo
chính thức và không chính thức.
d) Dịch vụ hỗ trợ
Giữ trầm tích và tích lũy các chất hữu cơ; lƣu giữ, tài chế và thu nhận các
chất dinh dƣỡng
1.1.4. Các bên liên quan và sự tham gia trong bảo tồn
Do mục đích sử dụng các dịch vụ HST khác nhau, các bên liên quan, quan
tâm đến đến các loại hình dịch vụ này cũng khác nhau. Vì vậy, xác định rõ vai trò,
sự quan tâm của các bên liên quan và sự tham gia của họ trong quá trình bảo tồn và
sử dụng ĐNN là hết sức quan trọng. Các bên liên quan trong bảo tồn là những
ngƣời bị tác động, những ngƣời bị ảnh hƣởng, có quyền hành, hoặc những ngƣời có
mối quan tâm tới sự thành công hay thất bại của các giải pháp bảo tồn đƣa ra. Tham
gia là một khái niệm chung chỉ sự liên quan của các nhóm hay các cá nhân trong
quá trình quyết định (IUCN, 2008) [8]. Các bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng địa
phƣơng khi tham gia nâng cao tính “sở hữu”, vì thế sẽ cảm nhận sâu sắc hơn sự cam
kết và hoạt động quản lý các mục tiêu bảo tồn nếu họ đƣợc cơ hội tham gia [21].
Thông thƣờng, các bên liên quan đến quản lý, khai thác và bảo tồn đa dạng
sinh học liên quan đến nhiều bên với các cấp độ tham gia khác nhau, một số bên
thủy sản, nông dân, ngƣời chăn nuôi gia súc, thợ săn, du khách, và cƣ dân
địa phƣơng. Một kế hoạch chiến lƣợc đƣợc các cơ chính phủ, các viện nghiên cứu,
các NGO và đại diện cộng đồng xây dựng. Qua nhiều hội thảo, các bên liên quan đã
có cơ hội xác định các vấn đề bảo tồn chính đối với các vùng ĐNN và tham gia
đóng góp vào việc xây dựng chiến lƣợc bảo tồn ĐNN (Correa, 2006) [16].
13
b) Mô hình tại Nhật Bản
Yatsu Higata là một bãi bùn gian triều nằm ở tận cùng phía bắc của vịnh
Tokyo. Nó hầu nhƣ bị bao quanh bởi đất đô thị nhƣng vẫn duy trì liên hệ với vịnh
Tokyo qua hai kênh hẹp cho phép các dòng thủy triều vào ra; 90% diện tích các bãi
bùn ở vịnh Tokyo đã bị cải tạo, Yatsu Higata đóng vai trò quan trọng là nơi dừng
chân và trú đông cho nhiều loài chim nƣớc di cƣ trên đƣờng bay Đông Á - Úc Châu.
Những mối đe dọa trƣớc hết đến công tác bảo tồn liên quan đến chất lƣợng nƣớc từ
vịnh Tokyo. Các nhà chức trách địa phƣơng, các tổ chức bảo tồn và thị dân đều
tham gia vào hỗ trợ quản lý vùng thông qua xây dựng kế hoạch quản lý, thu lƣợm
rác, giám sát chất lƣợng nƣớc và giám sát các loài chim (Tobai, 2008) [20].
c) Mô hình tại Canada
Vùng cửa sông Grand Codroy nằm ở bờ phía tây của Đảo Newfoundland,
khoảng 30 km về phía bắc của cảng Aux Basques, là một phần trong đƣờng bay
Đại Tây Dƣơng ở Bắc Mỹ. Khả năng sẽ có sự phát triển quá mức ở đây do nó đang
thu hút nhiều ngƣời đến mua các khu nghỉ dƣỡng. Ngƣời dân địa phƣơng tham gia
cung cấp các kiến thức sinh thái địa phƣơng, tham dự vào việc xây dựng các thỏa
thuận về quyền quản lý và cung cấp lao động và nguồn lực cho các hoạt động
bảo tồn (Cahill, 2007) [15].
1.2.2.2. Các mô hình liên quan sử dụng hợp lý đất ngập nước trong khu vực
a) Mô hình phục hồi RNM Kalibo, Philippin [5]
Dự án trồng lại RNM Buswang đƣợc khởi động năm 1990 tại huyện Kalibo
Aklan thông qua hội bảo tồn RNM Kalibo. Dự án đƣợc thực hiện tại một vùng 50
ha ven biển gần với cửa sông Barangay thuộc Kalibo với 28 hộ gia đình là những
giữa cán bộ dự án và nhân dân địa phƣơng thì cán bộ của Yad Fon sẽ hƣớng dẫn địa
phƣơng giải quyết một vài vấn đề bức xúc nhất của họ. Qua các hội thảo và thảo
luận một cách cởi mở với những ngƣời dân địa phƣơng, những vấn đề của cộng
đồng đã đƣợc thảo luận và chính cộng đồng sẽ đƣa ra giải pháp.
Những dự án nhỏ dựa vào cộng đồng nhƣ đào một giếng nƣớc ăn đã đƣợc
thực hiện và trong quá trình thực hiện những dự án kiểu này thì khả năng tổ chức
của lãnh đạo địa phƣơng lớn mạnh hơn ở những cộng đồng đã đƣợc tổ chức tốt.
15
Khi một cộng đồng địa phƣơng đƣợc tổ chức tốt thì khả năng lãnh đạo cũng đƣợc
tăng cƣờng. Với những kết quả rõ ràng của những dự án nhỏ kiểu này, sự tự tin của
của ngƣời dân sẽ tăng lên và có thể đối phó đƣợc với những thách thức lớn hơn.
Ngƣời dân cũng đã bắt đầu hồi phục và quản lý nguồn tài nguyên ven biển
của họ kể cả RNM gần kề. Cùng với những lời khuyên và giáo dục ban đầu của Yad
Fon về sử dụng bền vững TNTN của mình, dân làng đã nỗ lực thực hiện chƣơng
trình tự quản lý và giám sát tài nguyên ven biển của họ. Những cộng đồng lân cận
cũng đã quan tâm và đặt ra một số câu hỏi với cộng đồng. Từ bốn xã ban đầu đến
nay Yad Fon đang làm việc với trên 30 xã với những kết quả đáng ghi nhận.Khái
niệm về “rừng cộng đồng” là một trong những mốc quan trọng trong hoạt động của
Yad Fon (Cục Bảo vệ môi trƣờng, 2006) [4].
1.2.3. Các mô hình liên quan đến sử dụng hợp lý ĐNN tại Việt Nam
Hiện nay tại Việt Nam có nhiều mô hình sử dụng hợp lý ĐNN đã đƣợc
áp dụng và cho kết quả khả quan. Mỗi mô hình, mỗi địa phƣơng có cách làm và
tiếp cận khác nhau để giải quyết các vấn đề, tuy nhiên điểm then chốt trong hầu hết
các mô hình này là huy động đƣợc sự tham gia, hỗ trợ của các bên liên quan,
đặc biệt là cộng đồng địa phƣơng và có cơ chế phù hợp. Một số mô hình có các loại
hình ĐNN và điều kiện tự nhiên, xã hội tƣơng tự với ĐNN ở huyện Thái Thụy đã
đƣợc áp dụng trong thời gian qua nhƣ sau:
a) Mô hình sử dụng hợp lý ĐNN tại Vƣờn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định
(Vƣờn quốc gia Xuân Thủy, 2012) [14]
tôm sinh thái (Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng, 2004) [10].
Hồi phục hệ sinh thái RNM là cần thiết để tạo ra một vành đai xanh
bao quanh thành phố Hồ Chí Minh. Gần nhƣ tất cả RNM đã bị hủy hoại bởi chất
diệt cỏ do lực lƣợng không quân Mỹ sử dụng trong thời gian chiến tranh ở
Việt Nam. HST Cần Giờ là Khu dự trữ Sinh quyển RNM đầu tiên trên thế giới.
Trong hơn 22 năm các cán bộ lâm nghiệp đã làm việc với nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh để hồi phục RNM (Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ, 2011) [6].
Bốn yếu tố đƣợc xem là chìa khóa của việc hồi phục HST này gồm: (1)
Chính sách hỗ trợ của chính quyền thành phố; (2) Cam kết ở cấp độ cao của cán bộ
17
của cơ quan lâm nghiệp; (3) Sự đóng góp của nhân dân địa phương vào việc trồng
và bảo vệ rừng; (4) Hỗ trợ tài chính và công tác khuyến lâm giúp đỡ dân cư trong
rừng tạo thu nhập.
Các khía cạnh của Tiếp cận HST đã đƣợc làm rõ trong nghiên cứu: Bảo tồn,
chia sẻ lợi ích một cách công bằng và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên đều
đƣợc đồng thời đề cập. Sản phẩm và dịch vụ đƣợc xác định, bao gồm các sản phẩm
rừng, nguồn lợi thủy sản, sản xuất muối, cố định cacbon; và một cảnh quan hấp dẫn
giải trí, nghỉ ngơi, du lịch sinh thái, giáo dục và nghiên cứu. Dân cƣ địa phƣơng đã
đóng góp đáng kể vào việc trồng và bảo vệ rừng. Chính phủ giao rừng cho nhân dân
địa phƣơng quản lý, và ngƣợc lại, để bảo vệ rừng thì ngƣời dân đƣợc phép thu
hoạch hải sản trong khu vực đƣợc giao. Những lợi ích mà ngƣời dân địa phƣơng
đƣợc hƣởng tăng lên một cách nhanh chóng nên họ đƣợc động viên làm việc
tích cực trong việc trồng và bảo vệ rừng.Hai cấp độ quản lý đƣợc xác định: UBND
Thành phố Hồ Chí Minh và cộng đồng trong vùng có rừng.
d) Mô hình KBT biển Rạn Trào tại xã Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa (Trung tâm
bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng, 2010) [9].
Bài học kinh nghiệm cho thấy hạt nhân địa phƣơng là một trong những
yếu tố then chốt để triển khai mô hình KBT biển Rạn Trào. Đa dạng huy động
nguồn lực. Bên cạnh những nguồn lực chính thống từ Ngân sách Nhà nƣớc thì các