TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
BỘ MÔN SINH HỌC – MÔI TRƯỜNG
TRƯƠNG MẠNH TRUNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÚA
TẠI HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH VÀ ĐỀ XUẤT
CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
QUẢNG BÌNH, 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
BỘ MÔN SINH HỌC – MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÚA
TẠI HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG
Họ tên sinh viên: Trương Mạnh Trung
Mã số sinh viên: DQB05130081
Chuyên ngành:Quản lý tài nguyên và môi trường
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Bùi Thị Thục Anh
QUẢNG BÌNH, 2017
Để hoàn thành khóa luận này em cũng xin cảm
ơn sự giúp đỡ của các cán bộ Trạm Khuyến Nông
Huyện Lệ Thủy, Phòng Nông nghiệp Huyện Lệ Thủy
đã tạo điều kiện cung cấp số liệu cũng như giúp
đỡ em trong quá trình tìm hiểu thực tế.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện của gia đình,
bạn bè để em hoàn thành khóa luận này.
Lệ Thủy, ngày
tháng
năm 2017
Sinh viên
Trương Mạnh Trung
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI .......................................................................... 1
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.................................................................................... 1
1.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .................................................................................... 1
1.4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ................................................................................. 2
1.5. THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ......................................................... 2
1.6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU ........................................................................... 2
1.6.1. Phương pháp thu thập thông tin ........................................................................... 2
1.6.2. Xử lý thông tin ...................................................................................................... 2
PHẦN 2: NỘI DUNG ...................................................................................................... 3
2.4. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỆ THUỶ ................................................................ 27
2.4.1. Tác động của biến đổi khí hậu đến diện tích sản suất lúa trên địa bàn huyện Lệ
Thuỷ ..................................................................................................................................... 27
2.4.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa ........ 29
2.4.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến tình hình sâu bệnh hại cây lúa .................. 30
2.5. GIẢI PHÁP THÍCH NGHI VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA NGƯỜI DÂN .. 32
2.5.1. Giải pháp công trình ............................................................................................ 32
2.5.2. Giải pháp phi công trình ..................................................................................... 33
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................... 35
3.1. KẾT LUẬN ............................................................................................................. 35
3.2. KIẾN NGHỊ ............................................................................................................ 36
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
IPCC
: Tổ chức Liên Chính Phủ về Biến đổi khí hậu.
TNMT
: Tài nguyên môi trường
UBND
: Ủy ban nhân dân
BĐKH
: Biến đổi khí hậu
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Khoá luận tốt nghiệp “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt
động sản xuất lúa tại huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình và đề xuất các giải pháp
thích ứng”. Đã được thực hiện từ tháng 01/2017 đến tháng 05/2017 nội dung chính
của đề tài nghiên cứu các vấn đề:
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của Huyện Lệ Thủy
- Biểu hiện của biến đổi khí hậu tại Huyện Lệ Thuỷ
- Thực trạng của ngành sản xuất lúa trên địa bàn Huyện Lệ thuỷ: vai trò của
sản xuất lúa đối với kinh tế hộ gia đình, quy mô sản xuất lúa trên địa bàn Huyệ Lệ
Thủy, các giống lúa trên địa bàn.
- Tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa trên địa bàn Huyện
Lệ Thuỷ: Tác động của biến đổi khí hậu đến diện tích sản xuất lúa, ảnh hưởng đến
sinh trưởng và phát triển của cây lúa, và tình hình sâu bệnh hại của cây lúa trên địa
bàn Huyện lệ Thủy
Sau khi quá trình thực hiện, đã đạt được kết quả và đưa ra được các giải pháp
thích ứng đối với biến đổi khí hậu của người dân qua các giải pháp công trình và
phi công trình.
Với các kết quả đạt được cho thấy biến đổi khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến nông
nghiệp nói chung và ngành sản xuất lúa nói riêng, hậu quả chúng mang lại ngày
càng lớn, diển tích và sản lượng giảm, kinh tế giảm sút chính vì vậy cần có các biện
pháp kịp thời để ứng phó và mang lại hiệu quả cao góp phần giúp ích cho người
dân.
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Biến đổi khí hậu đang là vấn đề nóng và là mối quan tâm lớn của toàn cầu. Ở
Việt Nam với vị trí địa lí bờ biển dài 3260 km, tiếp giáp với biển Đông đang là đối
1
b. Thực trạng của ngành sản xuất lúa trên địa bàn Huyện Lệ Thủy
c. Biểu hiện của biến đổi khí hậu tại huyện Lệ Thủy
d. Tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa trên địa bàn huyện
Lệ Thủy
e. Giải pháp thích nghi với biến đổi khí hậu của người dân.
1.4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Hoạt động sản xuất lúa
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Lệ Thủy
1.5. THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Huyện Lệ Thủy, tỉnh
Quảng Bình.
- Phạm vi về thời gian: từ năm 2010 đến 2016
1.6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU
1.6.1. Phương pháp thu thập thông tin
* Thông tin thứ cấp: Thu thập các thông tin có liên quan tới đề tài được công
bố trên các trang báo, tạp chí, trên mạng internet, sách, các báo cáo, kết quả của các
chương trình, dự án đã thực hiện tại địa phương, báo cáo tổng kết hoạt động của
thôn, xã.
* Thu thập thông tin sơ cấp:
- Thu thập thông tin từ các cán bộ phụ trách nông nghiệp xã, huyện, khuyến
nông cơ sở.
- Phỏng vấn hộ nông dân có kinh nghiệm trong sản xuất lúa trong vùng về
những thay đổi trong điều kiện sản xuất lúa. Phỏng vấn 30 hộ thuộc các xã An
Thuỷ, xã phong thuỷ và xã hồng thuỷ huyện Lệ thuỷ, Quảng Bình.
1.6.2. Xử lý thông tin
0
C trong vòng Trong 100 năm qua, lượng mưa có xu hướng tăng ở khu vực vĩ độ
cao hơn 30 0C. Tuy nhiên, lượng mưa lại có xu hướng giảm ở khu vực nhiệt đới từ
giữa những năm 1970. Hiện tượng mưa lớn có dấu hiệu tăng ở nhiều khu vực trên
thế giới (IPCC,2007). Mực nước biển toàn cầu đã tăng trong thế kỷ 20 với tốc độ
ngày càng cao. Hai nguyên nhân chính làm tăng mực nước biển là sự giãn nở nhiệt
của địa dương và sự tan băng.
Số liệu quan trắc mực nước biển trong thời kỳ 1961 - 2003 cho thấy tốc độ
tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu khoảng 1,8 ± 0,5 mm/năm so với mức
độ gia tăng trung bình của thế kỷ 20 là 1,7 ± 0,5 mm/năm , trong đó đóng góp do
3
giãn nở nhiệt khoảng 0,42 ± 0,12 mm/năm và tan băng 0,70 ± 0,50 mm/năm (IPCC,
2007).
Số liệu đo đạc từ vệ tinh TOPEX/POSEIDON cho thấy giai đoạn 1993 - 2003
là giai đoạn có tốc độ gia tăng mực nước biển nhanh nhất, trung bình toàn cầu là 3,1
± 0,7 mm/năm. Đồng thời theo dự báo mực nước biển sẽ tăng lên trung bình từ 200
- 500mm vào năm 2100 so với mức của năm 2000 (IPCC, 2007).
Theo IPCC, đến cuối thế kỷ 21, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển sẽ đạt
540 – 970 ppm theo các kịch bản khác nhau về phát thải khí nhà kính, nghĩa là tăng
ít nhất gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp, và như vậy, nhiệt độ trung bình toàn
cầu sẽ tăng lên tương ứng là 2,0 - 4,50C, mực nước biển trung bình sẽ tăng lên từ
0,18 đến 0,59m so với cuối thế kỷ 20.
1.1.2.2. Biểu hiện biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến đổi của các
yếu tố khí hậu và mực nước biển có những điểm đáng lưu ý sau:
Nhiệt độ
Trong 50 năm qua (1958 - 2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng
Việt Nam. Nhận xét ban đầu cho thấy, nhiệt độ ở khu vực ven biển Việt Nam tăng
chậm hơn so với trong đất liền. Tính trung bình cho tất cả các trạm, chỉ vào khoảng
0,4 0C/50 năm. Một điểm đáng lưu ý là tuy mức độ tăng của nhiệt độ mùa đông vẫn
cao hơn so với nhiệt độ mùa hè, nhưng sự chênh lệch không rõ rệt trong lục địa, chỉ
khoảng 0 0C. Rõ ràng, vai trò của biển đã làm giảm mức tăng nhiệt độ ở các khu vực
này.
Bảng 1. 1: Thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa 50 năm qua ở các vùng khí hậu
và trung bình cho cả nước
Lượng mưa (%)
Nhiệt độ (0C)
Vùng khí
hậu
Số
lượng
trạm
Tháng 1 Tháng 7
Trung
bình
năm
Thời kỳ
Thời kỳ
12 - 5
0,6
0
-9
-7
Đồng
Bằng Bắc
Bộ
42
1,4
0,5
0,6
0
-13
-11
Bắc Trung
Bộ
Nam
12
0,9
0,4
0,6
19
9
11
Nam Bộ
18
0,8
0,4
0,6
27
6
9
Minh có xu hướng giảm đi, trong khi ở Đà Nẵng có xu hướng tăng lên. Tuy vậy, có
thể thấy trên phần lớn lãnh thổ lượng mưa giảm đi vào tháng 7, tháng 8 và tăng lên
vào tháng 9, 10, 11. Số ngày mưa phùn ở miền Bắc giảm một nửa, từ trung bình 30
ngày mỗi năm trong thập kỷ 1961-1970 xuống còn 15 ngày mỗi năm trong thập kỷ
1991-2000.
Lượng mưa mùa ít mưa (tháng 11 - 4) tăng lên chút ít hoặc không thay đổi
đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía
Nam trong 50 năm qua. Lượng mưa mùa mưa nhiều (tháng 5 - 10) giảm từ 5 đến
trên 10% trên đa phần diện tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng 5 đến 20% ở các
vùng khí hậu phía Nam. Xu thế diễn biến của lượng mưa năm hoàn toàn tương tự
như lượng mưa mùa mưa nhiều, tăng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các
vùng khí hậu phía Bắc. Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa ít mưa, mùa
mưa nhiều và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với các vùng khác ở nước ta,
khoảng 20% trong 50 năm qua.
Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958 2007) đã giảm khoảng 2% .
Không khí lạnh
Tần số hoạt động của không khí lạnh ở Bắc Bộ có xu thế giảm rõ rệt trong 3
thập kỷ qua, từ 288 đợt trong thập kỷ 1971 - 1980, 287 đợt trong thập kỷ 1981 1990, xuống còn 249 đợt trong thập kỷ 1991 - 2000. Tuy nhiên, các biểu hiện dị
thường lại thường xuất hiện mà gần đây nhất là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét
hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 ở Bắc Bộ. (Nguồn: Chương
trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, Bộ TNMT, 2008 )[3]
Bão
Trung bình hàng năm có 4 - 6 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam. Những năm gần
đây, bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn. Mùa hoạt động của bão kéo dài
hơn về cuối năm và quỹ đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía nam và mùa
bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có đường đi dị thường hơn. (Nguồn Thông
báo đầu tiên của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH, Bộ
TNMT, 2003).
6
nhiều sự bất thường về cường độ.
Sự gia tăng nhiệt độ, nước biển dâng dẩn đến hiện tượng xâm nhập mặn, lũ lụt
(thoát nước, tiêu nước và sạt lỡ đất), bão và áp thấp nhiệt đới, hạn hán sẽ là những
tác động nặng nề của biến đổi khí hậu.
Theo kịch bản biến đổi khí hậu đối với nhiệt độ và lượng mưa được xây dựng
cho bảy vùng khí hậu của Việt Nam, lượng mưa mùa khô có thể giảm, lượng mưa
mùa mưa và tổng lượng mưa năm có thể tăng tất cả các vùng khí hậu. Quảng Bình
là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ nên nhiệt độ trung bình tăng 3,60C vào năm 2100
7
và sẽ làm tăng số đợt nắng nóng và số ngày nắng nóng hàng năm. Mực nước biển
trung bình có thể tăng 65cm vào năm 2050, 75cm vào năm 2070 và dự tính đến
2100 có thể tăng khoảng 1m [10].
Nông nghiệp là lĩnh vực có vị trí cực kỳ quan trọng của nền kinh tế tỉnh Quảng
Bình. Theo số liệu thống kê năm 2015, nông nghiệp tỉnh có tổng giá trị 11.308 tỷ
đồng, chiếm 24,6% GDP.Trồng trọt chiếm diện tích lớn với 54.160 ha lúa, ngô
4.661 ha, lạc 4.881 ha, sắn 6.271 ha, cao su 18.361 ha. Chăn nuôi: trâu 35.370 con,
bò 90.856 con, lợn 362.490 con, gia cầm 2,74 triệu con.
Tuy nhiên những năm qua, tỉnh đã chịu tác động xấu của nhiều loại thiên tai
nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng gay gắt, lũ lụt, hạn hán, gây thiệt hại lớn về tính
mạng con người, của cải vật chất và đặc biệt đang thách thức ngành Nông nghiệp
trước sự phát triển bền vững. Hàng năm có từ 4 đến 5 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt
đới ảnh hưởng đến tỉnh ta, trong đó có 1-2 cơn đổ bộ trực tiếp, kèm theo đó là mưa
to gây ra lũ lụt, lốc xoáy.
Điển hình là cơn bão số 10 lịch sử vào ngày 30-9-2013, gió giật cấp 10, 11,
giật cấp 12, 13, đã tàn phá nặng nề địa bàn toàn tỉnh, tổng thiệt hại trị giá trên 8.000
tỷ đồng. Trong đó, đối với ngành Nông nghiệp, cơn bão số 10 đã làm cho khoảng
30 tàu đánh cá, thuyền nan của ngư dân bị chìm, hư hỏng; 1.500 ha cây keo, bạch
đang ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi, đầu vào trong sản
xuất và các thành phần khác trong hệ thống nghiệp [9].
Nông nghiệp Việt Nam là một trong 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng
của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng. Theo tính toán của các chuyên gia
nghiên cứu BĐKH, đến năm 2100, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên
300C và mực nước biển có thể dâng 1m. Theo đó, khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng
ven biển Việt Nam sẽ bị ngập. Theo dự đoán của Chương trình phát triển Liên Hiệp
Quốc (UNDP), các tác động trên sẽ gây thiệt hại rất lớn về kinh tế và khiến khoảng
17 triệu người không có nhà. Theo nghiên cứu của ngân hàng thế giới (WB), nước
ta với bờ biến dài và hai vùng đồng bằng lớn, khi mực nước biển dâng cao từ 0,2 0,6m sẽ có từ 100.000 đến 200.000ha đất bị ngập và làm thu hẹp diện tích đất sản
xuất nông nghiệp. Nước biển dâng lên 1m sẽ làm ngập khoảng 0,3 - 0,5 triệu ha tại
Đồng bắng sông Hồng và những năm lũ lớn khoảng 90% diện tích của Đồng bằng
sông Cửu Long bị ngập từ 4 - 5 tháng, vào mùa khô khoảng trên 70% diện tích bị
xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l. Ước tính Việt Nam sẽ mất đi khoảng 2
triệu ha đất trồng lúa trong tổng số 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến an
ninh lương thực Quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân. Biến đổi
khí hậu làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài sinh vật, dẫn đến tình trạng
biến mất của một số loài và ngược lại làm xuất hiện nguy cơ gia tăng các loài “thiên
địch”. Trong thời gian 2 năm trở lại đây, dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá ở
ĐBSCL diễn ra ngày càng phức tạp ảnh hưởng đến khả năng thâm canh tăng vụ và
làm giảm sản lượng lúa. ở miền Bắc trong vụ Đông Xuân vừa qua sâu quấn lá nhỏ
cũng đã phát sinh thành dịch, thời cao điểm diện tích lúa bị hại đã lên đến
400.000ha, gây thiệt hại đáng kể đến năng suất và làm tăng chi phí sản xuất. Biến
đổi khí hậu có thể tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc mùa, quy hoạch vùng,
kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái tài nguyên đất, đa
dạng sinh học bị đe dọa, suy giảm về số lượng và chất lượng do ngập nước và do
khô hạn, tăng thêm nguy cơ diệt củng của động vật, làm biến mất các nguồn gen
quý hiếm. Một số loài nuôi có thể bị tác động làm giảm sức đề kháng do biên độ
dao động của nhiệt độ, độ ẩm và các yếu tố ngoại cảnh khác tăng lên. Sự thay đổi
cứu cho thấy, khi nhiệt độ tăng thì thường ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất, chất
lượng cây trồng. Nhiệt độ tăng dẫn đến tăng nhanh quá trình thoát khí CO2 trong
quá trình hô hấp của cây và kết quả nó giảm điều kiện tối ưu cho tăng trưởng thực
vật của cây, khi nhiệt độ tăng quá cao, vượt quá ngưỡng giới hạn tối cao sinh vật
học, cây trồng thường có những phản ứng tiêu cực và từng bước giảm tăng trưởng
thực và năng suất của cây. Sự thay đổi vòng đời phát triển của cây trồng sẽ dài hơn
hoặc ngắn hơn dẫn đến sẽ làm tăng hoặc giảm năng suất cây trồng.
Một trong những hậu quả nghiêm trọng do biến đổi khí hậu là làm tăng mực
nước biển gây ra tình trạng xâm nhập mặn, làm nhiễm mặn ở các vùng đất lân cận
và mạch nước ngầm. Trên những vùng đất nhiễm mặn này, cây trồng thường sinh
10
trưởng kém, cho năng suất thấp. Thực tế này đòi hỏi muốn duy trì và phát triển ổn
định trên đất nhiễm mặn thì cần có những giống cây trồng có khả năng chịu mặn
tốt, đặc biệt cần duy trì và bảo tồn các giống có nguồn gốc bản địa thích nghi tốt
trong điều kiện đất đai bị nhiễm mặn [9].
Biến đổi khí hậu là một trong những nguyên nhân làm tăng dịch bệnh trên cây
trồng. Biến đổi khí hậu làm thay đổi điều kiện sống của các loại sinh vật, làm mất đi
hoặc làm thay đổi các mắt xích trong chuổi thức ăn và lưới thức ăn dẫn đến tình
trạng biến mất của một số loài sinh vật và ngược lại xuất hiện nguy cơ gia tăng các
loại thiên địch. Biến đổi khí hậu cũng có thể làm phát sinh một số chủng, nòi sâu
mới, gây hại không những trong sản xuất mà còn trong bảo quản chế biến nông sản,
thực phẩm [11].
Ngoài ra, biến đổi khí hậu còn tác động đến hình thức sử dụng đất dẫn đến
thay đổi trong phân bố cây trồng và sản xuất nông nghiệp. Phân bố cây trồng và sản
xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào sự phân bố địa lí của nhiệt độ và độ ẩm.
Hiện tượng ấm lên toàn cầu có thể tăng diện tích có lợi cho tăng trưởng cây trồng và
sản xuất nông nghiệp cũng như kéo dài mùa vụ cây trồng ở một số nước.[9]
xảy ra của khí hậu. Sự thích nghi có thể là tự phát hay được lập kế hoạch và có thể
được thực hiện thích ứng với những biến đổi trong nhiều điều kiện khác nhau [6]
(IPCC, 1996).
1.1.4.2. Thích nghi với sản xuất nông nghiệp
Thích nghi trong sản xuất nông nghiệp có rất nhiều hình thức:
Thứ nhất, chọn giống cây trồng và vật nuôi
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp chủ yếu là cây trồng và vật nuôi. Để phát
triển sản xuất nông nghiệp thì việc chọn giống cây trồng và vật nuôi là rất quan
trọng. Nó tác động đến việc quyết định năng suất, chất lượng cũng như khả năng
chống chịu với thay đổi của các tác nhân tác động thông qua gen di truyền. Vì vậy,
trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thích nghi trên phương diện giống cây trồng và vật
nuôi là thích nghi đầu tiên để đảm bảo sản xuất nông nghiệp tiếp tục.
Trong điều kiện nhiệt độ không khí có xu hướng ngày càng tăng, sự gia tăng
của các hiện tượng bất thường về các hiện tượng cực đoan, gia tăng mực nước biển,
thay đổi môi trường dẩn đến xuất hiện nhiều dịch bệnh đã gây ra những khó khăn
đối với sản xuất lương thực và đảm bảo an ninh lương thực. Việc sử dụng nhiều
giống chịu hạn, chịu nhiệt trong vùng bị khó khăn trong nguồn nước, sử dụng nhiều
giống kháng với sâu hại và dịch bệnh, sử dụng giống chịu mặn năng suất cao và
chín sớm ở các vùng lạnh. Trong lĩnh vực chăn nuôi và thủy hải sản cũng vậy, cũng
cần chọn giống thích nghi thời tiết khí hậu và cho năng suất cao.
Do đó, để thích nghi với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp chúng ta
cần chọn những giống thích nghi tốt trước tác động của biến đổi khí hậu. Đặc biệt là
những giống bản địa đã trải qua một thời gian dài chuyển đổi để thích nghi trong
những điều kiện sản xuất khó khăn. Mặt khác trong quá trình nghiên cứu thích nghi
với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực chọn giống cây trồng và vật nuôi cần phải
nghiên cứu từng loại giống trong mỗi vùng và điều kiện cụ thể.
12
đổi khí hậu có thể dẫn đến phát triển hiệu quả sự tham gia của cộng đồng và đạt
được tính bền vững [7].
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Nước ta với hơn 70% dân số sống chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp, nền
nông nghiệp đóng vai trò hàng đầu đối với kinh tế và sự phát triển của nước ta. Qua
nhiều năm sản xuất lúa, người dân đã có những kỹ năng sản xuất lúa tốt cùng với đó
13
là sự phát triển của khoa học nông nghiệp các tiến bộ kỹ thuật được ứng dụng đã
đẩy mạnh việc thâm canh lúa tốt, nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng lúa
nước.
Thực tiễn thế giới đã chứng minh việc phát triển kinh tế nhanh chóng thì phải
có đủ lương thực đảm bảo cho cuộc sống của người dân, nhất là ở Việt Nam thì điều
này còn quan trọng hơn vì nó còn có ý nghĩa phát triển kinh tế hộ gia đình, tạo thu
nhập cho người dân, nâng cao mức sống cho toàn xã hội. Do đó, cần phải đẩy mạnh
nâng cao khả năng tiếp nhận các tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, tạo kênh thông
tin tin cậy giúp người dân có thể nhạy bén tiếp cận thị trường đảm bảo mức cung
cầu phù hợp có lợi cho sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên trong những năm gần đây thế giới có xu hướng biến động mạnh về
biến đổi thời tiết, khí hậu ảnh hưởng đến môi trường phát triển của cây trồng nông
nghiệp. Ở Việt Nam cũng đã chịu những ảnh hưởng tác động của yếu tố khi hậu
thời tiết cực đoan gây ra như ở đồng bằng Sông Cửu Long.
Một số tác động của biến đổi khí hậu có thể gây ra đối với sự phát triển sản
xuất của vùng đồng bằng sông Cửu Long:
- Thay đổi thời tiết: lượng mưa sẽ tăng vào mùa mưa và giảm vào mùa khô,
cùng với đó là các trận bão nhiệt đới mạnh hơn. Quỹ đạo bão ngày càng di chuyển
dần vào phía Nam.
- Biến đổi, biến động ranh giới các vùng nước mặn, nước ngọt, nước lợ làm
- Vùng núi cao (gồm các xã Kim Thủy, Ngân Thủy, Lâm Thủy): Tổng diện
tích toàn vùng trên 74.000 ha, chiếm trên 50% diện tích tự nhiên toàn huyện. Độ
cao trung bình toàn vùng từ 600 m - 800 m, độ dốc từ 200 – 250. Vùng có tiềm năng
lớn về rừng tự nhiên với các loài gỗ quý và sự đa dạng sinh học; có nhiều thung
15