Nhóm SV:
1. Phạm Hồng Ánh
2. Bùi Thái Hoàng
3. Trần Thị Thanh Lam
4. Nguyễn Phương Mai
5. Ngô Thị Phong
6. Đào Thị Quỳnh
7. Nguyễn Thị Toản
8. Hoàng Minh Trí
L
ớ
p Kinh t
ế
và Qu
ả
n lý Đô th
ị
K53
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG
một trong những thành phố chịu ảnh hưởng rõ nét nhất của biến đổi khí hậu ở
nước ta, đặc biệt là tác động tồi tệ của nước biển dâng. Biến đổi khí hậu đã và
đang ảnh hưởng phần nào đến phát triển đô thị và đô thị hóa của thành phố.
Để làm rõ tác động của biến đổi khí hậu đến quá trình đô thị hóa diễn
ra ở thành phố Hải Phòng , từ đó đề xuất những kiến nghị và giải pháp phát
triển đô thị hóa thích ứng biến đổi khí hậu, nhóm chúng tôi quyết định chọn
đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đô thị hóa ở
thành phố Hải Phòng. Thực trạng và giải pháp”.
2 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HÓA, BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU
4
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CHUNG 4
1.1.1. Đô thị hóa là gì? 4
Khái niệm về đô thị 4
Khái niệm về đô thị hóa 4
1.1.2. Biến đổi khí hậu là gì? 5
1.2. MỐI QUAN HỆ CỦA ĐÔ THỊ HÓA VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 5
CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA Ở HẢI PHÒNG VÀ
Biện pháp thích ứng của thành phố Hải Phòng trước tác động biến đổi
khí hậu 24
Các biện pháp của Hải Phòng nhằm giảm tác động đến BĐKH 26
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
4 CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HÓA, BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CHUNG
1.1.1. Đô thị hóa là gì?
Khái niệm về đô thị
Theo thông tư số 34/2009/TT-BXD quy định chi tiết một số nọi dung
của Nghị định 42/2009/NĐ-CP của chính phủ về phân loại đô thị đã định
nghĩa : «Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống với mật độ cao và chủ
yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị,
hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phat
triển KT-Xh của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ , một địa phương bao gồm
nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn ».
Khái niệm về đô thị hóa
Hiểu theo nghĩa rộng: “Đô thị hóa là một quá trình diễn thế về kinh tế -
xã hội – văn hóa – không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật,
trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự dịch chuyển cơ cấu lao
động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng
phát triển không gian thành hệ thống đô thị, song song với tổ chức bộ máy
hành chính, quân sự”
Hiểu theo nghĩa hẹp, đô thị hóa là “quá trình biến nông thôn thành đô
thị, sự phát triển thành phố và việc nâng cao vai trò của nó trong đời sống
Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu gồm:
- Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung.
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường
sống của con người và các sinh vật trên trái đất.
- Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các
vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng
khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh
vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu
trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và
thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.
1.2. MỐI QUAN HỆ CỦA ĐÔ THỊ HÓA VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Đô thị hóa dẫn đến sự tập trung cao độ của dân cư và các cụm công
nghiệp tại một vùng, gây ra nhiều thay đổi có liên quan trực tiếp đến khí hậu
và môi trường. Một số thay đổi đó như: thay đổi mô hình sử dụng đất, tăng
trưởng mật độ dân số, tăng sử dụng phương tiện giao thông và năng lượng
hoạt động chuyên sâu, tăng trưởng công nghiệp, tăng cường tiêu dùng và thải
loại chất thải.
6
được sử dụng càng nhiều đồng nghĩa với việc lượng chất thải xả ra ngoài môi
trường càng lớn, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, môi trường không khí.
- Một thực tế cho thấy, quá trình đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình
công nghiệp hóa. Công nghiệp hóa càng nhanh thì đô thị hóa càng nhanh dẫn
đến việc hình thành nhiều khu công nghiệp ở các đô thị. Các ngành công
nghiệp nằm gần các thành phố là nguồn gốc chính của không khí, nước và ô
nhiễm đất đai. Hầu hết các năng lượng cần thiết để hỗ trợ các ngành công
nghiệp và cuộc sống đô thị được sản xuất bằng cách sử dụng nhiên liệu hóa
thạch như than, xăng, diesel hoặc khí tự nhiên… nên chất thải chính của công
nghiệp là CO2. Sản xuất công nghiệp ngày càng mạnh thì môi trường đô thị
càng bị ô nhiễm, cho dù kỹ thuật phát triển cao giúp cắt giảm lượng chất thải
ĐÔ THỊ
HÓA
Mật độ dân số tăng
Phương tiện
giaothông tăng
Mức độ sử dụng
năng lượng tăng
Tăng các khu công
nghi
ệ
p
- Tăng
chất thải
- Phá
rừng
-Giảm đa
dạng
Tóm lại, đô thị hóa có tác động xấu đến môi trường,có thể dẫn đến biến
đổi khí hậu, bao gồm cả tăng tần suất và cường độ bão, lũ lụt và hạn hán.
Mặt khác, biến đổi khí hậu cũng có những ảnh hưởng nhất định đến
quá trình đô thị hóa như: biến đổi khí hậu làm nước biển dâng, lũ lụt, hán hán
xảy ra thường xuyên hơn ảnh hưởng đời sống sản xuất, sinh hoạt và sức khỏe
của người dân, các hiện tượng của biến đổi khí hậu làm phá hủy các công
trình hạ tầng kỹ thuật của đô thị, làm ảnh hưởng môi trường sống của các
sinh vật trong hệ sinh thái đô thị, mực nước biển tăng làm triều cường ngập
úng xảy ra nhiều hơn trong các đô thị ven biển.
BIẾN
ĐỔI
KHÍ
HẬU
Sự nóng lên của
Trái Đất
Nước biển dâng
Thay đổi thành
phần, chất lượng
khí quyển, thủy
quyển, sinh
Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân
+ 6 huyện ngoại thành: An Dương, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng,
Vĩnh Bảo, Thủy Nguyên
+ 2 huyện đảo: Bạch Long Vĩ, Cát Hải
Địa hình
Đồi núi, đồng bằng:Địa hình phía bắc của Hải Phòng là vùng trung du,
có đồi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía nam ra biển. Khu đồi
núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ
bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm
các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành
từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc Đông Nam từ đất liền ra biển gồm hai
dãy chính.
Sông:Sông ngòi ở Hải Phòng khá nhiều, mật độ trung bình từ 0,6 -
0,8 km/1 km². Độ dốc khá nhỏ, chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc Đông Nam.
Đây là nơi tất cả hạ lưu của sông Thái Bình đổ ra biển, tạo ra một vùng hạ
lưu màu mỡ, dồi dào nước ngọt phục vụ đời sống con người nơi đây.
9 Bờ biển và biển:Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km, thấp và khá bằng
phẳng, nước biển Đồ Sơn hơi đục nhưng sau khi cải tạo nước biển đã có phần
sạch hơn, cát mịn vàng, phong cảnh đẹp. Ngoài ra, Hải Phòng còn có đảo Cát
Bà là khu dự trữ sinh quyển thế giới có những bãi tắm đẹp, cát trắng, nước
trong xanh cùng các vịnh Lan Hạ đẹp và kì thú. Cát Bà cũng là đảo lớn
nhất thuộc khu vực Vịnh Hạ Long.
Tài nguyên
Tài nguyên đất đai:Hải Phòng có diện tích đất là 1507,57 km²,trong đó
diện tích đất liền là 1208,49 km². Tổng diện tích đất sử dụng là 152,2 nghìn
ha trong đó đất ở chiếm 8,61%; đất dùng cho nông nghiệp chiếm 33,64%; đất
2.1.2.1. Giai đoạn trước đổi mới
10 Với lợi thế là đại bàn “ Cửa ngõ”, ven biển, các đô thị phía Bắc được
hình thành và phát triển trong điều kiện mới của tiến trình lịch sử.
Từ cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược.
Người Pháp trước hết đã đến các địa bàn cửa ngõ ven biển và quyết định
chọn cửa ngõ Hải Phòng để xây dựng và phát triển kinh tế, đồng thời từng
bước kiến tạo nó trở thành một đô thị mới theo phong cách phương tây. Theo
các nhà sử học: “Trong thời gian sau 15 năm từ sau Hòa ước 1874, đến khi
Hải Phòng trở thành một thành phố nhượng địa của Pháp (1888), đã diễn ra
một quá trình đô thị hóa cơ bản và nhanh chóng. Quá trình đô thị hóa đã diễn
ra song song ở khu vực kề sát nhau. Sau này hợp nhất thành hạt nhân của nội
thành Hải Phòng…”
Ở thời kì đó, mặc dù với mục đích thu lợi nhuận về cho chủ nghĩa thực
dân, nhưng phải thừa nhận rằng, với việc đô thị hóa Hải Phòng, người Pháp
đã thể hiện một tầm nhìn và tư duy đáng xem xét đối với chúng ta đó là phải
chọn vị trí “đắc địa” : Hải Phòng có thể liên lạc với toàn xứ Bắc Kỳ, các tỉnh
phía Bắc trung kì, nối liền với Hồng Kông, với Lào Cai, Huế, Hà Nội, kể cả
với đảo Hải Nam( Trung Quốc) …
Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, với chiến lược xây dựng và
phát triển kinh tế, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã xác định thành
phố cảng Hải Phòng là cửa ngõ quan trọng bậc nhất miền Bắc. Vì vậy, bên
cạnh việc thực hiện kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế, nhà nước ta đã
mời các chuyên gia về quy hoạch đô thị của Ba- Lan đến hợp tác cùng Việt
Nam để quy hoạch Hải Phòng. Tuy nhiên, trong giai đoạn 1955-1975 với vai
trò là thành phố cảng lớn nhất miền Bắc, tiếp nhận viện trợ quốc tế , trong
các cuộc leo thang phá hoại miền Bắc, máy bay của không quân Mỹ đã tập
trung bắn phá ác liệt thành phố, tiến hành phong tỏa Cảng. Vì vậy, nhiều nhà
thành bệnh viện đa khoa cấp vùng; Khu liên hợp thể thao trên đường 353 có
quy mô khu vực vùng duyên hải Bắc Bộ, xây dựng Trung tâm Hội nghị thành
phố. Bộ Xây dựng phối hợp thành phố triển khai một số dự án hạ tầng kỹ
thuật đô thị quan trọng như: Đầu tư phát triển hệ thống cấp nước, thoát nước,
xử lý rác thải và môi trường vay vốn Chính phủ Phần Lan, Nhật Bản, Ngân
hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
Nhờ vậy, đến nay, đô thị Hải Phòng đạt 36/49 tiêu chí đô thị loại 1,
trong đó nhiều tiêu chí vượt xa so với chỉ tiêu về nhà ở, đất dân dụng, cơ sở y
tế, trung tâm thương mại-dịch vụ.
Tốc độ đô thị hóa của Hải Phòng trong giai đoạn này được thể hiện qua
các thông số sau:
Về quy mô dân số
Trong những năm qua, dân số đô thị Hải Phòng đã có sự gia tăng rõ nét.
Không chỉ tăng về số lượng, tỉ lệ dân số thành thị ở Hải Phòng cũng liên tục
tăng qua các năm.
Dân số và tỉ lệ dân số ở thành thị và nông thôn Hải Phòng giai đoạn
2002-2012 2002
2004
2006
2008
2010
999,0
1008,5
1019,1
Tỉ lệ dân số thành
thị (%)
37,3
39,6
42,1
44,7
46,2
46,4
46,5
12 Tỉ lệ dân số nông
thông (%)
62,7
Ngành
2005 2006 2007 2008 2009 2010
Nông - lâm
nghiệp -
thủy sản
12,96
11,61
10,60
10,73
10,92
10,01
Công
nghiệp
36,24 35,41 37,90 37,50 37,27 36,97
Dịch vụ 50,79 52,98 51,50 51,77 51,81 53,02
(Nguồn:
Về kết cấu hạ tầng kĩ thuật:
Với vị trí là đầu mối giao thông quan trọng, là cửa ngõ ra biển của toàn
miền Bắc, Hải Phòng hội tụ đủ tất cả các loại hình giao thông như đường bộ,
đường sắt, đường thủy, đường không và hệ thống cảng biển.
Hệ thống cảng biển: được chú trọng đầu tư xây dựng từ rất sớm và
River đạt 5 sao, các khách sạn 4 sao khác là khách sạn quốc tế Sao Biển,
khách sạn Nam Cường (tên cũ là Tray Hotel), Harbour View, Camela, Cát Bà
Sunrise, Cát Bà Island Resort & Spa, Hữu Nghị, Princess Hotel, Hoàng Long
Classic, Sunflower International Village,
Một số resort cao cấp nổi tiếng ở Hải Phòng là: Đồ Sơn Resort, Hòn
Dấu Resort, Camela Hotel & Resort, Cát Bà Sunrise, Cát Bà Island Resort &
Spa, Sông Giá resort, Monkey Island Resort, Flamingo Cát Bà, Cát Bà Beach
Resort, Tại Hải Phòng đang có nhiều dự án xây dựng những khách sạn mới
tiêu chuẩn quốc tế. Trong đó có 2 khách sạn theo tiêu chuẩn 5 sao quốc tế
đang được xây dựng: một tại đảo nhân tạo Hoa Phượng,ĐồSơn và một ở vịnh
tránh bão thuộc đảo Cát Bà, nằm tại Cát Bà Island Resort & Spa. Ngành du
lịch Hải Phòng dự tính sẽ có thêm từ 5 tới 7 khách sạn chuẩn quốc tế tại nội
thành và trên các khu du lịch, nghỉ dưỡng Đồ Sơn, Cát Bà, và đảo nhân tạo
Hoa Phượng để nâng tầm du lịch của thành phố.
2.2. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN PHÁT TRIỂN ĐÔ
THỊ Ở HẢI PHÒNG
Trái đất nóng lên, nhiệt độ cuả trái đất đang tăng gần 10
0
C so với hơn
một thế kỷ trước, điều đó kéo theo hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng về
môi trường sinh thái như: băng tan ở hai đầu cực, các lỗ thủng xuất hiện ở
tầng ô Zôn, mực nước biển dâng cao, khô hạn, cháy rừng, mưa axít, lũ lụt, sạt
lở đất đá, diễn ra trên diện rộng với cường độ lớn và tần suất cao, ảnh hưởng
14 và đe doạ trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của cả cộng đồng. Trong đó
Việt Nam được đánh giá là 1 trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất do
Biến đổi khí hậu gây ra. Đặc biệt ảnh hưởng của biến đổi khí hậu có thấy
nhận thấy rõ nét nhất ở các thành phố ven biển, trong đó có Hải Phòng.
Quảng Ninh – Thanh Hóa 29/09/2009 PARMA Cấp 6 (39 - 49 km/h)
Quảng Ninh – Thanh Hóa 08/09/2009 MUJIGAE Cấp 8 (62 - 74 km/h)
Quảng Ninh – Thanh Hóa 10/07/2009 SOUPELOR Cấp 6 (39 - 49 km/h)
Quảng Ninh – Thanh Hóa 01/10/2008 Higos Cấp 8 (62 - 74 km/h)
15 Quảng Ninh – Thanh Hóa 21/09/2008 Hagupit Cấp 6 (39 - 49 km/h)
Quảng Ninh – Thanh Hóa 11/08/2008 ATNĐ Cấp 6 (39 - 49 km/h)
Quảng Ninh – Thanh Hóa 04/08/2008 Kammuri Cấp 8 (62 - 74 km/h)
Quảng Ninh – Thanh Hóa 23/09/2007 Francisco Cấp 9 (75 - 88 km/h)
Quảng Ninh – Thanh Hóa 02/07/2007 Toraji Cấp 8 (62 - 74 km/h)( Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia)
Ảnh hưởng của thành phố sau một số cơn bão lớn:
- Gần đây nhất có thể kể đến cơn bão Haiyan (bão số 14), hay còn
được gọi là siêu bão Hải Yến.
Bão có sức hủy diệt rất lớn. Trên toàn thành phố có hàng trăm điểm
ngập úng, nhiều khu vực còn ngập sâu từ 80cm đến 1m như đường Võ Thị
Sáu, Minh Khai, Hồ Xuân Hương, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Tri Phương,…
vào thời điểm gieo cấy lúa và cây rau màu; giữa vụ nắng nóng gay gắt, kéo
dài; vụ mùa, mưa lớn gây ngập lụt trên 3.000 ha lúa mới cấy; đặc biệt cuối vụ
cơn bão số 8 có cường độ mạnh nhất trong vòng 30 năm qua đổ bộ trực tiếp
vào Hải Phòng, gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp. Sâu bệnh
phát sinh, phát triển gây hại lúa trên diện rộng. Dịch bệnh trên đàn gia cầm
tái xuất hiện hai đợt. Giá cả vật tư phục vụ sản xuất tăng trong khi giá sản
phẩm nông nghiệp tăng không tương ứng…
- Năm 2013, chỉ sau cơn bão Bebinca, Toàn thành phố có hơn 2300 ha
thủy sản, hơn 40 ha hoa màu bị hư hỏng do vỡ bờ, ngập lụt.
- Siêu bão HaiYan cũng làm thiệt hại khoảng 3920 ha hoa màu tính
trên toàn thành phố.
Bên cạnh đó, trái đất nóng lên, nhiệt độ nước biển tăng gây bất lợi về
nơi cư trú cho thủy sản. Đồng thời, cường độ bão lớn cùng mưa bão tăng làm
giảm nồng độ muối, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của nhiều sinh vật.
Nhiều loài thủy sản không kịp thích ứng với môi trường dễ bị chết, sản lượng
thủy sản giảm.
17 2.2.2.2. Công nghiệp
Biến đổi khí hậu đã gây ra những tác động trực tiếp đến hoạt động
công nghiệp của thành phố.
- Tình trạng mưa lũ, ngập lụt trên diện rộng trong một khoảng thời
gian dài khi có bão khiến cho các nhà máy, xí nghiệp tạm ngừng hoạt động.
- Sự thiệt hại về sản lượng lương thực thực phẩm, thủy sản, dẫn đến
việc thiếu nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến. Điều này ảnh
hưởng trực tiếp đến việc chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp, cũng như sự
phát triển ở các đô thị.
- Nhiệt độ tăng làm tăng lượng điện tiêu thụ trong các khu công
nghiệp, tăng chi phí thông gió ở các nhà máy, đồng thời làm giảm hiệu suất
- Mưa bão lớn khiến gia tăng các tai nạn, hủy hoại các cơ sở y tế gây
khó khăn cho việc khám chữa bệnh.
CHƯƠNG 3 – KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐÔ
THỊ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
3.1. CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỂ THÍCH ỨNG
VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Biến đổi khí hậu luôn là một trong những thách thức lớn nhất đối với
nhân loại. Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống
và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng
gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây
rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai.
Vấn đề biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá
trình phát triển và an ninh toàn cầu như năng lượng, nước, lương thực, xã hội,
việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thương mại. Đặc biệt Việt Nam lại là
một trong những nước đứng đầu chịu ảnh hưởng của quá trình biến đổi khí
hậu. Trước tình hình đó nhà nước ta đã đưa ra những cơ chế chính sách để
ứng phó với biến đổi khí hậu song song với phát triển kinh tế và quá trình đô
thị hóa nhằm tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế và vị thế quốc gia
trên trường quốc tế. Điển hình nhất trong những năm gần đây là 2 quyết định
và nghị quyết: Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05 tháng 12 năm 2011 của
Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 06 năm
2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường.
3.1.1. Quyết định số 2139/QĐ-TT - Phê duyệt chiến lược quốc gia về biến
đổi khí hậu (tóm tắt)
Quan điểm chiến lược
- Việt Nam coi ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề có ý nghĩa
sống còn.
- Ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam phải gắn liền với phát
đồng, nâng cao đời sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh biến
đổi khí hậu.
- Nền kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh trở thành xu hướng chủ
đạo trong phát triển bền vững; giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tăng khả
năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc trong phát triển
kinh tế - xã hội.
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực ứng phó với biến đổi
khí hậu của các bên liên quan; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ,
chất lượng nguồn nhân lực; hoàn thiện thể chế, chính sách, phát triển và sử
dụng hiệu quả nguồn lực tài chính góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền
kinh tế và vị thế của Việt Nam; tận dụng các cơ hội từ biến đổi khí hậu để
phát triển kinh tế - xã hội; phát triển và nhân rộng lối sống, mẫu hình tiêu thụ
thân thiện với hệ thống khí hậu.
- Góp phần tích cực với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với biến
đổi khí hậu; tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế của Việt Nam để ứng
phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Nhiệm vụ chiến lược
1. Chủ động ứng phó với thiên tai và giám sát khí hậu
- Cảnh báo sớm.
- Giảm thiệt hại do rủi ro thiên tai.
2. Đảm bảo an ninh lương thực và tài nguyên nước
- An ninh lương thực.
- An ninh tài nguyên nước.
3. Ứng phó tích cực với nước biển dâng phù hợp với các vùng dễ bị tổn
thương
20 4. Bảo vệ, phát triển bền vững rừng, tăng cường hấp thụ khí nhà kính
và bảo tồn đa dạng sinh học
và bảo vệ môi trường trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh
đạo của Đảng và sự tham gia, giám sát của toàn xã hội.
- Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, là thách thức nghiêm trọng đối với
toàn nhân loại trong thế kỷ 21. Ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt
trong mối quan hệ toàn cầu; không chỉ là thách thức mà còn tạo cơ hội thúc
đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững. Phải
tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với biến đổi
khí hậu, chủ động phòng, tránh thiên tai là trọng tâm.
21 - Tài nguyên phải được đánh giá đầy đủ các giá trị, định giá, hạch toán
trong nền kinh tế, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ; khai thác, sử dụng tiết kiệm,
có hiệu quả và bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo
đảm an ninh tài nguyên.
- Môi trường là vấn đề toàn cầu. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa
là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Tăng cường bảo vệ môi
trường theo hướng hòa hợp với thiên nhiên đồng thời kết hợp khắc phục ô
nhiêm môi trường.
Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát
- Đến năm 2020, về cơ bản, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Đến năm 2050, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2020
- Về ứng phó với biến đổi khí hậu : nâng cao năng lực dự báo thiên tai,
chủ động phòng chống hạn chế các hạu quả của thiên tai. Giảm mức phát thải
khí nhà kính trên đơn vị GDP từ 8 - 10% so với năm 2010.
- Về quản lý tài nguyên : đánh giá đúng giá trị của các nguồn tài nguyên
đồng thời quy hoạch quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lý. Đảm
bảo phát triển bền vững. Chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng
- Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; bảo vệ, phát triển các hệ sinh thái tự
nhiên, tăng cường khả năng hấp thụ khí nhà kính.
Về quản lý tài nguyên :
- Đẩy mạnh điều tra, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, giá trị kinh tế, thực
trạng và xu hướng diễn biến của các nguồn tài nguyên quốc gia.
- Quy hoạch, quản lý và khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững
các nguồn tài nguyên quốc gia.
- Thúc đẩy phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, các
nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu mới thay thế các nguồn tài nguyên truyền
thống.
Về bảo vệ môi trường :
- Phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường.
- Khắc phục ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống
của người dân, hạn chế tác động do ô nhiễm môi trường đến sức khoẻ của
nhân dân.
- Bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Giải pháp chủ yếu
1. Tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận
thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết
kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.
2. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ
trong ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
3. Tăng cường quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản
lý tài nguyên, bảo vệ môi trường
4. Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính, tăng cường và đa
dạng hoá nguồn lực cho ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và
bảo vệ môi trường
5. Coi trọng hợp tác, hội nhập quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu,
quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Tổ chức thực hiện
phải đối diện với những thách thức mới do tác động của biến đổi khí hậu
(BĐKH) và nước biển dâng. Đây là những hạn chế, thách thức lớn, đòi hỏi
được cần được giải quyết một cách đồng bộ để đô thị Việt Nam phát triển
bền vững. Vì vậy biện pháp được đưa ra:
3.2.1. Kiến nghị đề xuất chung
-Để giảm thiểu những nguy cơ do biến đổi khí hậu gây ra Hải Phòng
cần có những biện pháp tích cực để chủ động phòng tránh thiên tai, phát triển
kinh tế biển bền vững.
-Hải Phòng cần đưa ra một dự báo chính xác về nhiệt đô, lượng mưa,
số ngày nắng nóng, mực nước biển dâng…trong những năm tới để có cơ sở
ngiên cứu đánh giá những tác động của BĐKH đến địa phương mình từ đó
đưa ra những kế hoạch khai thác hợp lý và bền vững các điều kiện môi
trường và tài nguyên thiên nhiên hiện có, góp phần hạn chế những ảnh hưởng
của biến đổi khí hậu trên địa bàn thành phố nói riêng và Việt Nam nói chung.
-Đánh giá và lập bản đồ phân vùng những vùng thường xuyên bị ngập
lụt, sạt lở đất đá, những vùng bị xâm nhập mặn…theo các mức độ khác nhau
của nước biển dâng để có căn cứ khoa học bảo vệ đất. Xây dựng hệ thống đê
biển, phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng ngập măn, trồng cây chắn
sóng…góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.
24 -Thành phố cần tập trung kiểm tra, rà soát lại việc giao đất trong phạm
vi bảo vệ đê điều, bãi bồi ven sông , ven biển. Thực hiện việc thu hồi hoặc
chuyển đổi hình thức sử dụng đất phù hợp với điều kiện sinh thái của từng
khu vực.
-Các ngành, địa phương phải chú ý phát triển kinh tế hài hòa với môi
trường. Công tác bảo vệ môi trường phải được tính toán trên cơ sở những
thay đổi môi trường khí hậu và tác động của thiên nhiên.
-Hạn chế việc phá rừng, đốt phế phấm, xử lý rác thải chú trọng vệ sinh
Kiểm tra tu bổ lại các hệ thống kênh mương tiến hành lạo vét khơi
thông dòng chảy kênh mương thường xuyên đặc biệt trước mùa lũ